®¹i häc quèc gia hµ néi
Trêng ®¹i häc khoa häc x· héi vµ nh©n v¨n
NGUYỄN THỊ NGUYỆT
QUAN NIỆM CỦA G.W.F. HEGEL VỀ QUYỀN
CON NGƢỜI TRONG TÁC PHẨM
“CÁC NGUYÊN LÝ CỦA TRIẾT HỌC PHÁP QUYỀN”
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC HÀ NỘI - 2014
®¹i häc quèc gia hµ néi
Trêng ®¹i häc khoa häc x· héi vµ nh©n v¨n
Học viên Nguyễn Thị Nguyệt Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực của riêng bản thân,
em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm và giúp đỡ của tất cả mọi người.
Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Quang Hưng
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập và thực hiện
luận văn. Thầy không chỉ truyền đạt cho em những kiến thức và phương
pháp quan trọng trong quá trình nghiên cứu khoa học mà còn hết lòng giúp
đỡ, động viên, tin tưởng và cho em những bài học giá trị về cuộc sống.
Em xin gửi lời cảm ơn tới tập thể các thầy cô giáo Khoa Triết học,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là TS. Nguyễn Thị
Thanh Huyền đã nhiệt tình dạy dỗ, trang bị cho em những kiến thức quan
trọng trong 6 năm học. Những kiến thức này chính là nền tảng trong quá
trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy em
những chuyên đề quan trọng và bổ ích trong quá trình học cao học vừa qua.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình và tất
cả bạn bè đã ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập.
2.3. Quyền sở hữu – một trong những quyền cơ bản của con người 60
2.4. Quan niệm của Hegel về quyền tự do và bình đẳng 70
2.4.1. Quyền tự do 70
2.4.2. Quyền bình đẳng 75
Kết luận chƣơng 2 79
Chƣơng 3: QUAN NIỆM CỦA G.W.F.HEGEL VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ
VÀ NHÀ NƢỚC - CƠ CHẾ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƢỜI 80
3.1. Mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ 80
3.2. Vai trò của xã hội dân sự 86
3.3. Vai trò của nhà nước 96
3.3.1. Bản chất của nhà nước 97
3.3.2. Cơ chế phân chia quyền lực và hoạt động của nhà nước 102
3.3.3. Nhà nước trong mối quan hệ với tôn giáo 111
3.4. Một số nhận xét về quan niệm quyền con người của G.W.F.Hegel 115
Kết luận chƣơng 3 122
KẾT LUẬN 123
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
1
MỞ ĐẦU
1.1 . Lí do chọn đề tài
Mọi xã hội, mọi quốc gia, cho dù khác nhau về chế độ chính trị, truyền
thống lịch sử, hệ tư tưởng hay trình độ văn minh vật chất thì trong tiến trình
lịch sử - tự nhiên của nó vẫn gặp nhau ở việc giải quyết vấn đề phát triển.
Đi song hành với bài toán phát triển ấy là vấn đề quyền con người hay nhân
quyền. Bởi phát triển và quyền con người là hai mặt của quá trình vận động
lịch sử - tự nhiên của xã hội, có mối quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau.
các nhà nghiên cứu tư tưởng về quyền con người mới chỉ tập trung khai
thác những giá trị trong giai đoạn triết học cổ đại, cận đại và triết học Marx.
Những quan niệm về quyền con người của các nhà triết học Đức giai đoạn
cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX hầu như chưa được chú ý nghiên cứu.
Trong khi đó, chúng ta không thể phủ nhận một điều rằng các nhà triết học
Đức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX với những gương mặt tiêu biểu như
I.Kant, G.W.F.Hegel…đã có những đóng góp không nhỏ cho lịch sử tư
tưởng nhân loại nói chung, lịch sử tư tưởng nhân quyền nói riêng.
Là một đại diện tiêu biểu cho nền triết học Đức cuối thế kỷ XVIII đầu
thế kỷ XIX, G.W.F.Hegel cũng góp những tiếng nói riêng của mình vào
vấn đề chung của mọi nền triết học. Thâu nạp tất cả những thành tựu của tư
duy nhân loại trong hệ thống triết học của mình, Hegel đã tiếp tục nghiên
cứu về quyền con người để lại những đóng góp quan trọng cho vấn đề này.
Tuy nhiên, tồn tại một thực tế trong việc nghiên cứu tư tưởng của Hegel đó
là các nhà nghiên cứu mới chỉ tập trung vào việc nhìn nhận đánh giá giá trị
của phép biện chứng, logic học, thẩm mỹ học…Trong khi đó, triết học
3
chính trị xã hội đặc biệt là triết học pháp quyền, quan niệm của Hegel về
quyền con người chưa được chú ý khai thác nhiều.
Do đó với những lí do trên đây, luận văn lựa chọn: “Quan niệm của
G.W.F.Hegel về quyền con ngƣời trong tác phẩm “Các nguyên lý của
triết học pháp quyền” làm đề tài nghiên cứu của mình.
1.2 . Tình hình nghiên cứu
Sự du nhập của Công giáo đã khởi đầu cho việc giao lưu văn hóa tư
tưởng Đông Tây ở Việt Nam. Chính quyền thuộc địa với sứ mạng “khai
sáng văn minh” đã truyền bá các di sản không chỉ của văn hóa Pháp, mà cả
văn hóa phương Tây nói chung, trong đó có nhiều tư tưởng của các triết gia
Đức. Song song với việc tiếp thu các giá trị tư tưởng của phương Tây nhất
là của Pháp, thì các tư tưởng của các triết gia Đức, tuy ở mức khiêm tốn,
về logic học, phép biện chứng, thẩm mỹ học…của Hegel. Tuy nhiên, việc
nghiên cứu quan niệm chính trị - xã hội nói chung, triết học pháp quyền nói
riêng, đặc biệt là quan niệm của Hegel về vấn đề quyền con nguời còn
khiêm tốn. Những công trình chính thống nghiên cứu sâu về tư tưởng
quyền con người của Hegel thể hiện trong tác phẩm “Các nguyên lý của
triết học pháp quyền” chưa xuất hiện.
Liên quan trực tiếp tới đề tài này, trước hết phải kể tới những tác phẩm
quan trọng của Hegel đã được dịch sang tiếng Việt. Đó là các tác phẩm
“Hiện tượng học tinh thần” (2006), “Khoa học logic” (2008) và “Các
nguyên lý của triết học pháp quyền” (2010) do dịch giả Bùi Văn Nam Sơn
dịch và giới thiệu. Việc tiếp cận với tài liệu gốc là việc làm hết sức quan
trọng, giúp chúng ta có những đánh giá, nhận định xác đáng và trung thực
hơn đối với tư tưởng của tác giả.
Như vậy, nghiên cứu vấn đề quyền con người trong quan niệm của
Hegel ngoài việc sử dụng các tài liệu gốc chúng ta chỉ có thể kể tới một số
tài liệu liên quan gián tiếp tới đề tài sau đây:
5
Công trình “Triết học pháp quyền của Hegel” của nhóm tác giả
Nguyễn Trọng Chuẩn và Đỗ Minh Hợp do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
ấn hành năm 2002 là một công trình khảo cứu chuyên sâu triết học pháp
quyền của Hegel. Tác phẩm đã chỉ ra vị trí cũng như vai trò của triết học
pháp quyền trong sự nghiệp sáng tạo của Hegel, khái quát nội dung cơ bản
của triết học pháp quyền Hegel, qua đó đưa ra những nhận xét, đánh giá về
những nội dung này. Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng trình bày quan điểm
của K.Marx, F.Engels và các nhà triết học khác về triết học pháp quyền của
Hegel. Điểm mạnh của công trình này chính là ở việc sử dụng phương pháp
luận biện chứng mácxit trong việc nghiên cứu và đánh giá một cách khách
quan những tư tưởng của nhà biện chứng duy tâm Hegel. Trong quá trình
nghiên cứu và khái quát hóa nội dung của triết học pháp quyền, các tác giả
triết học và đặc biệt ít nhiều nhắc tới triết học pháp quyền.
Tuy nhiên, từ những điều đã trình bày trên có thể rút ra kết luận:
những công trình nghiên cứu về triết học pháp quyền của Hegel còn khá
khiêm tốn. Đặc biệt quan niệm của Hegel về quyền con người còn là một
mảng nghiên cứu khá mới mẻ. Do đó, việc nghiên cứu quan niệm về quyền
con người qua những tác phẩm chính của G.W.F.Hegel là một việc làm cần
thiết. Qua đây, chúng ta sẽ có nhãn quan đầy đủ hơn về các di sản tư tưởng
của đại triết gia này. Đồng thời, có thể nhận định một cách xác đáng về
những hạt nhân hợp lý cũng như những hạn chế cần phải loại bỏ trong tòa
lâu đài triết học đồ sộ của Hegel. Luận văn này sẽ hệ thống tư tưởng về
quyền con người của Hegel thông qua việc khảo cứu một trong những tác
phẩm quan trọng nhất của ông là “Các nguyên lý của triết học pháp quyền”
nhằm góp phần làm sáng tỏ vấn đề còn khá mới mẻ này.
7
1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Làm rõ quan niệm về quyền con người của G.W.F.Hegel trong tác
phẩm “Các nguyên lý của triết học pháp quyền” từ đó đưa ra một số nhận
định, đánh giá về giá trị cũng như hạn chế của những tư tưởng này đồng thời
bước đầu tìm ra những hạt nhân hợp lý đối với vấn đề nhân quyền hiện nay.
Nhiệm vụ
- Nghiên cứu bối cảnh lịch sử và tiền đề dẫn tới sự ra đời của triết học
G.W.F.Hegel nói chung và quan niệm về quyền con người nói riêng; tìm
hiểu khái quát về thân thế và sự nghiệp của nhà triết học bách khoa thư.
Giới thiệu khái lược về tác phẩm “Các nguyên lý của triết học pháp
quyền”.
- Phân tích những nội dung cơ bản trong tư tưởng về quyền con người
của Hegel, cụ thể là:
+ Xem xét quan niệm về bản chất con người
này trong dòng chảy lịch sử tư tưởng nhân quyền.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm
tới triết học Hegel nói riêng, triết học Đức thế kỷ XVIII - XIX nói chung.
1.8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có kết cấu gồm 3 chương, 11 tiết.
9
NỘI DUNG
Chƣơng 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TIỀN ĐỀ TƢ TƢỞNG DẪN
TỚI QUAN NIỆM CỦA G.W.F.HEGEL VỀ QUYỀN CON NGƢỜI
1.1. Bối cảnh kinh tế - chính trị - xã hội Tây Âu và nƣớc Đức cuối
thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX
Triết học Đức cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX nói chung và triết
học Hegel nói riêng ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử khá đặc biệt và đầy
mâu thuẫn. Lịch sử châu Âu đã cho thấy cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX
các nước Tây Âu đều bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi hai sự kiện: cuộc cách
mạng công nghiệp Anh và cuộc cách mạng tư sản Pháp.
Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa đã được thiết lập ở một số nước Tây Âu như Anh, Pháp, Italia
Phương thức sản xuất mới với nền sản xuất phát triển chưa từng có trong
lịch sử tỏ ra ưu việt hơn hẳn so với các phương thức sản xuất cũ. Lực lượng
sản xuất phát triển nhanh, công cụ lao động ngày càng hiện đại tạo ra một
khối lượng hàng hóa khổng lồ, phục vụ nhu cầu ngày càng cao của con
người. Sự kiện quan trọng nhất trong đời sống kinh tế của xã hội tư bản lúc
trong giấc ngủ mùa đông, vẫn còn là một nước quân chủ chuyên chế phân
quyền, thấp kém và lạc hậu về kinh tế, bảo thủ trì trệ về chính trị - xã hội.
Nước Đức già cỗi lúc bấy giờ chính thức được gọi là “đế quốc La Mã thần
thánh của dân tộc German”. Nền kinh tế bị ràng buộc bởi quan hệ sản xuất
phong kiến lạc hậu, phát triển một cách trì trệ và manh mún. Sự tập trung
ruộng đất trong tay địa chủ, những tàn dư của chế độ nông nô, chế độ
phường hội trong thành thị đã làm năng suất lao động thấp, đời sống của
11
đại đa số quần chúng nhân dân trở nên nghèo nàn cùng cực. Hơn nữa, sự
phân chia lãnh địa của hàng trăm cát cứ phong kiến đã cản trở đất nước
phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Nhìn chung, bức tranh toàn
cảnh của xã hội Đức đương thời phủ đầy một màu xám đúng như lời khắc
họa của F.Engels: “Mọi cái đều tồi tệ và tâm trạng bất mãn bao trùm cả
nước. Không có giáo dục, không có phương tiện ảnh hưởng đến ý thức
quần chúng, không tự do báo chí, không có dư luận xã hội, thậm chí không
có buôn bán tương đối lớn với các nước khác - không có gì cả ngoài sự đê
tiện và tự tư tự lợi; lề thói con buôn hèn mạt, xun xoe, nịnh hót thảm hại, đã
xâm nhập toàn dân. Mọi thứ đều nát bét, lung lay, xem chừng sắp sụp đổ,
thậm chí chẳng còn lấy một tia hy vọng chuyển biến tốt lên, vì dân tộc
thậm chí không còn đủ sức vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết
rồi” [31, tr. 754].
Lúc này nước Đức còn gọi là nước Phổ được thành lập bởi vua
Friedrich I từ năm 1701. Từ năm 1701 đến năm 1713 Friedrich I đã cai trị
và xây dựng triều đình dựa trên mô hình của nước Pháp – một mẫu mực
của sự xa hoa. Tuy nhiên, khác với vua cha, Friedrich Wilhelm I lại là một
vị vua sống tiết kiệm và thực tế. Ông đã hạn chế chi phí của triều đình ở
mức tối thiểu với mục đích tăng cường đầu tư vào việc xây dựng một quân
đội thường trực mạnh mẽ, được nhà Vua coi là nền tảng quyền lực ở trong
và ngoài nước. Với hàng loạt những chính sách tiến bộ như: khuyến khích
hình thành nhà nước, nên nhà nước đã buộc phải tạo dựng xã hội theo các
nhu cầu của nó. Và như vậy, đã xuất hiện một bộ máy cai trị khá hoàn hảo
trong lịch sử mà khả năng tổ chức và bộ máy quyền lực vượt xa các nước
láng giềng, mang lại sự thành công của mô hình nhà nước Phổ” [15, tr. 41 -
42]. Chính thực tế này cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới tư tưởng của nhà
13
triết học Đức. Nó lí giải tại sao quan niệm về nhà nước của Hegel có một
sự khác biệt rõ rệt so với những quan niệm của các nhà triết học tiền bối
trước đó.
Chính tình hình kinh tế chính trị này đã ảnh hưởng tới thái độ chính trị
của giai cấp tư sản Đức. Giai cấp tư sản Đức yếu kém không đủ sức mạnh
và bản lĩnh để lật đổ chế độ phong kiến Phổ, không đủ khả năng để nắm
chính quyền. Theo đó, trước một thực trạng xã hội rối ren, phức tạp và mâu
thuẫn chồng chất, các nhà lý luận của giai cấp tư sản mang trong mình tâm
trạng bi quan, bất mãn và bất lực. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến việc
phát sinh tư tưởng cải lương, thỏa hiệp, xuôi chiều; phủ nhận việc cải tạo
xã hội cũ bằng bạo lực cách mạng, biện hộ cho sự tồn tại hợp lý của xã hội
đương thời. Không dám làm cách mạng bằng bạo lực trong hiện thực như
các nhà tư tưởng Khai sáng Pháp, các nhà tư tưởng lý luận Đức quay về
làm cách mạng trong lý luận trừu tượng, trong suy nghĩ. Điều này cũng
không là ngoại lệ đối với hệ thống triết học Hegel.
Bế tắc trước những vấn đề kinh tế - xã hội hiện thực, trước việc tự do
bị bóp nghẹt bởi chính quyền quân chủ Phổ, các nhà triết học duy tâm Đức
đã xây dựng bản thể luận triết học trong tư duy, ý thức của con người, đặc
biệt đề cao tính năng động và tính duy lý của chủ thể. Họ lấy tư duy triết
học làm vũ khí phê phán và chuyển tải tư tưởng cách mạng. Đối với họ,
triết học là nơi thể hiện khát vọng cải tạo hiện thực của con người. Triết
học có sứ mệnh tinh thần cao cả là thực hiện một sự phản tư sâu rộng và
tràn đầy tinh thần phê phán đối với hoạt động sống của con người. Điều
cho các yếu tố văn hóa ít nhiều mang tính quốc tế của Đức. Hầu hết các hệ
thống triết học hàn lâm của giai đoạn sau khi Hegel mất vẫn giữ được
15
những nét truyền thống, nhưng không còn quá quan trọng nữa. [Dẫn theo:
25, tr. 10].
Thực tiễn nước Đức đã tạo ra những yêu cầu buộc triết học phải
chuyển mình mạnh mẽ, đòi hỏi các nhà tư tưởng phải có một cái nhìn mới,
phản ánh đúng hiện thực cũng như vạch ra con đường để đưa nước Đức
thoát khỏi tình trạng kém phát triển về kinh tế, chính trị so với các nước
khác. Các nhà triết học Đức với những gương mặt tiêu biểu như I.Kant,
J.G.Fichte, F.W.J.Schelling, G.W.F.Hegel…đã làm được nhiều cho dân tộc
mình và cho nhân loại. Có thể khái quát thành một số đặc điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, thành tựu triết học cơ bản của thời đại này là phép biện
chứng, mặc dù còn trên cơ sở duy tâm nhưng nó đã mở ra một hướng đi
mới cho tư duy con người. Những nguyên tắc lịch sử, logic đã ăn sâu vào
tư duy triết học hình thành tư tưởng logic học biện chứng mới.
Thứ hai, mối quan hệ giữa chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức
được xem xét trong sự tác động qua lại hai chiều, đặc biệt nhấn mạnh tính
tích cực của ý thức, sự thâm nhập của chủ thể vào khách thể và sự tương
tác liên tục giữa chúng.
Thứ ba, xã hội được xem trong tính quy luật của nó trải qua các giai
đoạn phát triển hợp quy luật trong lịch sử.
Thứ tư, triết học Đức đi sâu nghiên cứu nhiều vấn đề thẩm mỹ học,
đạo đức học và chủ nghĩa nhân bản, những vấn đề cốt lõi liên quan đến con
người cũng như các hình thái ý thức của xã hội loài người. Các nhà triết
học Đức giai đoạn này đặc biệt đề cao vai trò, vị trí tích cực của con người.
Kế thừa và phát huy những tư tưởng của thời kỳ phục hưng và cận đại, họ
đã thực hiện bước ngoặt trong lịch sử triết học phương Tây từ chỗ chủ yếu
bàn về những vấn đề bản thể luận, nhận thức luận…đến chỗ coi con người
17
do của con người qua hàng ngàn năm lịch sử. Nó phản ánh quy luật phát
triển xã hội từ thấp đến cao. Cụ thể, đó là quá trình phát triển mang tính
quy luật trong nhận thức của nhân loại, từ những khái niệm sơ khai nhất về
công bằng, bình đẳng, tự do và nhân phẩm đến những tư tưởng, học thuyết
về quyền con người. Nhân quyền là sự kết tinh những giá trị cao đẹp trong
nền văn hóa của nhân loại, được hình thành với sự đóng góp của tất cả các
quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp và cá nhân con người trên trái đất.
Trước hết, cần đề cập tới vai trò, ảnh hưởng của các nhà triết học cổ
đại tới quan niệm về quyền con người của Hegel. Bởi ảnh hưởng của triết
học Hy Lạp cổ đại có tính xuyên suốt trong lịch sử triết học như F.Engels
đã chỉ ra: “từ các hình thức muôn hình muôn vẻ của triết học Hy Lạp, đã có
mầm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này”
[33, tr. 491]. Là một nhà triết học vĩ đại, Hegel rất tôn trọng truyền thống,
thừa nhận giá trị cao cả của sự phát triển lịch sử của nhân loại. Ông luôn
quan niệm triết học của ông là sự kế tục và kết quả phát triển lịch sử của tư
tưởng nhân loại. Và trên thực tế, thứ nuôi dưỡng triết học Hegel không
những là nền triết học Đức trực tiếp tồn tại trước đó – triết học của Kant,
của Fichte và của Schellinh mà còn là toàn bộ lịch sử triết học.
Tìm đến những tư tưởng gia thời cổ đại, không thể không nhắc tới
Socrates - “ông tổ triết học nhân học”. Socrates (470- 399 TCN) là trung
tâm của thời đại cổ điển, là tâm điểm của lịch sử tư tưởng cổ đại. Cuộc
cách mạng mà Socrates tạo ra trong triết học thể hiện ở việc tìm kiếm cuộc
sống thỏa đáng cho con người như chính chủ đề chủ đạo trong nhân cách
và tư duy của ông. Đứng trước hiện thực của đời sống những người dân
Athenes: “mỗi người đều thành thạo một công việc hay một ngành nghề
nào đó, song lại không có thái độ thận trọng và quan tâm đến vấn đề sống
cuộc đời tốt nhất như thế nào. Socrates không thể cam chịu thực tế đó và
đẳng giữa những người có cùng địa vị xã hội. Nhà triết học đại biểu của
tầng lớp chủ nô vẫn thừa nhận và bảo vệ chế độ nô lệ.
Epicure (341- 270TCN) - nhà triết học thời kỳ Hy Lạp hóa, cùng với
Socrates, là người đã đem đến những suy tư mới về vấn đề tự do. “Epicure
đã xây dựng một thứ triết học an ủi đích thực, trong đó tinh thần lo âu và
bất an của con người có thể tìm thấy sự an ủi và thanh thản. Trong thời đại
đầy rẫy những đau khổ, tai họa và mối nguy hiểm khủng khiếp, ông đã ban
tặng cho cá nhân một lối sống thanh bình, hoàn trả lại hy vọng và khát
vọng sống cho cá nhân” [19, tr. 86]. Đối với Epicure, vấn đề về số phận và
hạnh phúc con người chính là vấn đề cơ bản. Những vấn đề có liên quan
đến cấu tạo của vũ trụ, tổ chức xã hội, những vấn đề chuyên sâu về nhận
thức và logic học vì thế mà được đẩy xuống hàng thứ yếu. Tất cả những
vấn đề này đều chỉ có ý nghĩa bổ trợ thuần túy. Chỉ có một thực tại thường
xuyên được quan tâm, đó là cuộc sống của cá nhân cụ thể, của bất kỳ người
nào. Ông đã luận chứng quan niệm về tự do qua việc cải tiến học thuyết
nguyên tử luận của Democritus theo một đường hướng mới. Theo ông, tự
do trước hết phải được hiểu như sự giải thoát của con người trước mọi sự
ràng buộc của số mệnh, mọi nỗi sợ hãi, lấy sự tĩnh tâm là điều kiện cho đời
sống cá nhân. Tự do là tự chủ, tự quyết định hành động, vươn tới hạnh
phúc, tránh mọi đau khổ và không bị cám dỗ bởi những thú vui vật chất
tầm thường. Tự do là không lệ thuộc vào thói quen ý thức và tín ngưỡng
truyền thống, không bận tâm đến cái chết, không thừa nhận vai trò của thần
thánh cả trên trời và dưới đất. Quan niệm về tự do của Epicure có một ý
nghĩa nhân văn sâu sắc. Ở đây, tự do gắn với bản chất con người, tự do
mang tính người, là phẩm giá do tự nhiên ban tặng, trở thành “thiên bẩm”
không thể bị tước đoạt của con người. Bên cạnh việc xem xét mối quan hệ
giữa tự do và tất yếu, Epicure còn đưa ra ý tưởng về khế ước xã hội: