Mr Kiênhx
GÓP PHẦN PHÊ PHÁN TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN CỦA HEGEL
- LỜI NÓI ĐẦU
KARL MARX
Đối với nước Đức thì việc phê phán tôn giáo, về thực chất, đã kết thúc và việc phê phán
tôn giáo là tiền đề của mọi sự phê phán khác.
Tồn tại dưới cõi trần của lầm lạc đã bị mất uy tín, một khi sự oratio pro aris et
focis1*trên thượng giới của nó bị bác bỏ. Người nào đã đi tìm một tồn tại siêu nhân nào
đó trong tính hiện thực ảo tưởng trên thượng giới mà chỉ tìm thấy có sự phản ánh của bản
thân mình, thì người đó không còn mong muốn chỉ tìm thấy cái bề ngoài của bản thân
mình, cái không-phải-là-con-người, - ở nơi mà người đó đang tìm và phải tìm tính hiện
thực chân chính của mình.
Căn cứ của sự phê phán chống tôn giáo là: con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo
không sáng tạo ra con người. Cụ thể là: tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con
người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa.
Nhưng con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới.
Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội. Nhà nước ấy, xã hội ấy sản
sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược, vì bản thân chúng là thế giới lộn ngược.
Tôn giáo là lý luận chung của thế giới ấy, là cương yếu bách khoa của nó, là lô-gích dưới
hình thức phổ cập của nó, là point d'honneur2*duy linh luận của nó, là nhiệt tình của nó,
là sự chuẩn y về mặt đạo đức của nó, là sự bổ sung trang nghiêm của nó, là căn cứ phổ
biến mà nó dựa vào để an ủi và biện hộ. Tôn giáo biến bản chất con người thành tính
hiện thực ảo tưởng, vì bản chất con người không có tính hiện thực thật sự. Do đó, đấu
tranh chống tôn giáo là gián tiếp đấu tranh chống cái thế giới mà lạc thú tinh thần của nó
là tôn giáo.
Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản
kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp
bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những
trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.
phấn. Khi tôi bác bỏ những trật tự của nước Đức năm 1843, thì theo niên biểu Pháp, chắc
gì tôi đã ở vào năm 1789 và càng không thể ở vào tiêu điểm của thời đại hiện nay.
Thật vậy, lịch sử nước Đức lấy làm tự hào về một vận động mà trước nó không một dân
tộc nào đã tiến hành trên chân trời lịch sử, và trong tương lai, cũng không một dân tộc
nào bắt chước theo. Vì chúng ta đã chia xẻ những cuộc phục tích cùng với các dân tộc
hiện đại, chứ không chia xẻ những cuộc cách mạng cùng với họ. Chúng ta đã trải qua
những cuộc phục tích, một là vì các dân tộc khác đã dám làm cách mạng, hai là vì các
dân tộc khác đã đau khổ vì phản cách mạng; trong trường hợp thứ nhất, vì những kẻ
thống trị chúng ta cảm thấy sợ hãi, còn trong trường hợp thứ hai thì vì những kẻ thống trị
chúng ta không cảm thấy sợ hãi. Chúng ta, do các vị mục sư của chúng ta dẫn đầu,
thường thường được chung đụng với tự do chỉ có một lần - vào ngày đưa ma của tự do.
Có một học phái lấy sự đê hèn ngày hôm qua để bào chữa cho sự đê hèn ngày hôm nay,
tuyên bố mọi tiếng kêu của nông nô chống lại roi vọt là làm loạn, chỉ cần cái roi ấy là cái
roi cổ xưa, do cha ông để lại, có tính chất lịch sử; một học phái mà lịch sử chỉ ra cho
riêng một mình nó, cũng như thượng đế của I-xra-en [Israel] đã chỉ ra cho người tôi tớ
của mình là Mô-i-dơ [Moses]4*, cái a posteriori5*của mình, - cái học phái lịch sử về
pháp quyền đó, vì vậy, sẽ phát minh ra lịch sử nước Đức nếu bản thân nó không phải là
một phát minh của lịch sử nước Đức. Là một Sai-lốc [Shylock]athật sự, - nhưng là một
Sai-lốc tôi tớ, - với mỗi pao thịt có thể xẻo từ trái tim của nhân dân, nó lại lấy cái kỳ
phiếu của mình, cái kỳ phiếu lịch sử của mình, cái kỳ phiếu Giéc-manh Cơ Đốc giáo của
mình, để thề thốt.
Ngược lại, có những người nhiệt tình tốt bụng - tức là những người theo chủ nghĩa Tơ-
tông do dòng máu và tự do tư tưởng theo phản xạ - lại đi tìm lịch sử nền tự do của chúng
ta trong những khu rừng nguyên thủy Tơ-tông [Teuton]b. Nhưng nếu như chỉ có thể đi
tìm lịch sử nền tự do của chúng ta trong rừng, thế thì lịch sử nền tự do chúng ta có khác
gì lịch sử nền tự do của con lợn rừng? Thêm nữa, ai cũng biết rằng trong rừng, kêu lên
như thế nào thì dội lại như thế ấy. Vậy đừng động đến những khu rừng nguyên thủy Tơ-
tông!
Phải đánh vào những trật tự của nước Đức! Nhất định phải đánh! Những trật tự ấy thấp
hơn tầm lịch sử, thấp hơn mọi sự phê phán, nhưng vẫn là đối tượng của sự phê phán,
phục. Cần phải làm cho ách áp bức hiện thực càng nặng nề hơn nữa, bằng cách gắn vào
nó cái ý thức về sự áp bức; cần phải làm cho sự nhục nhã càng nhục nhã hơn nữa bằng
cách công bố sự nhục nhã ấy. Cần phải mô tả mỗi lĩnh vực của xã hội nước Đức là một
partie honteuse6*của xã hội Đức, cần phải bắt những trật tự đã cứng đờ phải nhảy múa
lên bằng cách hát cho chúng nghe những âm điệu của chính bản thân chúng! Cần phải bắt
nhân dân khiếp sợ bản thân mình để tiêm dũng khí vào cho họ. Như vậy, cái nhu cầu
không thể cưỡng lại được của nhân dân Đức sẽ được thực hiện, mà bản thân những nhu
cầu của cái dân tộc thì lại là nguyên nhân quyết định việc thỏa mãn những nhu cầu đó.
Ngay cả đối với những dân tộc hiện đại, cuộc đấu tranh ấy chống cái nội dung hạn chế
của status quo nước Đức cũng không thể không đáng quan tâm, vì status quo của nước
Đức là sự hoàn thành công khai của ancien régime7*, còn ancien régime lại là cái tật xấu
ẩn giấu của nhà nước hiện đại. Cuộc đấu tranh chống hiện thực chính trị Đức là cuộc đấu
tranh chống quá khứ của những dân tộc hiện đại, và tiếng vọng của quá khứ ấy vẫn tiếp
tục đè nặng lên những dân tộc này. Nhìn xem cái ancien régime, đã trải qua tấn bi kịch
của nó ở những dân tộc ấy, hiện đang diễn tấn hài kịch của nó như thế nào với tư cách là
cái bóng ma Đức, là một việc bổ ích đối với họ. Lịch sử của trật tự cũ là bi kịch, chừng
nào trật tự ấy là cái quyền lực đã tồn tại từ thời xa xưa của thế giới, còn tự do thì trái lại
là một ý niệm sản sinh ra ở một số người, - nói một cách khác, chừng nào bản thân trật tự
cũ còn tin và phải tin vào tính chất chính đáng của mình. Chừng nào ancien régime, với
tính cách là trật tự thế giới đang tồn tại, đấu tranh chống cái thế giới vừa mới sinh ra, thì
sự lầm lạc ở phía cái ancien régime ấy không phải là sự lầm lạc của cá nhân mà là sự lầm
lạc có tính chất lịch sử toàn thế giới. Vì vậy, sự sụp đổ của nó là có tính bi kịch.
3
Mr Kiênhx
Trái lại, chế độ nước Đức ngày nay, - một sự lầm thời, một sự mâu thuẫn nổi bật với
những định lý được mọi người công nhận, một sự vô nghĩa lý của ancien régime được
đem phơi bày ra trước toàn thế giới, - chỉ tưởng tượng là nó tự tin mình và đòi hỏi thế
giới cũng phải tưởng tượng như thế. Nếu như nó thật sự tin vào bản chất của chính nó thì
lẽ nào nó còn che giấu bản chất đó dưới cái bề ngoài của một bản chất khác và tìm lối
phải phát triển đặc quyền đến giới hạn cùng cực. Ở Pháp và ở Anh đang giải quyết vấn
đề, còn ở Đức thì mới chỉ là xung đột. Đó là một thí dụ khá rõ ràng về hình thức Đức của
những vấn đề hiện đại, một thí dụ chứng tỏ rằng lịch sử của chúng ta, tựa như một anh
lính mới vụng về đang lặp lại những bài tập cũ, cho đến nay vẫn coi nhiệm vụ của mình
chỉ là lặp lại những chuyện đã nhàm.
Do đó, nếu như sự phát triển chung của nước Đức không vượt ra khỏi phạm vi phát triển
chính trị của nước Đức, thì người Đức sẽ có thể tham dự những vấn đề của thời đại nhiều
lắm cũng chỉ như người Nga mà thôi. Nhưng nếu một cá nhân không bị ràng buộc bởi
những ranh giới quốc gia thì không phải vì một cá nhân được tự do mà toàn thể quốc gia
cũng được tự do. Trong số những nhà triết học Hy-lạp, đã có một người Xi-tơ [Scyth][2],
4
Mr Kiênhx
nhưng điều đó tuyệt nhiên đã không làm cho người Xi-tơ tiến đến nền văn hóa Hy-lạp
được một bước nào.
May thay, chúng ta, những người Đức, chúng ta không phải là người Xi-tơ.
Giống như các dân tộc cổ đại đã trải qua thời kỳ tiền sử của mình trong tưởng tượng,
trong thần thoại, những người Đức chúng ta cũng vậy, chúng ta cũng đang trải qua lịch
sử tương lai của chúng ta trong tư tưởng, trong triết học. Chúng ta là những người cùng
thời về mặt triết học của thế kỷ hiện nay, chứ không phải là những người cùng thời về
mặt lịch sử của thế kỷ hiện nay. Triết học Đức là sự tiếp tục của lịch sử Đức trong ý
niệm. Do đó, khi chúng ta không phê phán những oeuvres incomplétes9*của lịch sử hiện
thực của chúng ta, mà phê phán những oeuvres posthumes10*của lịch sử trong ý niệm
của chúng ta, tức triết học, thì sự phê phán của chúng ta nằm ở ngay trung tâm của những
vấn đề mà thế kỷ hiện nay nói: that is the question!11*Cái mà ở những dân tộc tiền tiến
đã là sự đoạn tuyệt thực tiễn với những trật tự nhà nước hiện nay, thì ở nước Đức, nơi mà
những trật tự ấy thậm chí vẫn còn chưa có, ngay từ đầu lại là sự đoạn tuyệt có tính chất
phê phán với phản ánh triết học của những trật tự ấy.
Triết học Đức về pháp quyền và về nhà nướclà cái lịch sử Đức duy nhất đang đứng al
pari12*với hiện thực hiện đại chính thống. Vì vậy nhân dân Đức phải gắn cái lịch sử
tưởng tượng ấy của họ vào những trật tự hiện hành của họ, phải phê phán không chỉ
qua việc phủ định triết học hiện tồn, cái triết học với tính cách là triết học, mà thôi.
Chúng tôi sẽ còn trở lại mô tả đảng này một cách cặn kẽ hơn. Sai lầm căn bản của nó có
thể quy lại như sau: nó tưởng rằng có thể biến triết học thành hiện thực mà không cần
phải xóa bỏ bản thân triết học.
Việc phê phán triết học Đức về nhà nước và pháp quyền, cái triết học đã được trình bày
một cách nhất quán, phong phú nhất và hoàn chỉnh nhất trong các tác phẩm của Hê-ghen,
vừa là một sự phân tích phê phán đối với nhà nước hiện đại và đối với hiện thực gắn liền
với nhà nước ấy, vừa là một sự phủ định kiên quyết nhất đối với toàn bộ hình thức đã tồn
tại từ trước đến nay của ý thức chính trị và ý thức pháp quyền của Đức, ý thức mà biểu
hiện chủ yếu nhất, phổ biến nhất, được đề lên thành khoa học, của nó chính là bản thân
triết học tư biện về pháp quyền. Nếu như chỉ ở nước Đức, mới có thể có triết học tư biện
về pháp quyền, tức là một sự tư duy trừu tượng, tách rời cuộc sống, về nhà nước hiện đại,
- nhà nước mà hiện thực của nó vẫn là thế giới bên kia, tuy cái thế giới bên kia ấy chỉ
nằm ở phía bên kia sông Ranh [Rhine], - thì ngược lại cũng thế, cái hình tượng trong ý
niệm của người Đức về nhà nước hiện đại được trừu tượng ra từ con người hiện thực,
cũng chỉ có thể có được chừng nào bản thân nhà nước hiện thực được trừu tượng ra từ
con người hiện thực hoặc chỉ thỏa mãn toàn bộ con người trong tưởng tượng mà thôi.
Trong chính trị, người Đức suy nghĩ điều mà các dân tộc khác đã làm. Nước Đức là
lương tâm lý luận của những dân tộc đó. Tính trừu tượng và tính tự cao tự đại của tư duy
của nó bao giờ cũng đi song song với tính phiến diện và tính tự hạ mình của hiện thực
của nó. Do đó, nếu status quo của chế độ nhà nước Đức biểu hiện sự hoàn thiện của
ancien régime, tức là của cái gai trong cơ thể của nhà nước hiện đại, thì status quo của
học thuyết Đức về nhà nước biểu hiện sự chưa hoàn thiện của nhà nước hiện đại, khuyết
điểm trong bản thân cơ thể nhà nước hiện đại.
Vốn là địch thủ kiên quyết của hình thức trước kia của ý thức chính trị Đức, sự phê phán
triết học tư biện về pháp quyền không tìm mục đích của nó trong bản thân nó mà lại đi
vào những nhiệm vụ mà muốn giải quyết thì chỉ có một phương tiện duy nhất: thực tiễn.
Thử hỏi: nước Đức có thể đạt tới một thực tiễn à la hauteur des principes 13*, tức là một
cuộc cách mạng có khả năng nâng nước Đức không những lên đến trình độ chính thức
của các dân tộc hiện đại, mà còn lên đến tầm cao của con người, tương lai gần nhất của
thầy tu bên trong bản thân mình, chống cái bản tính thầy tu của mình. Và nếu việc đạo
Tin lành biến người Đức trần tục thành thầy tu đã giải phóng những giáo hoàng trần tục,
tức là những vua chúa, cùng với tất cả những thủ hạ của họ, tức là những kẻ có đặc quyền
và những kẻ phi-li-xtanh [philistines], thì việc triết học biến người Đức đã thấm sâu tinh
thần thầy tu thành con người, sẽ là sự giải phóng của nhân dân. Nhưng giống như việc
giải phóng không phải chỉ dừng lại ở việc giải phóng những vua chúa, sự hoàn tục tài sản
cũng không dừng lại ở việc đoạt lấy tài sản của giáo hội, một việc nhà nước Phổ giả nhân
giả nghĩa đã thực hiện trước tất cả mọi người. Lúc bấy giờ, cuộc Chiến tranh nông
dân[5], một sự kiện triệt để nhất của lịch sử nước Đức, đã thất bại vì vấp phải thần học.
Ngày nay, khi thần học đã bị đập nát thì cái biểu hiện gay gắt nhất của tình trạng không
tự do trong lịch sử nước Đức - tức là cái status quo của chúng ta, - cũng bị tan vỡ vì vấp
phải triết học. Trước Cải cách tôn giáo, nước Đức quan phương là một tên nô lệ ngoan
ngoãn nhất của La-mã. Trước ngày nổ ra cuộc cách mạng của nó, nó là tên nô lệ ngoan
ngoãn của một kẻ nhỏ hơn La-mã, nô lệ của Phổ và của Áo, của bọn địa chủ quý tộc và
bọn phi-li-xtanh đã chai sạn rồi.
Thế nhưng, dường như một khó khăn to lớn đang gây trở ngại cho cuộc cách mạng triệt
để của nước Đức.
Vấn đề là các cuộc cách mạng đều cần đến nhân tố thụ động, đến cơ sở vật chất. Ở mỗi
dân tộc, lý luận bao giờ cũng chỉ được thực hiện theo mức độ mà nó là sự thực hiện
những nhu cầu của dân tộc ấy. Nhưng sự phân kỳ quái dị giữa những nhu cầu của tư
tưởng Đức với những đáp ứng của hiện thực Đức đối với những nhu cầu đó, liệu có nhất
trí với sự phân kỳ như vậy giữa xã hội công dân với nhà nước và với bản thân xã hội
công dân hay không? Những nhu cầu lý luận liệu có trực tiếp trở thành những nhu cầu
thực tiễn hay không? Tư tưởng cố sức biến thành hiện thực vẫn chưa đủ; bản thân hiện
thực cũng phải cố sức hướng tới tư tưởng.
Nhưng nước Đức đã bước lên những nấc trung gian của sự giải phóng chính trị không
cùng một lúc với các dân tộc hiện đại. Ngay cả những nấc mà nó đã vượt qua được về
mặt lý luận, thì nó cũng chưa đạt tới về mặt thực tiễn. Vậy làm sao nó có thể chỉ bằng
một cái nhảy lộn mà không những vượt qua được những chướng ngại của chính nó, đồng
thời còn vượt qua cả những chướng ngại đang ở trước mặt các dân tộc hiện đại, qua
quy mô cho tới nay chưa từng thấy, là cái thói tham ăn thẩm mỹ-chính trị của một ông
vua Đức nào đó15*, một ông vua muốn đóng tất cả những vai trò của, vương quyền, cả
phong kiến lẫn quan liêu, cả chuyên chế lẫn lập hiến, cả độc tài lẫn dân chủ, nếu không
phải thông qua nhân dân thì thông qua bản thân mình, nếu không phải vì nhân dân thì vì
bản thân mình. Nước Đức, sự nghèo nàn đó của nền chính trị hiện đại, được dựng lên
thành một thế giới riêng, không thể đập tan được những chướng ngại đặc thù Đức, nếu
không đập tan những chướng ngại chung của nền chính trị hiện đại.
Đối với nước Đức thì điều mơ ước không tưởng không phải là cuộc cách mạng triệt để,
không phải là sự giải phóng toàn nhân loại, mà nói cho đúng ra là cuộc cách mạng bộ
phận, cách mạng chỉ riêng về mặt chính trị, một cuộc cách mạng không mảy may đụng
chạm đến bản thân những cột trụ của tòa nhà. Vậy cuộc cách mạng bộ phận, chỉ riêng về
mặt chính trị ấy dựa trên cái gì? Dựa trên tình hình là một bộ phận của xã hội công dân tự
giải phóng mình và đạt tới sự thống trị phổ biến, trên tình hình là một giai cấp nhất định,
xuất phát từ địa vị riêng của mình, tiến hành giải phóng toàn thể xã hội. Giai cấp đó giải
phóng toàn thể xã hội, nhưng chỉ trong trường hợp giả định rằng toàn thể xã hội cũng ở
trong địa vị của giai cấp đó, nghĩa là phải có tiền và học thức chẳng hạn, hoặc có thể
kiếm được tiền và học thức theo ý muốn.
Không một giai cấp nào của xã hội công dân có thể đóng được vai trò đó mà lại không
khơi lên trong khoảnh khắc cái nhiệt tình trong bản thân nó và trong quần chúng. Đó là
lúc mà giai cấp ấy kết nghĩa anh em với toàn thể xã hội và hòa với toàn thể xã hội thành
8
Mr Kiênhx
một khối, lúc mà người ta lẫn lộn giai cấp ấy với xã hội, lúc đó được coi là được thừa
nhận là đại biểu chung của xã hội; đó là lúc mà những yêu cầu và quyền lợi của chính
giai cấp ấy trên thực tế là quyền lợi và yêu cầu của bản thân xã hội, lúc mà giai cấp ấy
thực sự là khối óc của xã hội và trái tim của xã hội. Chỉ nhân danh quyền lợi chung của
xã hội thì một giai cấp cá biệt mới có thể đòi hỏi sự thống trị phổ biến được. Muốn giành
được địa vị ấy của người giải phóng, và do đó, muốn sử dụng về mặt chính trị tất cả mọi
lĩnh vực xã hội để phục vụ cho lợi ích của lĩnh vực riêng của mình, mà chỉ có tinh lực
cách mạng và ý thức về tính ưu việt tinh thần của mình thôi, thì chưa đủ. Muốn cho cuộc
đều dựng lên những chướng ngại trước mặt mình, cũng đều biểu lộ bản chất nhẫn tâm của
mình trước khi kịp biểu lộ cái bản chất độ lượng của mình, - thành thử ngay cả cái khả
năng đóng một vai trò to lớn bao giờ cũng qua đi trước khi kịp thể hiện ra, và mỗi giai
cấp vừa mới bắt đầu đấu tranh với một giai cấp cao hơn nó thì đã bị lôi cuốn vào cuộc
đấu tranh với giai cấp thấp hơn nó. Bởi vậy, quyền lực vương hầu đấu tranh với quyền
lực quốc vương, giới quan chức đấu tranh với quý tộc, tư sản đấu tranh với tất cả bọn
trên, còn trong khi đó thì vô sản đã bắt đầu đấu tranh với tư sản. Giai cấp tư sản còn chưa
dám nêu tư tưởng về sự giải phóng theo quan điểm của nó, thì sự phát triển của những
9
Mr Kiênhx
điều kiện xã hội, cũng như sự tiến bộ của lý luận chính trị, đã tuyên bố rằng chính cái
quan điểm ấy cũng đã lỗi thời rồi, hoặc ít ra cũng đáng nghi.
Ở Pháp, chỉ cần là một cái gì đó cũng đủ để có thể mong muốn là tất cả. Ở Đức, nếu
không muốn từ chối tất cả thì phải không là cái gì cả. Ở Pháp, sự giải phóng bộ phận là
cơ sở của sự giải phóng phổ biến. Ở Đức, sự giải phóng phổ biến là conditio sine qua
non18*của mọi sự giải phóng bộ phận. Ở Pháp, tự do toàn vẹn phải được sản sinh ra từ
quá trình hiện thực của sự giải phóng dần dần, còn ở Đức thì nó phải được sản sinh ra từ
sự không thể có một quá trình dần dần như vậy. Ở Pháp, mỗi giai cấp trong nhân dân đều
là một nhà duy tâm chính trị và cảm thấy mình trước tiên không phải là một giai cấp
riêng, mà là đại diện của những nhu cầu xã hội nói chung. Vì vậy, vai trò người giải
phóng trong sự vận động đầy kịch tính cứ nối tiếp chuyển vào tay các giai cấp khác nhau
trong nhân dân Pháp cho tới lúc, cuối cùng, vào tay cái giai cấp sẽ thực hiện tự do xã hội,
không còn hạn chế tự do xã hội trong những điều kiện nhất định, nằm ở bên ngoài con
người nhưng vẫn do xã hội loài người tạo nên, mà ngược lại tổ chức tất cả những điều
kiện của sự tồn tại của con người xuất phát từ tự do xã hội với tư cách là một tiền đề tất
yếu. Trái lại, ở Đức, nơi mà đời sống thực tiễn không có nội dung tinh thần, cũng như đời
sống tinh thần không có sự liên hệ với thực tiễn, thì không một giai cấp nào của xã hội
công dân cảm thấy nhu cầu giải phóng phổ biến, cảm thấy có khả năng giải phóng phổ
biến, chừng nào địa vị trực tiếp của nó, sự cần thiết vật chất, những xiềng xích của bản
thân nó chưa buộc nó phải làm như vậy.
nó với tính cách là kết quả tiêu cực của xã hội. Đối với thế giới đang xuất hiện, giai cấp
vô sản có cái quyền giống như quyền của nhà vua Đức đối với thế giới đã xuất hiện, khi
ông ta gọi nhân dân là nhân dân của mình, cũng giống như khi ông ta gọi con ngựa là con
ngựa của mình. Khi tuyên bố nhân dân là sở hữu tư nhân của mình, thì nhà vua chỉ nói
lên rằng kẻ tư hữu là nhà vua.
Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng
thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình, và chỉ cần sấm sét của tư tưởng đánh một cách
triệt để vào cái mảnh đất nhân dân còn nguyên vẹn ấy là việc giải phóng người Đức thành
con người sẽ hoàn thành.
Từ tất cả những điều trình bày ở trên, có thể rút ra kết luận:
Sự giải phóng duy nhất thực tiễn có thể có của nước Đức là sự giải phóng theo quan điểm
của cái lý luận tuyên bố bản thân con người là bản chất tối cao của con người. Ở Đức, sự
giải phóng khỏi thời trung cổ chỉ có thể có được khi nó đồng thời là sự giải phóng khỏi
những thắng lợi bộ phận đối với thời trung cổ. Ở Đức, không thể thủ tiêu được bất cứ chế
độ nô lệ nào, nếu không thủ tiêu mọi chế độ nô lệ. Nước Đức căn bản không thể hoàn
thành cách mạng được, nếu không bắt đầu cuộc cách mạng chính ngay từ căn bản. Sự
giải phóng người Đức là sự giải phóng con người. Đầu não của sự giải phóng ấy là triết
học, trái tim của nó là giai cấp vô sản. Triết học không thể trở thành hiện thực nếu không
xóa bỏ giai cấp vô sản; giai cấp vô sản không thể xóa bỏ được bản thân mình nếu không
làm cho triết học biến thành hiện thực.
Một khi tất cả những điều kiện bên trong đã chín muồi thì ngày phục sinh của nước Đức
sẽ được báo hiệu bằng tiếng gáy của con gà Gô-loa [Gaul].
Do C. Mác viết cuối năm 1843 tháng Giêng
1844. Đã đăng trong 'Deutsch-Franzäsische
Jahrbücher", năm 1844
Ký tên: Các Mác
In theo bản đăng trong tạp chí
Nguyên văn là tiếng Đức
tác phẩm viết chung Gia đình thần thánh và Hệ tư tưởng Đức.
3*Hiện trạng, trật tự hiện hành.
4*Kinh Thánh, Chạy trốn 33: 23. Moses là nhân vật thần thoại trong kinh thánh, người đã
đưa dân Hê-brơ [Hebrew] trốn thoát khỏi ách thống trị của các Pha-ra-ông [Pharaoh] Ai-
cập, và đã lập ra 10 điều luật cho dân Hê-brơ.
5*Kinh nghiệm, căn cứ theo kinh nghiệm.
aSai-lốc – một nhân vật trong vở kịch Người thương nhân thành Vơ-ni-dơ của Sếch-xpia,
một tên cho vay nặng lãi tham tàn và độc ác.
bTơ-tông – một dân của nước Đức thời cổ.
6*Nghĩa đen: bộ phận xấu xa; nghĩa bóng: vết nhục
7*Chế độ cũ
cÊ-sin (525-457 trước công lịch) – nhà soạn kịch nổi tiếng thời cổ Hy-lạp, tác giả các vở
bi kịch cổ điển.
dLu-ki-an (khoảng 120-180) – nhà văn và nhà châm biếm kiệt xuất của Hy-lạp thời cổ.
8*Chơi chữ: “listige Theorie” (“lý luận giảo hoạt”) ám chỉ việc Phri-đrích Li-xtơ tuyên
truyền cho thuế quan bảo hộ.
[2]Mác muốn nói đến nhà triết học A-na-xa-khít [Anarcharsis], người Xi-tơ, mà người
Hy-lạp – theo sự xác nhận của nhà sử học Đi-ô-gien La-éc-xơ [] – coi là một trong số bảy
nhà hiền triết Hy-lạp.
9*Tác phẩm chưa hoàn thành.
10*Tác phẩm để lại sau khi chết.
11*Vấn đề là ở đó! (Sếch-xpia, Hăm-lét).
12*Ngang tầm.
[3]Đây là nói đến những giới thuộc chủ nghĩa tự do ở Đức, những đại biểu của phái đối
lập tự do ở trong hội nghị dân biểu (Landtags), những nhà chính luận thuộc các màu sắc
khác nhau, v.v., đòi hỏi những cuộc cải cách hiến pháp.
[4]Đây là nói về phái Hê-ghen trẻ. Phái này đã rút ra những kết luận vô thần triệt để từ
triết học của Hê-ghen, nhưng đồng thời lại tách triết học ra khỏi hiện thực và biến triết
học thành một lực lượng độc lập và tự quy định. Trên thực tế thì phái Hê-ghen trẻ ngày
càng xa rời khỏi cuộc đấu tranh cách mạng thực tiễn.