Đề tài " Quan niệm của Roland Barthes trong tác phẩm Những huyền thoại (Mythologies) " pot - Pdf 12


Đề tài

Quan niệm của Roland
Barthes trong tác phẩm Những
huyền thoại (Mythologies)
MỤC LỤC

Trang
DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề
tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn
đề 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên
cứu 7
4. Phương pháp nghiên
cứu 7
5. Kết cấu khóa
luận 8
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU VỀ ROLAND BARTHES VÀ HAI TÁC PHẨM ĐƯỢC
DỊCH Ở VIỆT NAM: ĐỘ KHÔNG CỦA LỐI VIẾT (LE DEGRÉ ZÉRO
DE L’ÉCRITURE) VÀ NHỮNG HUYỀN THOẠI (MYTHOLOGIES)
1.1. Thân thế và sự nghiệp Roland
Barthes 10
1.2. Giới thiệu hai tác phẩm: Độ Không Của Lối Viết và Những Huyền
Thoại

Lối Viết” 39
2.4. Những đóng góp của Roland Barthes qua cuốn Độ không của lối viết và
ý nghĩa của tác phẩm với công chúng Việt
Nam 47
CHƯƠNG 3
QUAN NIỆM CỦA ROLAND BARTHES TRONG TÁC PHẨM
NHỮNG HUYỀN THOẠI (MYTHOLOGIES)
3.1. Sự giải mã những huyền thoại xã hội tư sản và ý muốn “tóm bắt sự lạm
dụng ý hệ ẩn nấp” 50
3.2. Cấu trúc của ký hiệu huyền thoại và bài học về “Trông Nhìn và
Thưởng Thức” 58
3.3. Đóng góp của Roland Barthes qua Những Huyền Thoại và ý nghĩa của
tác phẩm với công chúng Việt Nam 68
KẾT
LUẬN
72
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
[1] Theo GS Phùng Văn Tửu trong bài viết Phương thức huyền thoại trong
sáng tác văn học, trích đăng trong cuốn Những huyền thoại. 3.1. SỰ GIẢI MÃ NHỮNG HUYỀN THOẠI XÃ HỘI TƯ SẢN VÀ Ý
MUỐN “TÓM BẮT SỰ LẠM DỤNG Ý HỆ ẨN NẤP”
“Chúng ta không ngừng lênh đênh giữa đối tượng và sự giải hoặc nó, vì
chúng ta bất lực không thể hiện được tổng thể của nó: bời vì nếu chúng ta
thâm nhập đối tượng, chúng ta giải phóng nó nhưng chúng ta phá huỷ nó: và

trong huyền thoại. Khảo sát Những huyền thoại, chúng tôi thấy rằng,
R.Barthes đã không đi theo quan điểm truyền thống về Huyền thoại, mà ông
xem xét các huyền thoại trong “phạm vi mỗi nền văn hoá như những hệ
thống biểu thị mà ngay những người đề xuất cũng không biết các ý nghĩa thật
của chúng”[1]. Thuật ngữ huyền thoại có nguồn gốc từ ngôn ngữ cổ Hy Lạp,
phiên âm theo ngữ hệ La tinh là mythos (tiếng Anh: myth, tiếng Pháp: mythe.
Mythos có nghĩa là lời nói mơ hồ tối nghĩa và cần một sự giải mã để tìm ra ẩn
ý của nó. Nó bị che lấp bởi những thứ vặt vãnh không liên quan gì đến bản
thân nó và làm cho nội dung của nó trở nên mơ hồ. Từ mythologies mang
nghĩa thần thoại, dùng để chỉ những câu chuyện từ thời xa xưa của các dân
tộc, nơi có những nhân vật thần thánh hoặc những anh hùng được thần thánh
hóa. Tuy nhiên, từ mythologies cũng được dùng theo nghĩa mythe, và Roland
Barthes đã dùng như thế. Ông viết về “những huyền thoại trong đời sống
hằng ngày ở Pháp”, nó là những gì đang diễn ra nơi thế giới chúng ta đang
sống. Nó là “nơi người ta đấu vật”, là lúc “nhà văn đi nghỉ hè”, là “chuyến
du ngoạn trên biển”, là “các loại xà phòng và bột giặt”, “đồ chơi” con trẻ,
là rượu vang, sữa, bít tết, khoai tây rán, là “gương mặt nàng Garbo” – một
diễn viên nổi tiếng lúc bấy giờ, là “chiếc xe Citroën Mới”, v.v…Tất cả tạo
nên những huyền thoại hiện đại, nhằm mục đích “phê phán ngôn ngữ của cái
gọi là văn hóa đại chúng về phương diện tư tưởng”.
Roland Barthes cho rằng Huyền thoại được tạo ra do sự vật bị đánh mất
sử tính, sự vật đã quên lãng nguồn gốc cấu tạo ra chúng:
"Huyền thoại hoá là một vận hành có nhiệm vụ biến những hiện tượng
ngẫu nhiên mang tính lịch sử trong một nền văn hoá thành những câu
chuyện, những điều thiêng liêng, thần thánh, hoặc những chân lý hiển nhiên,
không còn gì thắc mắc hay đáng ngờ.” Huyền thoại hoá tạo nên “doxa”.
Barthes dùng lại thuật ngữ “doxa” của Platon, với nghĩa “giọng nói của
tự nhiên”, để chỉ tất cả những quan điểm chính thống về sự vật, về cuộc
đời… Như vậy công tác giải huyền thoại chính là đi ngược dòng thời gian để
truy nguyên lý lịch ban đầu của sự vật để vạch ra “tính ngẫu nhiên lịch sử

đại. Xã hội hiện đại Pháp trong thời hậu chiến, những năm 50, những năm
của phi thực dân hóa, trong trào lưu giải tán các thuộc điạ, rùng rùng chuyển
động với nhiều cuộc cọ sát, giữa cái cũ và cái mới, giữa những ngộ nhận về
giá trị cội nguồn và những âu lo cho viễn ảnh tương lai. Trên đấu trường tư
tưởng, cánh Hữu và cánh Tả mâu thuẫn gay gắt và chống đối nhau trong bầu
không khí ngày càng sôi nổi. Và đỉnh điểm cuộc đọ sức sẽ diễn ra vào thập
niên 60 với Cách Mạng Tháng 5 năm 1968. Nhìn từ góc độ này, Những
huyền thoại của Roland Barthes vô cùng thú vị cho độc giả, bởi nó muốn
phanh phui cái bản chất xã hội hiện đại, muốn vạch trần các tín điều được số
đông xem như sự thật hiển nhiên . Nó “đọc” được đằng sau vô số các hiện
tượng xã hội, như cuộc đua xe đạp vòng quanh nước Pháp, như chiếc xe hơi
Citroën, như rượu vang, thịt bít tết và khoai tây rán, hay trong các câu chuyện
và nhân vật đương thời, sự tụt hậu của những giá trị mang nhãn hiệu tiểu tư
sản. Ngòi bút của Roland Barthes đầy châm biếm mỉa mai, giải mã các hiện
tượng được xã hội tiêu thụ và văn hoá đại chúng mới xuất đầu lộ diện, tung
hô như những bảng hiệu của nền hiện đại [14]. Ở đó, ta nhận ra bản chất của
xã hội tư sản. Nền dân chủ tư sản thực ra là một trong những hình thức chính
trị của nhà nước tư sản. Cơ sở kinh tế của dân chủ tư sản là những điều kiện
tiên quyết của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong quá trình phát
triển do bản chất giai cấp, dần dần tính chất tiến bộ của nền dân chủ tư sản đã
bị biến dạng. Từ chỗ quan hệ bình đẳng của công dân trước pháp luật đã thay
bằng quan hệ áp bức và bất công, các phúc lợi tự do cá nhân, phần lớn rơi
vào lớp người khá giả, giới thượng lưu. Còn những người làm thuê, nhân dân
lao động lại ít được hưởng quyền tự do dân chủ thật sự. Ngay cả vấn đề thông
tin đại chúng, nhà nước tư bản vẫn rêu rao là tự do, kỳ thực, nó được sử dụng
chủ yếu vì lợi ích của những tổ chức độc quyền tư bản lớn. Nhiều nhà tư bản
lớn ở phương Tây đã mua các báo, tạp chí, đài phát thanh, đài truyền hình,
hãng phim và những phương tiện tuyên truyền khác để thao túng, uốn nắn dư
luận xã hội theo ý đồ riêng của mình. Đó là thực chất của chế độ dân chủ tư
sản hiện đại. Bởi vậy, Roland Barthes đã đi lật đổ địa vị của linh mục Pierre,

và đó là một sự khuyến khích thụ động. Trong thời hậu chiến, ở Pháp nhiều
hàng tiêu dùng giá cả phải chăng hơn và nhiều người tiêu dùng có thể dễ
dàng có được những tài sản như là xe hơi, máy giặt,…lợi dụng điều đó, giai
cấp tư sản đã tạo ra một sự say mê các lợi ích vật chất và cái gọi là tiến bộ
công nghệ để tạo nên sự bùng nổ tiêu dùng, trong bài về chiếc xe hơi DS, ông
cười đùa chế giễu “thời nay, xe hơi là thành tựu tương đương với các thánh
đường gô-tíc thời trước đấy”, v.v…Chỉ cần nhìn vào mục lục những huyền
thoại của Roland Barthes ta đã có thể thấy muôn mặt xã hội Pháp xuất hiện
dưới con mắt của một nhà ký hiệu học.
Bên cạnh việc phơi bày bản chất xã hội tư sản, ông dành một sự quan tâm
đặc biệt cho ngữ pháp. Ông phân tích và chỉ ra những ngụy biện buồn cười
trong thói quen ngôn ngữ của mọi người. Ông chỉ ra rằng, Racine là Racine
là một lập luận trùng ngôn, thứ lập luận giai cấp tư sản đặc biệt ưa thích.
Roland Barthes đã chỉ ra bản chất của trùng ngôn và khiến ta giật mình: “Lợi
thế lớn của phương pháp trùng ngôn chính là chẳng phải nói ra”. Nó là sự
an toàn tuyệt vời của cái rỗng không. Từ đó, ông vạch trần bản chất khôn lỏi,
nhút nhát, lười biếng thậm chí vô trách nhiệm của những người sử dụng trùng
ngôn này. Roland Barthes cũng phê phán lối phê bình Chẳng- chẳng, một lối
phê bình bắt nguồn từ tính đạo đức của các từ ngữ được dùng. Người ta
tưởng rằng lối phê bình đó là mới nhưng ông đã lật ngược quan niệm đó. Ông
quan sát thấy chỉ cần xem những huyền thoại nào khác lộ ra trong những bài
phê bình đó là đủ biết tác giả của nó đứng về phía đảng phái nào. Ngoài ra, ở
lối phê bình Chẳng-chẳng người ta cứ thích xem “phong cách” của nhà văn
như giá trị vĩnh cửu của văn chương, đi theo quan niệm ở Độ không của lối
viết, Roland Barthes cho Văn phong là một giá trị phê bình hoàn toàn cũ. Bài
viết Mấy câu hỏi của ông Poujade cũng là một bài viết có sự hỗ trợ đắc lực từ
ngữ pháp học. Qua những câu trả lời như: “Ngài nhận trách nhiệm về sự
đoạn tuyệt, ngài sẽ phải chịu các hậu quả”, Roland Barthes đã khái quát về
khát vọng mọi hiện tượng diễn ra trọn vẹn trong khuôn khổ nội tại theo cơ
chế có đi có lại đơn giản của giai cấp tư sản. Hình thức ngữ pháp cân bằng,

chúng ta nhận xét huyền thoại ấy chẳng có sắc thái chính trị thì đơn giản là vì
nó không phải được tạo ra cho chúng ta.
Từ cách chọn huyền thoại để phân tích lộ ra quan niệm về huyền thoại của
Roland Barthes: “huyền thoại là ở phe Hữu”. Bởi vì bản chất của phe Hữu là
hào nhoáng, cởi mở, ba hoa và phe Hữu cũng là phe nắm trong tay mọi thứ:
“các vấn đề tư pháp, luân lý, mỹ học, ngoại giao, các nghệ thuật nội trợ, Văn
chương, sân khấu. Sự bành trướng của nó có cùng quy mô với hiện tượng
thoát-danh tư sản”. Như vậy, một câu hỏi được đặt ra rằng: ở phe Tả có
huyền thoại hay không? Roland Barthes trả lời rằng: “huyền thoại có ở phe
Tả, nhưng nó không hề có cùng những tính chất của huyền thoại tư sản.
Huyền thoại phe Tả thì không bản chất”. Ta luôn biết rằng, phe Tả được xác
định liên quan đến những người bị áp bức, dân vô sản hoặc dân thuộc địa.
Chính vì vậy, những huyền thoại của họ mang bản chất nghèo nàn, nó gắn
với bản chất của giai cấp. Trước hết, đối tượng để huyền thoại nắm bắt rất
hiếm hoi, nó chỉ là vài khái niệm chính trị. Chính vì vậy, chẳng bao giờ
huyền thoại của phe Tả chạm được tới những lĩnh vực mênh mông của những
mối quan hệ giữa người với người. Nó không xâm nhập được vào cuộc sống
hào nhoáng đời thường, không chiếm được một vị thế ưu trong xã hội. “Nó
chỉ là huyền thoại phụ, việc sử dụng nó chẳng liên quan đến chiến lược như
trong trường hợp huyền thoại tư sản, mà chỉ là chiến thuật, hoặc tệ nhất, là
sự lệch lạc”. Huyền thoại ở phe Tả nếu có thì là do tiện thể sinh ra chớ không
phải là do thiết yếu. Nó khô khan, nó không biết sinh sôi nảy nở và tự sáng
tạo ra mình bởi vì nó thiếu năng lực chủ chốt là năng lực bịa đặt. Và “ta có
thể nói rằng theo một nghĩa nào đấy, huyền thoại phe Tả luôn luôn là huyền
thoại giả tạo, huyền thoại tái tạo: do đó mà nó vụng về”. Theo như những
phân tích trên thì huyền thoại mang tính giai cấp nặng nề và qua đó cũng cho
ta thấy được bản chất bành trướng, độc đoán của giai cấp vô sản.
Những vấn đề mà Roland Barthes đưa ra khi đi giải mã huyền thoại vẫn
có một sự liên quan đến cuộc sống hôm nay, không chỉ riêng nước Pháp mà
trên toàn thế giới. Ngày nay khi đọc Những huyền thoại, độc giả vẫn cảm

Barthes khẳng định “cần phải nêu lên mạnh mẽ ngay từ đầu rằng, huyền
thoại là một hệ thống thông báo, đó là một thông điệp”, do đó huyền thoại
không thể là một sự vật, một khái niệm hay một ý niệm, mà đó là một hình
thức, một phương thức biểu đạt; “ngôn từ Huyền thoại được tạo nên bởi sự
gia công chất liệu của sự vật nhằm hướng tới một thông báo thích hợp”.
Huyền thoại không được xác định bằng nội dung của thông điệp mà bằng
cách thức nó phát ra thông điệp và phải miêu tả nó như một hình thức.
Huyền thoại là một ngôn từ, ngôn từ ấy lại là một thông điệp. Đó là một
sự mở rộng trong việc xác định ngôn từ Huyền thoại. Ngôn từ Huyền thoại
không nhất thiết phải được phát ra từ miệng, nó có thể được hình thành bằng
các chữ viết hoặc bằng các thể hiện: diễn ngôn viết ra, ảnh chụp, điện ảnh,
phóng sự, thể thao, quảng cáo, các cuộc biểu diễn…miễn là nó mang trong
mình tính chất biểu đạt, thông báo về một điều gì đó. Như vậy từ R. Barthes,
ta lại được cung cấp một cách hiểu rộng hơn về ngôn ngữ, diễn ngôn, lời
nói… “rằng bất cứ đơn vị hoặc tổng hợp có tính chất biểu đạt nào, dù được
thốt ra lời hay nhìn thấy bằng mắt” đều sẽ được hiểu là ngôn ngữ.
Thuộc về ngôn ngữ, R.Barthes cho rằng “huyền thoại thuộc về một khoa
học tổng quát mở rộng của ngôn ngữ học, và đó là ký hiệu học”. Vì vậy,
nghiên cứu huyền thoại, cũng như nghiên cứu lời nói, chính là nghiên cứu các
ký hiệu mà Saussure đã chủ trương trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương.
Ferdinand de Saussure (1857-1913) là nhà ngôn ngữ học Thuỵ Sĩ, người
mở đường cho ngôn ngữ học hiện đại và sáng lập ngành ngôn ngữ học cấu
trúc, tuy rằng từ “cấu trúc” chưa một lần nào được ông nói đến. Trong Giáo
trình ngôn ngữ học đại cương (Cours de linguistique générale, 1916) xuất
bản ba năm sau khi ông qua đời, Saussure dùng hai từ phân biệt “langage”
và “langue”, trong khi tiếng Việt và tiếng Anh chỉ có một từ tương đương là
“ngôn ngữ” hoặc “language”. Ngôn ngữ (langage) là hoạt động nói năng,
không chỉ bao gồm ngôn ngữ nói mà rộng hơn (người ta có thể nói với nhau
bằng các động tác ). Ngôn ngữ (langue) là tập hợp các ký hiệu được một
cộng đồng sử dụng để liên lạc, trao đổi với nhau, như tiếng Việt, tiếng Pháp,

tình yêu say đắm đã tồn tại độc lập trước khi kết hợp với nhau để tạo thành
đối tượng thứ ba là ký hiệu. Và đúng như vậy, ông nói rằng: “trên bình diện
cuộc sống trải nghiệm, tôi không thể tách những bông hồng ra khỏi thông
điệp chúng mang theo, thì cũng vậy, trên bình diện phân tích, tôi lại không
thể lẫn lộn những bông hồng với tư cách cái biểu đạt và những bông hồng
với tư cách ký hiệu: cái biểu đạt thì rỗng, ký hiệu thì đầy, nó là một ý
nghĩa”.
Xem Huyền thoại như một dạng thức ký hiệu học, R.Barthes phân tích
rằng, giống như ký hiệu, Huyền thoại cũng có dạng thức ba chiều: cái biểu
đạt, cái được biểu đạt và ký hiệu. Nhưng huyền thoại là một hệ thống đặc biệt
ở chỗ đó là một “hệ thống ký hiệu thứ hai”, được xây dựng từ một chuỗi ký
hiệu tồn tại trước nó . Cái là ký hiệu (nghĩa là tổng kết hợp của một khái niệm
và một hình ảnh) trong hệ thống thứ nhất nay chỉ là cái biểu đạt trong
hệ thống thứ hai. Một ví dụ quan trọng trong hai ví dụ mà Roland Barthes đã
dùng để minh họa cho sự chuyển hóa từ ký hiệu thành cái biểu đạt trong hệ
thống huyền thoại đó là: trang bìa tạp chí Paris-Match đăng hình một thanh
niên da đen mặc bộ quân phục Pháp giơ tay chào theo kiểu nhà binh, đôi mắt
ngước nhìn lên. Đó đã là nghĩa của hình ảnh. Nhưng ông cũng nhận ra rằng,
hình ảnh ấy lại đưa đến một sự biểu đạt nữa: “biểu đạt rằng nước Pháp là một
Đế quốc lớn, rằng tất cả con dân của Pháp, không phân biệt màu da, đều
phụng sự trung thành dưới lá cờ của Pháp, rằng chẳng có lời lẽ nào đáp lại
bọn gièm pha cái gọi là chủ nghĩa thực dân tốt hơn là nhiệt tình của anh da
đen kia phục vụ những kẻ bị coi là áp bức mình”. Vậy là ngay lúc này đã hiện
ra một hệ thống ký hiệu gia tăng: có cái biểu đạt được tạo thành bởi hệ thống
ký hiệu trước (một anh lính da đen chào kiểu nhà binh Pháp), có cái được
biểu đạt (sự hỗn hợp có dụng ý giữa tính chất Pháp và tính chất nhà binh), và
cuối cùng là có sự hiện diện của cái được biểu đạt thông qua cái biểu
đạt.[19;302]
Roland Barthes đã hình dung và sơ đồ hóa ký hiệu Huyền thoại.
Sơ đồ hiển thị có hai hệ thống ký hiệu chèn lên nhau. Hàng thứ nhất và

cũng lưu ý rằng: hình thức không hề loại bỏ nghĩa mà nó chỉ làm nghèo nghĩa
đi, đẩy xa nghĩa ra và nắm lấy nghĩa để sử dụng theo cách của mình. Nghĩa
vẫn tồn tại nhưng bị tước đi giá trị và hình thức sẽ nhờ vào đó mà tự nuôi
dưỡng mình. Đối với hình thức, nghĩa giống như một kho dự trữ câu chuyện,
khi cần thì nó sẽ nhanh chóng gọi ra và khi không cần thì nó cũng nhanh
chóng gạt đi: “điều cần thiết là hình thức phải không ngừng có thể bắt rễ lại
trong nghĩa và tìm nguồn sống ở đó: nhất là cần thiết nó có thể ẩn náu trong
nghĩa”. Nó giống như một trò chơi trốn tìm giữa nghĩa và hình thức, và chính
cái trò chơi thú vị ấy xác định huyền thoại.
Tiếp đến là CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT, theo Roland Barthes, nó là một khái
niệm, một câu chuyện diễn ra ở ngoài hình thức và sẽ tiếp thu một cách trọn
vẹn hình thức kia. Bản chất của cái được biểu đạt là vừa có tính lịch sử (vì có
tính lịch sử nên khái niệm huyền thoại không cố định, nó có thể biến đổi và
cũng có thể biến mất, vì lịch sử có thể hủy bỏ chúng đi rất dễ dàng) nhưng lại
vừa mang trong mình cái ý định, và chính nó là động cơ cho huyền thoại phát
ra: theo như ví dụ đã dẫn ở trên thì tính chất đế quốc Pháp chính là xung năng
của huyền thoại. Theo Roland Barthes, khái niệm nó không hề trừu tượng
như hình thức mà nó đầy ắp một tình huống, qua nó có cả một câu chuyện
mới được cấy vào huyền thoại, hay nói khác hơn lồng vào trong khái niệm là
một nhận thức nào đó về thực tại. Đối với ví dụ anh da đen chào cờ: với tư
cách là hình thức thì nghĩa trong đó chẳng đáng kể nhưng với tư cách là khái
niệm thì nó lại được kết nối với toàn bộ thế giới: “với Lịch sử đại cương
nước Pháp, với những cuộc phiêu lưu thuộc địa của nó, với những khó khăn
của nó hiện nay”. Roland Barthes chỉ ra rằng, trong huyền thoại, một cái
được biểu đạt có thể có nhiều cái biểu đạt, như về tính chất của đế quốc Pháp
ông có thể tìm thấy cả ngàn hình ảnh khác để biểu đạt điều đó chứ không chỉ
là hình ảnh của anh da đen chào kiểu nhà binh. Cũng có nghĩa là khái niệm
nghèo hơn cái biểu đạt rất nhiều và khái niệm thường trở đi trở lại, và chính
cái tình trạng lặp đi lặp lại của khái niệm qua nhiều hình thức khác nhau sẽ
giúp các nhà huyền thoại học giải mã huyền thoại, bởi vì khi một hành vi nào

đưa ra một khẳng định chắc chắn rằng: nếu căn cứ vào bản chất của ký hiệu,
vào ý thức huyền thoại hóa của con người thì bất cứ sự vật hay hiện tượng gì
cũng đều có thể trở thành lý do khơi gợi của huyền thoại.
Qua sự phân tích cấu trúc huyền thoại trên, Roland Barthes đã tiến tới
vạch trần bản chất của huyền thoại: “Huyền thoại không che giấu gì cả mà
cũng chẳng công bố gì hết: nó làm biến dạng; huyền thoại chẳng phải là điều
dối trá mà cũng không phải là chuyện thú nhận: đó là sự chuyển hướng”.
Roland Barthes đã đưa chúng ta đến với chính nguyên tắc của huyền thoại:
“nó biến đổi lịch sử thành bản chất tự nhiên”. Từ đó, ông phê phán cách
thức sai lầm của những người tiếp nhận huyền thoại, chính sự sai lầm ấy đảm
bảo cho sự tồn tại và phát triển của huyền thoại. Họ đọc huyền thoại không
phải như một động cơ mà như một lẽ phải: “tất cả diễn ra như thể hình ảnh
gợi ra khái niệm một cách tự nhiên, như thể cái biểu đạt tạo lập được cái
biểu đạt: huyền thoại hiện hữu ngay từ lúc tính chất đế quốc Pháp chuyển
sang trạng thái bản chất tự nhiên: huyền thoại là một ngôn từ được minh
chứng hết mức”. Roland Barthes cũng lý giải rằng, sở dĩ đọc giả tiếp nhận
huyền thoại một cách hồn nhiên như vậy bởi vì họ không thấy ở huyền thoại
hệ thống ký hiệu mà chỉ thấy nó là hệ thống quy nạp và huyền thoại được đọc
như một hệ thống sự việc trong khi nó chỉ là hệ thống ký hiệu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status