Đề tài: “Quan niệm của hêraclit về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập, về tính thống nhất của vũ trụ” - Pdf 11

Đề tài:
“Quan niệm của hêraclit về sự hài hòa và đấu tranh
của các mặt đối lập, về tính thống nhất của vũ trụ”

Trong lịch sử triết học, Hêgen được coi là người có công lao to lớn
trong việc xác định vai trò của logic trong nhận thức chân lý. Đánh giá cao
công' lao này của ông, trong Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học
cổ điển Đức, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: "Tư tưởng cơ bản vĩ đại cho rằng không
nên coi thế giới là tổng hoà những sự vật đã hoàn thành, mà là tổng hoà
những quá trình trong đó các sự vật, bề ngoài hình như không biến đổi, cũng
như các phản ánh tư tưởng của những sự vật vào đầu óc chúng ta, tức là
những ý niệm, đều trải qua một sự biến đổi không ngừng là sự phát sinh và sự
tiêu vong, trong đó, bất chấp tất cả những sự ngẫu nhiên bề ngoài và tất cả
những bước thụt lùi tạm thời, một sự phát triển tiến lên rút cuộc vẫn được
thực hiện, - tư tưởng cơ bản vĩ đại đó, đặc biệt là từ Hêgen trở đi, đã ăn sâu
vào trong ý thức chung đến nỗi dưới hình thức chung ấy, nó hầu như không bị
ai bác bỏ nữa".
Có thể nói, bằng sự tổng kết toàn bộ tiến trình phát triển lịch sử của
nhận thức, Hêgen đã xác định rõ trình độ của mỗi giai đoạn nhận thức và vai

Dựng lại phép biện chứng của Hêgen, đặt nó đứng bằng hai chân trên
mảnh đất hiện thực, các nhà kinh điển của triết học Mác - Lênin đã chỉ rõ, ý
niệm logic chỉ là sự phản ánh logic của thế giới khách quan. Rằng, "logic
không phải là học thuyết về hình thức bên ngoài của tư duy, mà là học thuyết
về những quy luật phát triển của "tất thảy mọi sự vật vật chất, tự nhiên và tinh
thần", tức là học thuyết về những quy luật phát triển của toàn bộ nội dung cụ
thể của thế giới và nhận thức thế giới, tức là sự tổng kết, tổng số, kết luận của
lịch sử nhận thức thế giới". Như vậy, trong định nghĩa này đã bao quát ba
dạng logic của ba đối tượng - cái vật chất, cái tự nhiên và cái tinh thần với tư
cách là sự phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, trong đó, có một logic
xuyên suốt, thống nhất cả ba logic này và được gọi là logic học.
Từ logic tự nhiên, khách quan hình thành nên logic trong nhận thức của con
người. Logic trong nhận thức là các phạm trù, khái niệm đánh dấu mức độ và khả năng nhận thức của con người đối với thế giới: "Trước con người, có
màng lưới những hiện tượng tự nhiên. Con người bản năng, người man rợ,
không tự tách khỏi giới tự nhiên. Người có ý thức tự tách khỏi giới tự nhiên,
những phạm trù là những giai đoạn của sự tách khỏi đó, tức là của sự nhận
thức thế giới, chúng là những điểm nút của màng lưới, giúp ta nhận thức và
nắm vững được màng lưới’.
Như vậy, không những là logic, cái tĩnh tại, các quy luật của thế giới
khách quan mà còn là cả sự chuyển hoá của chúng nữa cũng được phản ánh
vào logic chủ quan, tinh thần, đó là bản chất của cái logic trong triết học Mác
- Lênin. Nếu Hêgen mới chỉ cảm nhận thấy rằng, "vận động của ý thức giống
như sự phát triển của toàn bộ đời sống của tự nhiên và tinh thần" là dựa trên
"bản tính của những bản chất thuần tuý hợp thành nội dung của logic" thì
Lênin đã khẳng định rằng, biện chứng
Quan niệm của Hêraclit về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập,
về tính thống nhất của vũ trụ

với nồng độ khác nhau trong khói thuốc từ một điếu thuốc đang được đốt
cháy bởi lửa. Đánh giá quan niệm này của Hêraclít, V.I.Lênin coi đó là "một
sự trình bày rất hay những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng”.
Khẳng định tính thống nhất của thế giới, của vũ trụ a ngọn lừa sống duy nhất,
vĩnh hằng, Hêraclít cho rằng thế giới hiện thực hay vũ trụ đang tồn tại ấy là
cái duy nhất (L

un), đồng thời cũng là cái đa (cái nhiều), đúng hơn là cái bội
đa (Multiple). Quan niệm này đã đưa Hêraclít đến một trình độ khái quát triết
học cao hơn, trừu tượng hơn về sự thống nhất của các mặt đối lập trong vũ trụ. Ông cho rằng, mọi cái đồng nhất đều luôn tồn tại trong sự khác biệt và đó
là cái hài hòa của những cái căng thẳng, độc lập, cũng như sức căng của dây
cung, dây đàn. Rằng "thiện và ác chỉ là một" (B58), sống và chết, thức và ngủ,
trẻ và già trước sau cũng đều là một"(B88). Coi đó là sự “tương phản", "tương
thành" của sự vật trong vũ trụ Hêraclit khẳng định:"Đối lập tạo ra hài hòa,
giống như cây cung và chiếc đàn sáu dây"(B51). Hết thảy mọi sự vật trong vũ
trụ đều tồn tại trong thể thống nhất của cái phân chia được - cái không phân
chia được, cái toàn bộ - cái bộ phận, cái đồng nhất - cái không đồng nhất, cái
được sinh ra - cái không được sinh ra, cái chết - cái không chết giống như
"cây cung” tên gọi của nó là sống, nhưng tác dụng của nó là chết"(B48).
Trong vũ trụ này hết thảy "những vật xung khắc lẫn nhau hợp thành một.
Những âm điệu khác nhau hợp lại thành một hòa âm đẹp đẽ nhất"(B8).
Các mặt đối lập ấy của sự vật, theo Hêraclít, luôn "trao đổi" với nhau trong sự
thống nhất, như lạnh trao đổi với nóng để nóng lên và ngược lại, nóng trao đổi
với lạnh để lạnh đi: ướt trao đổi với khô và khô trao đổi với ướt. Ngay trong
mỗi con người Hêraclít khẳng định, sống và chết, trẻ và già, thức và ngủ, tỉnh
táo và mơ mộng cũng luôn trao đổi với nhau, "cái sau biến hóa thành cái
trước, cái trước biến hòa lại trở thành cái sau”(B88). Và khi cùng tồn tại trong

này không có cái gì là bất biến, là tuyệt đối, vĩnh viễn ngoại trừ sự vận động.
Mọi sự hoàn hảo, hài hòa của vũ trụ đều có thể bị phá vỡ bởi cuộc chiến tranh
giữa các mặt đối lập vốn có của nó. Nhờ sự đấu tranh, trao đối và chuyển hóa
của các mặt đối lập mà mọi sư vật, hiện tượng và cả vũ trụ có thể chuyển hóa
từ trạng thái này sang trạng thái khác, vận động và biến đổi Đấu tranh của các
mặt đối tập đó là nguồn gốc của vận động và biến đổi, là cái tạo nên “dòng
chảy" liên tục của vũ trụ. Đấu tranh là cái nội tại, vốn có ở sự hoàn hảo, hài
hòa, bởi mọi sự hoàn hảo và hài hòa đều được tạo thành không phải từ một
cái gì đó ở bên ngoài, mang tính huyền bí, mà từ các phương diện khác nhau
và đối lập nhau của chính nó. Ông viết: “Sự hài hòa được tạo ra bởi cái chỉnh
thể và cái chưa chỉnh thể (cái bộ phận), cái phù hợp với nhau và cái không
phù hợp với nhau, cái tích tụ và cái phân tán, cái hòa điệu và cái không hòa điệu, và từ cái chỉnh thể (đối lập) sinh ra cái một và từ cái một sinh ra cái
chỉnh thể” (B10).
Hêraclít nhấn mạnh, làm rõ sự khác biệt giữa các mặt đối lập để chỉ ra sự
thống nhất của chúng và nhấn mạnh, làm rõ sụ thống nhất của các mặt đối lập
để chỉ ra những khác biệt. giữa chúng. Qua đó, Hêraclít muốn nói rằng, con
người không nên phán đoán về các sự vật qua cái vẻ bề ngoài mà đường như
là hài hòa, hoàn hảo ấy của chúng, "không nên kết luận quá sớm về một việc
nào đó" (B47) khi chưa nhận thức được các mặt đối lập của nó đấu tranh với
nhau như thế nào để tạo nên sự hài hòa và trong sự hài hòa ấy, chúng lại đấu
tranh với nhau như thế nào để tạo nên sự hài hòa mới. Bởi người ta thường
nhận thấy các mặt đối lập của sự vật tách rời nhau và cho rằng chúng có thể
tồn tại một cách tách biệt, không phu thuộc vào nhau, song trên thực tế, các
mặt đối lập ấy lại tồn tại trong thể thống nhất, chúng thiết định lẫn nhau, quy
định lẫn nhau, tạo thành sự hài hòa, thành một chỉnh thể hòa hợp, hoàn hảo.
Đối lập là bản chất của cái hài hòa. Không có các mặt đối lập theo Hêraciít,
mọi sự hài hòa trong nghệ thuật, trong cuộc sống và trong cả vũ trụ này cũng

chỗ, mặt đối lập nào chiếm ưu thế trong một thời điểm cụ thể. Đó cũng là cái
tất yếu trong “sự sống" của mọi cái đang tồn tại. Trong vũ trụ này không
những luôn tồn tại một lực lượng phủ định, lực lượng tạo ra những sự khác
biệt và các mặt đối lập đấu tranh với nhau, mà còn luôn tồn tại một lực lượng
khẳng định, lực lượng kiến tạo cái chỉnh thể hài hòa, thống nhất từ chính
những cái khác biệt và đối lập ấy. Những cái khác biệt, đối lập hợp nhất với
nhau để từ những cái khác biệt, đối lập ấy xuất hiện một sự hài hòa, giống
như những âm điệu khác nhau hợp thành một hòa âm, "tất cả mọi sự vật đều
ra đời trong đấu tranh" (B8).
Vốn là "linh hồn" của sự phủ định sự vật cũ, đấu tranh, theo Hêraclít cũng
đồng thời là một yếu tố tích cực trong vũ trụ. Nó thể hiện phương diện năng
động của tồn tại, là kết quả của nhu cầu và sự không thỏa mãn vĩnh hằng, là
nguồn gốc của mọi sự biết đổi, đổi mới, nguồn gốc của “dòng chảy" liên tục
trong vũ trụ. Sự hài hòa đó là kết quả của đấu tranh, đó cũng là "linh hồn" của vũ trụ. Và với tư cách đó, hài hòa là cái tuyệt vời của vũ trụ, cái làm nên sự
hoàn hảo, sự vĩnh hằng của vũ trụ. Song, sự hài hòa ấy cũng luôn chứa đựng
trong nó một yếu tố tiêu cực là xu hướng ngừng trệ và đứng im - đặc trưng
của những cái "đang chết" trong vũ trụ. Cái "đang chết" ấy, theo Hêraclít, là
vốn có trong vũ trụ, song không có gì phải lo ngại cái "đang chết" đó, bởi
trong nó luôn có sự đấu tranh để "xoa dịu” và ngăn chặn không cho phép nó
"chết" và chính xác hơn là khi "đang chết", nó lại trở nên mới mẻ, giống như
mặt trời mỗi ngày đều mới mẻ để qua đó, duy trì sự tồn tại của cả nó lấn vũ
trụ. Với quan niệm này, khi nói về sự sống và cái phủ định luôn bao hàm
trong nó cái khẳng định, và ngược lại. Bí mật của mọi chỉnh thể thống nhất là
ở tính phân đôi nội tại đó của mọi cái đang tồn tại. Bí mật của vũ trụ cũng là ở
tính phân đôi nội tại, vốn có.
Không đồng ý với quan niệm của nhà thơ mù Hôme về sự không tồn tại của
đấu tranh trong lĩnh vực của Thượng đế và con người", quan niệm đã giữ địa

hài hòa bí ẩn là sự hài hòa thần thánh" được hiểu theo nghĩa sự vượt trội của
nó đối với mọi sự hài hòa hữu hạn - sự hài hòa của các sự vật, hiện tượng đơn
nhất. Sự hài hòa của vũ trụ cần đến sự hài hòa của tất thảy sự vật hiện tượng
đơn nhất, như sống và chết, thiện và ác, công bằng và bất công Nói chính
xác hơn, sự hài hòa của Vũ trụ, trong quan niệm của Hêraclít, xa lạ với quan
niệm thông thường của con người về sống và chết, thiện và ác, công bằng và
bất công bằng trong lĩnh vực của sự hài hòa vũ trụ, các mặt đối lập có địa vị
và vai trò ngang nhau, còn trong lĩnh vực của cuộc sống của con người, các
mặt đối lập hoàn toàn không được địa vị và vai trò ngang nhau, mặc dù chúng
không tồn tại tách biệt nhau.
Gạt sang một bên quan niệm mang tính nửa thần thoại của Hêraclít về sự xuất
hiện của Thượng đế, có thể nói rằng, ông là người đã đánh giá cao sự tự do
của con người khi so sánh sự khác biệt giữa người tự do và người nô lệ với sự
khác biệt giữa Thượng đế và con người. Ông cho rằng Thượng đế luôn thờ ơ
với cuộc sống nô lệ của một số người này và sự tự do của một số người khác,
song con người thì không thờ ơ với điều đó. Con người biết đến chiến tranh với tư cách là ông hoàng của tất cả mọi cái đang tồn tại và cũng biết "chiến
tranh khiến cho một số người trở thành thần thánh, một số người trở thành
người, một số người trở thành nô lệ và một số người khác thì trở thành người
tự do" (B53).
Khi nói tới chiến tranh hay đấu tranh với tư cách là nguồn gốc của mọi sự vận
động và biến đổi, Hêraclít cũng đã nói tới chiến tranh chính nghĩa: "Chiến
tranh là phổ biến, chính nghĩa tức là chiến tranh" (B80). Theo ông, cái chết vì
chiến tranh chính nghĩa là cái chết đáng được tôn vinh: "Thần và người đều
tôn sùng những người chết nơi chiến trường" (B24), "Cái chết càng vĩ đại thì
người chết nhận được phần thưởng càng lớn" (B25). Đề cao chiến tranh và
đấu tranh, coi chiến tranh như ông hoàng, song Hêraclít cũng luôn kêu gọi
con người đừng có quá kiêu hãnh về chiến tranh và hãy cùng nhau dập tắt sụ

cái vô trật tự, của thói tuỳ tiện vốn mâu thuẫn với logos vũ trụ.
Có thể nói, đó là những quan niệm độc đáo của Hêraclít về tính thống nhất
của vũ trụ, về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập trong vũ trụ ấy. Thế
nhưng, trong lịch sử triết học, không phải nhà triết học nào cũng thừa nhận
như vậy, cũng coi đó là đóng góp của Hêraclít cho sự phát triển của phép biện
chứng. Chẳng hạn, Ph.Látxan, trong tác phẩm triết học của Hêraclít bí ẩn ở
Êpheđơ" (xuất bản tại Béclin năm 1858), đã cố ý bỏ qua " cái tinh thần triết
học Hy Lạp" chân chính cái giản dị và mộc mạc ấy của Hêraclít để "tối tân
hóa", "phức tạp hóa", "Hêgen hóa" Hêraclít và những quan niệm độc đáo của
ông về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập trong vũ trụ. Song, đã cố ý
làm như vậy, Ph.Látxan vẫn buộc phải đồng ý với nhà triết học Philon rằng,
trong quan niệm của Hêraclít, "thể thống nhất là cái gồm có hai mặt đối lập"
và do vậy, “một khi phân thành hai, thì những mặt đối lập ấy liền xuất hiện",
"cũng như thế các bộ phận của vũ trụ cũng chia làm hai và đối lập lẫn nhau:
đất - thành núi cao và đồng bằng, nước - thành ngọt và mặn " rằng "phải
chăng nguyên lý này là nguyên lý mà, theo những người cô Hy lạp, Hêraclít
vĩ đại và nổi tiếng của họ đã coi là trung tâm của triết học của ông ta và ông ta
tự hào coi đó là một phát minh mới"? Bác bỏ mọi đánh giá sai lầm kiểu như Ph.Látxan đối với tư tưởng biện chứng của nhà triết học Hêraclít vĩ đại và nổi
tiếng, các nhà sáng lập triết học Mác - Lênin đã coi quan niệm độc đáo ấy về
tính thống nhất của vũ trụ, về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập
trong vũ trụ là một phỏng đoán thiên tài của Hêraclít về quy luật thống nhất
và đấu tranh của các mặt đối lập.
Heraclitus (tiếng Hy Lạp: ράκλειτος - Herákleitos, phiên âm tiếng Việt (từ
tiếng Pháp): Hêraclit (Héraclite); khoảng 544 TCN – 483 TCN) xuất thân
trong một gia đình quý tộc ở Ionia nhưng ông sống một cuộc đời rất nghèo
khổ và cô độc. Về cơ bản, ông là một nhà triết họcduy vật và được coi là ông
tổ của phép biện chứng. Những tư tưởng biện chứng của ông rất sâu sắc, tuy

trực quan cảm tính với logos trừu tượng – cái được dùng để chỉ bản chất lôgic
– lý tính của tồn tại và quy định trật tự, như là “độ” của mọi quá trình. Do
vậy, ngọn lửa mang tính vật chất của Heraclitus là “có lý tính” có liên quan
tới logos là “ngọn lửa có lý tính”. Ngọn lửa của Hêraclit thể hiện tính cơ động
và tính tích cực của tồn tại, đồng thời cũng thể hiện bản chất ổn định và trật tự
bất biến của thế giới, bản chất mang tính vật chất.
Nếu như Thales coi nước là khởi nguyên của thế giới với tư cách là một thực
thể sinh ra mọi vật thì Heraclitus đã hiểu khởi nguyên theo nghĩa độ cao hơn,
coi lửa không chỉ là thực thể sản sinh ra mọi vật, mà còn là khởi tổ thống trị
toàn thế giới. Lửa đó sản sinh ra không chỉ các sự vật vật chất, mà cả những
hiện tượng tinh thần, kể cả linh hồn con người.
Với quan niệm coi toàn bộ vũ trụ như một ngọn lửa bất diệt, thế giới này là
lửa thì ông đã tiếp cận được những quan niệm duy vật và nhấn mạnh tính bất
diệt và vĩnh viễn của thế giới. Ông đã thể hiện những tư tưởng đầu tiên về sự
thống nhất vật chất của thế giới khi coi lửa là bản nguyên của tất thảy mọi vật.
Đánh giá quan niệm này của Hêraclit, Lênin coi đó là “một sự trình bày rất
hay những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng”.
[2]

Tuy nhiên, có thể thấy rằng quan niệm duy vật của ông còn rất mộc mạc, thô
sơ. Bởi nó xuất phát từ việc ông chỉ dựa vào quan sát thực nghiệm để kết
luận, khi quan sát Heraclitus đã nhận thấy vai trò rất to lớn của lửa đối với đời
sống của con người và cũng do ảnh hưởng của thần thoại Hy Lạp (nhưng ông
có cách giải thích ngược lại với thần thoại). Tuy vậy thì quan niệm đó đã góp phần chống lại những tư tưởng mang tính
chất tôn giáo thời bấy giờ. Nó cũng khẳng định quá trình nghiên cứu tư tưởng
không thể không dựa vào việc tìm hiểu nguyên nhân từ thực tiễn cũng như cơ
sở và nguồn gốc của tư tưởng từ thực tiễn.

thống nhất nhưng trong lòng nó luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự
vật, lực lượng đối lập nhau. Những cuộc đấu tranh đó luôn luôn diễn ra trong
một sự hài hòa nhất định và bị quy định bởi logos.
Còn khi hiểu logos với tư cách là lời nói, học thuyết thì logos trong quan niệm
của Heraclitus mang tính chủ quan. Cái logos nằm ngay trong lời nói, trong
công việc, trong hiện tượng cảm nhận. Nó là yếu tố hợp lý tồn tại, là lời nói
hợp lý của tự nhiên: “Tuy rằng logos tồn tại vĩnh viễn, ta không hiểu được nó
trước lúc nghe thấy nó cũng như lần đầu tiên nghe thấy nó. Nhưng tất cả đều
xảy ra theo cái lý ấy và người ta thì giống như những người không biết gì khi
phải nói những lời và làm những việc như những lời và việc mà tôi trình bày
lúc phân chia mỗi vật theo bản chất và giải thích theo thực chất của vật ấy.
Còn những người khác thì họ không biết cái mà họ làm lúc tỉnh, ý như là họ
quên cái mà họ làm trong những giấc mơ”.
[3]

Khi hiểu logos với nghĩa chủ quan, tức là Heraclitus coi logos là chuẩn mực
của mọi hoạt động suy nghĩ của con người. Và theo ông, ai tiếp cận được với
logos thì người đó càng thông thái.
Logos của tâm hồn con người và logos của thế giới sự vật, là một logos được
xem xét trên hai phương diện: thế giới nội tâm của con người, tính chủ quan
của nó và cấu trúc bên ngoài của các sự vật. Nếu chúng giống nhau và trùng
hợp với nhau, nếu logos chủ quan của “người tốt nhât” một cách nào đó là
đồng nhất với logos khách quan của sự vật, thì từ đó suy ra rằng việc nhận
thức logos của thế giới bên ngoài là có thể có được bằng con đường tự nhận
thức bằng các lỗ lực của bản thân là cái duy nhất tạo thành phẩm giá cá nhân,
công lao cá nhân. Quan niệm của Heraclitus về logos chủ quan một cách cơ động, tức là ông coi
một cái sinh động và phát triển nội tại luôn có mối liên hệ khăng khít với

tuân theo logos vì vậy họ là những người tầm thường.
Khi coi linh hồn của con người cũng là cái được sinh ra từ một thực thể vật lý
là lửa và cũng là vạn vật trong vũ trụ, trong nó không có một đặc trưng nào
của cái siêu tự nhiên mà chỉ mối quan hệ với các yếu tố vật chất, nó là sản
phẩm biến đổi huyền diệu của lửa và do vậy là cái quy định mọi hành vi của
thể xác và luôn có khát vọng vượt ra khỏi thể xác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status