Nghiên cứu triết học
Đề tài: " QUAN NIỆM CỦA I.KANT VỀ
ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI "
QUAN NIỆM CỦA I.KANT VỀ ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HẢO (*)
Để làm rõ quan điểm triết học lịch sử của I.Kant nói chung, quan niệm của ông
về động lực phát triển của lịch sử nhân loại nói riêng, trong bài viết này, tác
giả đã đưa ra và luận giải tư tưởng, luận điểm của ông về: 1) Các phương tiện,
phương thức đạt tới trạng thái lý tưởng của nhân loại; 2) Tự do cá nhân; 3)
Đối kháng xã hội và vai trò tích cực của cái ác trong lịch sử nhân loại; 4) Vai
trò của văn hoá trong phát triển xã hội.
Chúng ta đều biết, triết học I.Kant đóng một vai trò quan trọng trong việc khái
quát về mặt lý luận những cơ sở của xã hội và của tồn tại người, tức hệ thống
những giá trị tinh thần của xã hội phương Tây, trong điều kiện phát triển của
nền văn minh công nghiệp. Không chỉ thế, triết học của ông còn mở ra một giai
đoạn phát triển quan trọng trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại - giai đoạn
dù chúng ta có muốn hay không muốn”(2).
Suy luận của I.Kant ở đây là suy luận trong khuôn khổ của một trong những
phản đề mà ông đã đưa ra. Phản đề đó là: Tự do kinh nghiệm với tư cách tự do
chỉ dẫn đến sự đối kháng hoàn toàn giữa người với người, đối lập với tự do đạo
đức với tư cách tự do đòi hỏi phải dung hoà tự do của một cá nhân với tự do
của những cá nhân khác. Chính phản đề này, theo I.Kant, là cái đảm bảo công
bằng cho xã hội dân sự.
I.Kant cho rằng, tự do với tư cách tự do theo kiểu cá nhân chủ nghĩa, được biểu
thị qua luận điểm: “Tôi muốn gì thì tôi làm nấy”. Bên cạnh đó, còn có một thứ
tự do khác. Đó là tự do khi con người “chỉ phục tùng sự lập pháp riêng của
mình và đồng thời cũng là sự lập pháp chung”, khi “con người có nghĩa vụ
hành động phù hợp với ý chí riêng của mình, song ý chí này lại xác lập các qui
tắc chung một cách phù hợp với mục đích của tự nhiên”(3). Với quan niệm đó,
I.Kant cho rằng, hai thứ tự do đối lập với nhau này, lúc đầu còn có thể dung hoà
được trong một hệ thống xã hội thống nhất, nhưng sau đó, tự do đạo đức hoàn
toàn giành thắng lợi trong cuộc sống con người, “giống như kế hoạch hoàn
toàn bí ẩn của tự nhiên - thực hiện một chế độ nhà nước vốn dĩ là hoàn hảo và
cũng là ngoại tại đối với mục đích ấy như một trạng thái mà trong đó, tự nhiên
có thể phát triển đầy đủ những mầm mống được nó đưa vào xã hội loài
người”(4).
I.Kant đã chứng minh kết luận lạc quan này một cách không đầy đủ do nhị
nguyên luận của chính ông. Cả Hêghen cũng không thể hoàn toàn khắc phục
được nhị nguyên luận trong vấn đề này. Sau này, chỉ có chủ nghĩa duy vật biện
chứng, như chúng ta đều biết, mới giải quyết được triệt để vấn đề mối quan hệ
giữa tự do và tất yếu, giữa con người và xã hội.
Một vấn đề đặc biệt quan trọng được I.Kant đặt ra là vấn đề đối kháng xã hội.
Khi cho rằng, với tư cách thực thể của thế giới kinh nghiệm, con người không
thể chỉ hoàn toàn tuân thủ “mệnh lệnh tuyệt đối” trong hành động của mình ở
một thời điểm cụ thể và trong tương lai; rằng, lối ứng xử như vậy với toàn bộ
tính toàn vẹn của nó là sự “thần thánh” mà chúng ta chỉ có thể chờ đợi ở Chúa,
Không chỉ thế, với quan niệm về vai trò tích cực của cái ác trong lịch sử loài
người, I.Kant còn cho rằng, “phương tiện mà tự nhiên sử dụng để phát triển mọi
năng lực của con người - đó là đối kháng giữa họ trong xã hội, bởi rốt cuộc, nó
trở thành nguyên nhân tạo ra pháp chế của họ”(9).
Theo đó, có thể nói, những tư tưởng này của I.Kant chính là một thử nghiệm
nhằm giải phóng mục đích tối cao, “đạo đức thần thánh” khỏi tính thần bí và
tìm ra con đường dẫn tới trạng thái mà trong đó, những lợi ích đối lập của các
cá nhân xung đột với nhau sẽ dẫn đến một kết quả mới.
Như chúng ta đã rõ, bất cứ thành tố nào của hệ thống cũng phải phục tùng các
hoạt động của hệ thống đó; nó chỉ thể hiện tính độc lập của mình trong khuôn
khổ của mức độ tự do mà hệ thống với tư cách chỉnh thể dành cho nó. Tương tự
như vậy, bất cứ tư tưởng riêng biệt nào trong thành phần của một hệ thống triết
học cũng chỉ bộc lộ nội dung của mình trong khuôn khổ được các nguyên lý cơ
bản của toàn bộ hệ thống cho phép.
Chính vì hiểu rõ điều đó, nên khi nhận thấy tư tưởng về các mâu thuẫn của lợi
ích xã hội với tư cách phương thức vận động của xã hội theo con đường tiến bộ
có thể dẫn đến sự phá vỡ toàn bộ hệ thống của mình, I.Kant không thể không
giả định rằng, tư tưởng này chỉ có thể triển khai và hiện thực hoá trong các điều
kiện xã hội khác. Và, cũng do vậy, I.Kant đã đưa tư tưởng này vào cái vỏ lược
đồ truyền thống của ông: thế giới noumen (bản chất) siêu việt trao cho con
người quyền tự giải quyết vấn đề đạt tới trạng thái lý tưởng (“vương quốc mục
đích”) nhờ sử dụng “thiên hướng giao tiếp” mà nhìn chung, luôn đi liền với sự
phản kháng của nhiều người và thường xuyên đe doạ sự ổn định của xã
hội”(10). Để làm được điều đó, theo I.Kant, tự nhiên cần ban tặng cho loài
người mọi phẩm chất cần thiết để con người có thể tự tạo ra mọi cái cần thiết
cho cuộc sống của họ, ngoài việc tổ chức sinh hoạt một cách máy móc, để họ
xứng đáng với hạnh phúc hay sự hoàn hảo mà họ tự sáng tạo ra một cách không
phụ thuộc vào bản năng và lý tính của mình Rằng, tự nhiên không muốn để
con người phải tuân thủ bản năng hay được đảm bảo nhờ những hiểu biết bẩm
sinh và buộc phải thích nghi với chúng, tự nhiên muốn con người tạo ra mọi cái
sinh vật khác trong những hoạt động phá huỷ của chúng, như dịch hạch, nạn
đói, lũ lụt, giá lạnh, sự tấn công từ phía những con thú dữ lớn và nhỏ, v.v.”(12).
Nhưng, khác với các loài động vật, tự nhiên đem lại cho con người “tính hữu
dụng và kỹ năng thực hiện mọi mục đích”, và để làm được điều đó thì cả tự
nhiên lẫn bản tính con người đều có thể được con người sử dụng với tư cách
sản phẩm của văn hoá(13).
Theo chúng tôi, ở đây, I.Kant đã có một quan niệm sâu sắc và đúng đắn về văn
hoá với tư cách năng lực con người trong việc con người thực hiện mục đích
của mình bằng một hệ thống những chuẩn tắc và phương thức hoạt động xác
định. Chúng ta đều biết, văn hoá thường được hiểu là phương thức hoạt động
đặc thù của con người, văn hoá được tạo ra không phải theo con đường sinh học
vốn có của con người, mà là kết quả được khách quan hoá một cách tương ứng
từ những hoạt động ấy. Nhìn nhận từ góc độ này, có thể nói rằng, I.Kant đã
dừng lại ở phương diện thứ nhất và dường như không quan tâm đến phương
diện thứ hai của văn hoá. Song, phương diên thứ hai chứa đựng một hạt nhân
hợp lý, khi I.Kant đặt trọng tâm vào phương diện thứ nhất của văn hoá một
cách hoàn toàn hợp lý.
Theo quan niệm của nhiều học giả thì văn hoá cần phải được hiểu là một hệ
thống những chuẩn mực hoạt động của con người, tồn tại dưới hai hình thức cụ
thể: 1) dưới hình thức các mô hình hoạt động nội hiện thực hoá (chủ quan hoá)
trong chủ thể và 2) dưới hình thức các mô hình hoạt động khách quan hoá trong
sản phẩm (kết quả hoạt động). Điều này có nghĩa là, không phải sản phẩm tự nó
của hoạt động con người có quan hệ với văn hoá, mà chỉ có hệ thống những
chuẩn mực hoạt động nhằm sản xuất và sử dụng sản phẩm được biểu hiện trong
sản phẩm mới là cái có quan hệ với văn hoá. Từ góc độ này, có thể nói, I.Kant
cũng đã đưa ra quan niệm của ông về văn hoá dưới một trong hai hình thức nêu
trên. Việc khám phá ra hình thức thứ hai là đóng góp của triết học Mác và chỉ
có trên cơ sở thừa nhận hình thức thứ hai, chúng ta mới có thể giải thích được
một cách thực sự khoa học sự xuất hiện, quá trình phát triển và chuyển tải văn
hoá từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác. Trong quá
dù không đưa ra một quan niệm rõ ràng về bản chất của thứ văn hoá này, song
trong Phê phán năng lực phán đoán, I.Kant coi nó là hệ quả trực tiếp của việc
sử dụng giác tính, tức là có quan hệ với năng lực nhận thức của con người, còn
trong Siêu hình học đạo đức, ông xem nó như là các chuẩn mực của “lý tính thực
tiễn”, mặc dù nó chưa đạt tới tính thuần túy của “mệnh lệnh tối cao”. Tính không
rõ ràng này trong quan niệm của I.Kant là điều hoàn toàn có thể hiểu được, vì ở
ông không có sự khác biệt mang tính nguyên tắc giữa các chuẩn mực kỹ thuật -
sản xuất với các chuẩn mực đạo đức. QUAN NIỆM CỦA I.KANT VỀ ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN CỦA XÃ
HỘI (tiếp theo)
NGUYỄN THỊ HẢO (*)
Theo I.Kant, khát vọng hoàn thiện của con người luôn đòi hỏi phải có sự
thống nhất hài hoà giữa hai phương diện đó của văn hoá. Bởi lẽ, “sự hoàn
hảo không phải là cái gì khác ngoài năng lực văn hoá của con người (hay
phát triển những năng lực bẩm sinh), trong đó, với tư cách năng lực xây
dựng khái niệm, kể cả khái niệm có liên quan đến bổn phận, giác tính là
năng lực tối cao nhưng cũng là văn hoá ý chí (lối suy nghĩ có đạo đức) để
đáp ứng mọi bổn phận”(17). Thêm vào đó, sự hoàn hảo của văn hoá không
thể thiếu sự hoàn hảo về thể chất của cá nhân; bởi “giáo dục thể chất, - theo
cách diễn đạt của I.Kant, - là “văn hoá các lực lượng thể chất”, là “sự quan
tâm đến những cái cấu thành vật chất trong con người”, mà thiếu nó, mục
đích của con người không thực hiện được”(18).
Theo đó, có thể nói, I.Kant không coi “ lý tưởng thần thánh” là lý tưởng đích
thực đối với cá nhân(19). Điều đó chỉ có thể có, nếu con người là thực thể
của thế giới noumen. Nhưng, vì con người là thực thể thuộc về hai thế giới,
nên nó cần phải hướng tới sự hoàn hảo chứ không phải tới “lý tưởng thần
trạng thái lý tưởng, trạng thái có khả năng đảm bảo cho sự phát triển đầy đủ
mọi năng lực bẩm sinh của con người.
Như vậy, có thể nói, với quan điểm triết học lịch sử của mình, I.Kant chưa
thể khắc phục được những hạn chế vốn có ở các nhà Khai sáng Pháp, mà chủ
yếu là tổng kết tư tưởng của họ. Tính mâu thuẫn nội tại trong các tư tưởng
này đã được I.Kant tái hiện lại dưới dạng những định đề cơ bản trong triết
học lịch sử của ông. Lập trường duy vật tự nhiên trong quan niệm duy vật
của Diderot, của Holbach, của Hélventius về con người và xã hội mà theo
đó, con người, với tư cách một thực thể tự nhiên, tham gia vào chuỗi quan hệ
nhân quả tự nhiên, đã được I.Kant bổ sung thêm trong quan niệm của chủ
nghĩa duy tâm tiên nghiệm. Song, những bổ sung ấy lại quan trọng tới mức
là con người, trong quan niệm của I.Kant, bị phân chia ra thành hai thế giới
khác nhau về nguyên tắc.
Không chỉ thế, I.Kant còn sử dụng và phát triển nhiều quan niệm có giá trị
của các tư tưởng gia Cách mạng Pháp. Chẳng hạn, ông đã làm sáng tỏ quan
niệm còn chưa rõ ràng của Helvétius về những đặc trưng của tình huống cách
mạng(25). Không gắn kết tình huống cách mạng với hoạt động của một cá
nhân riêng biệt, I.Kant đã khẳng định tình huống cách mạng xuất hiện như là
kết quả phát triển mang tính tự nhiên và hợp quy luật của văn hoá.
Trong số các nhà triết học Khai sáng Pháp, Rousseau là người có ảnh hưởng
mạnh mẽ đến I.Kant. Chủ nghĩa dân chủ tiểu tư sản ở Rousseau đã gây được
thiện cảm của I.Kant ở một chừng mực nhất định. Quan điểm cách mạng của
Rousseau về quyền nổi dậy của quần chúng nhân dân trong trường hợp nhà
nước xâm phạm chủ quyền của họ đã được I.Kant nhắc lại. Đó là quan niệm
cho rằng, hành vi cách mạng nhằm làm trong sạch “các trạng thái bị tha hoá”
sẽ nâng xã hội lên một trình độ mới và góp phần đẩy mạnh quá trình tích hợp
một cách hợp lý các bản nguyên tự nhiên với văn hoá. Không chỉ thế, với
quan niệm coi sự vận động của xã hội là quá trình hướng đến sự khải hoàn
của “vương quốc có mục đích”, I.Kant đã làm sáng tỏ tính chất mâu thuẫn
của tiến bộ xã hội mà Rousseau đã vạch ra.
(20) I.Kant. Sđd., t.6, tr.268.
(21) I.Kant. Sđd., t.5, tr.465.
(22) I.Kant. Sđd., tr.465.
(23) I.Kant. Sđd., tr.465.
(24) I.Kant. Sđd., t.6, tr.16.
(25) Xem: I.Kant. Sđd., tr.465.