ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
******
ĐINH THỊ HỒNG VỮNG
QUAN NIỆM CỦA JOHN LOCKE VỀ NHÀ NƢỚC TRONG TÁC
PHẨM “KHẢO LUẬN THỨ HAI
VỀ CHÍNH QUYỀN” LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội – 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
******
ĐINH THỊ HỒNG VỮNG
1.3.2 Tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” 41
Kết luận chƣơng 1 45
CHƢƠNG 2. NỘI DUNG QUAN NIỆM CỦA JOHN LOCKE VỀ
NHÀ NƢỚC TRONG TÁC PHẨM “KHẢO LUẬN THỨ HAI VỀ
CHÍNH QUYỀN” 47
2.1. Quan niệm của John Locke về nguồn gốc, bản chất của quyền
lực nhà nƣớc 47
2.1.1. Quan niệm của John Locke về nguồn gốc hình thành nhà nước 47
2.1.2. Bản chất của quyền lực nhà nước 56
2
2.2. Quan niệm của John Locke về giới hạn và sự phân chia quyền
lực nhà nƣớc 58
2.3. Cơ chế hoạt động của các cơ quan quyền lực trong bộ máy nhà
nƣớc và sự giải thể của chính quyền dân sự 74
2.3.1. Cơ chế hoạt động của các cơ quan quyền lực trong bộ máy nhà
nước 74
2.3.2. Sự giải thể của chính quyền dân sự 81
2.4. Đánh giá về những đóng góp và hạn chế lịch sử trong quan niệm
của John Locke về nhà nƣớc trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về
chính quyền” 88
2.4.1. Những giá trị phổ biến trong quan niệm về nhà nước của John
Locke 88
2.4.2. Những hạn chế lịch sử trong quan niệm về nhà nước của John
Locke 98
Kết luận chƣơng 2 101
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
3
trực tiếp đưa ra học thuyết của mình về nhà nước, đặc biệt với việc đưa ra
quan điểm về giới hạn và sự phân chia quyền lực, nhân dân là chủ thể của
quyền lực nhà nước, hay việc đề cao pháp luật trong quản lý nhà
nước…thực chất đó là những gợi mở về lý luận nhà nước pháp quyền có
giá trị lý luận rất lớn mà nhiều nhà tư tưởng sau này đều có sự tiếp thu
trong học thuyết của mình. Chính vì vậy, “Khảo luận thứ hai về chính
quyền” được coi là một trong những danh tác chính trị thế giới, cuốn sách
này vừa tiếp nối dòng chảy liên tục của tư tưởng nhân loại về phạm trù
“nhà nước” từ thời Hy Lạp - La Mã cổ đại đến thời Phục hưng, vừa góp
phần tạo tiền đề trực tiếp cho trào lưu Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII và ghi
dấu ấn rõ nét trong tư duy và hành động của các nhà lập quốc Mỹ sau này.
Việc đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống quan niệm về nhà nước trong
tác phẩm này góp phần khẳng định giá trị tư tưởng triết học chính trị của
John Locke.
Việt Nam đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân và vì dân, tại Đại hội toàn quốc lần thứ IX, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã khẳng định: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì
dân” [8, tr. 131]. Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa ở nước ta đang đặt ra những vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn
xã hội như: quan liêu, tham nhũng…Đó là những biểu hiện của sự tha hóa
quyền lực nhà nước. Việc khắc phục tha hóa quyền lực nhà nước là vấn đề
“sống còn” của chế độ xã hội mà chúng ta đang xây dựng. Để thực hiện
được nhiệm vụ đó là một quá trình lâu dài và đòi hỏi có sự nghiêm túc tổng
kết cả về lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền. Do vậy,
nghiên cứu tư tưởng triết học chính trị của John Locke trên tinh thần tiếp
5
thu có phê phán tinh hoa tư tưởng nhân loại góp phần nhận thức và tìm
phương hướng cho những vấn đề thực tiễn chính trị, xã hội ở nước ta, cũng
Sinh (chủ biên) được dịch bởi Tùng Giang, Nxb Hội Nhà Văn xuất bản
năm 2002. Trong đó, tác giả đã trình bầy khái quát những nội dung chủ yếu
trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” của John Locke và
cũng đã khẳng định giá trị to lớn của những tư tưởng về quyền con người
và nhà nước trong tiến trình phát triển của nhân loại.
Các triết thuyết lớn, của tác giả Folscheid Dominique do dịch giả
Huyền Giang dịch và được Nxb Thế giới xuất bản năm 2003. Trong cuốn
sách này, tác giả đã giới thiệu cho bạn đọc sơ lược về tiểu sử cùng học thuyết
chính trị của John Locke với hai nội dung chính là trạng thái tự nhiên và khế
ước xã hội. Đặc biệt, tác giả còn trích lược một số chương (chương II, chương
VII, và chương IX) trong “Khảo luận thứ hai về chính quyền” để người đọc
tham khảo gắn liền với nội dung mà tác giả đã trình bày.
Công trình Lịch sử triết học và các luận đề của Samuel Enoch
Stumpf, Đỗ Văn Thuấn, Lưu Văn Huy biên dịch, do Nxb Lao động, Hà Nội
xuất bản năm 2004, đã giới thiệu khái quát về cuộc đời, các tác phẩm tiêu
biểu và các quan niệm triết học cơ bản là học thuyết về nhận thức và lý
thuyết về đạo đức và chính trị của John Locke. Tuy nhiên, sự trình bày của
tác giả mới chỉ dừng ở mức giới thiệu sơ lược, các vấn đề đưa ra còn thiếu
sự phân tích.
- Các công trình nghiên cứu trong nước:
Giáo trình Lịch sử các học thuyết chính trị do khoa Luật – Đại học
Tổng hợp Hà Nội biên soạn năm 1998, đã trình bầy một cách khái quát triết
học chính trị của John Locke với những nội dung chủ yếu được khảo sát từ
tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”. Các quan niệm của John
7
Locke về pháp quyền tự nhiên, và nhà nước đã được trình bày còn sơ lược
và chưa mang tính hệ thống.
Cuốn Lịch sử triết học do Nguyễn Hữu Vui chủ biên. Trong cuốn
sách; tác giả đã trình bầy các quan niệm triết học của John Locke nhưng
vào nghiên cứu quan niệm của ông về con người và quyền con người.
Trong phần quan niệm chính trị, tác giả luận văn phân tích quan niệm của
J. Locke về quyền lực nhà nước và quan niệm của ông về sự giải thể của
chính quyền. Song ở đây tác giả mới chỉ dừng lại ở những quan điểm
chung, tinh thần chung của J. Locke về nhà nước cụ thể là vấn đề quyền lực
nhà nước và sự giải thể của chính quyền mà chưa đưa ra những kiến giải cụ
thể về nguồn gốc, bản chất, chức năng của Nhà nước. Hơn nữa, tác giả
cũng chưa chỉ ra được cơ sở hình thành quan niệm về nhà nước của J.
Locke từ chính quan niệm về con người và quyền con người của ông.
Ngoài ra, nghiên cứu về Locke và quan niệm chính trị - xã hội trong
tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” có khá nhiều bài viết được
đăng trong các tạp chí chuyên ngành:
Với bài viết “Một số tư tưởng triết học chính trị của John Locke:
thực chất và ý nghĩa lịch sử”, đăng trên tạp chí triết học số 1(188) năm
2007, tác giả Đinh Ngọc Thạch đã khai thác những tư tưởng về triết học
chính trị của J. Locke từ việc thừa nhận các quyền tự nhiên của con người.
Trong bài viết trong mục Giới thiệu Danh nhân triết học “John Locke
nhà tư tưởng lớn của phong trào Khai sáng” đăng trên tạp chí Triết học số
2(201) năm 2008, PGS.TS Phạm Văn Đức đã giới thiệu những nội dung cơ
bản trong tư tưởng của J. Locke, đó là con đường tri thức hình thành qua
những trải nghiệm, kinh nghiệm của con người trong nhận thức luận, về
9
khoan dung tôn giáo, con người trí tuệ, giá trị và giá cả và trong đó có đề
cập đến quan niệm của J. Locke về khế ước xã hội và vấn đề nhà nước
nhưng chỉ dưới dạng khái quát sơ lược.
Tác giả Lê Công Sự với bài viết “Locke và triết lý về con người”
đăng trên tạp chí Nghiên cứu con người số 3(42) năm 2009 đã phân tích
những triết lý của J. Locke về con người qua hai tác phẩm là Tiểu luận về
trí năng con người và Khảo luận thứ hai về chính quyền. Với tác phẩm
chính quyền”, góp phần khẳng định những giá trị tư tưởng của ông trong
dòng chảy của lịch sử nhân loại.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Luận văn làm rõ những quan niệm cơ bản về nhà nước
của John Locke trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”; từ đó;
chỉ ra những giá trị và hạn chế của quan niệm đó.
- Nhiệm vụ: Để thực hiện được mục đích trên, luận văn tập trung giải
quyết những nhiệm vụ sau:
+ Làm rõ bối cảnh, tiền đề cho sự hình thành quan niệm về nhà nước
của J. Locke và giới thiệu khái quát về tác phẩm “Khảo luận thứ hai về
chính quyền”.
+ Phân tích quan niệm cơ bản của J. Locke về nguồn gốc, bản chất của
quyền lực nhà nước trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”.
+ Phân tích quan niệm của J. Locke về giới hạn; sự phân chia quyền
lực nhà nước, cơ chế hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước và sự
giải thể của chính quyền dân sự.
+ Đánh giá những giá trị và hạn chế trong quan niệm của ông về nhà
nước trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”.
11
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quan niệm của J. Locke về nhà nước
- Phạm vi nghiên cứu: Với những mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
trên, luận văn tập trung nghiên cứu dưới góc độ triết học những nội dung
cơ bản của quan niệm về nhà nước của John Locke trong tác phẩm “Khảo
luận thứ hai về chính quyền”.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Marx - Lenin và tư
tưởng của Hồ Chí Minh về nhà nước, xã hội.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện dựa trên
cao hơn so với thời kỳ trước, cùng với đó là sự công khai thừa nhận vai trò
ngày càng to lớn của giai cấp tư sản trong xã hội. Do nhu cầu thúc đẩy sự
phát triển của xã hội theo lối sản xuất TBCN và yêu cầu về việc giải phóng
tư duy con người khỏi sự kìm hãm của thần học, từ đây một loạt các thành
tựu to lớn về khoa học tự nhiên được ra đời như: “thuyết nhật tâm” của
Copernic - được coi là hành vi cách mạng đầu tiên của con người vì dám
thách thức quyền uy của giáo hội và chế độ phong kiến; “cơ học cổ điển”
của Newton đã chứng minh mọi sự vật, hiện tượng trên thế giới này đều
vận động và phát triển theo quy luật cơ học này; “tính di truyền máu” của
Harvay từ đó trong triết học hình thành quan niệm về mối quan hệ chặt chẽ
giữa thể xác và ý thức, “các phát minh toán học” của R. Descartes, W.
13
Leibniz… Đây là những tiền đề khoa học tự nhiên vững chắc cho các nhà
duy vật luận giải về thế giới. Bên cạnh đó là sự ra đời của một loạt các phát
minh kỹ thuật mới, có tính ứng dụng thực tiễn cao như máy dệt, máy kéo
sợi, máy in, la bàn, thuật luyện kim, thuốc súng, kính viễn vọng… Tất cả
đã góp phần quan trọng vào việc cải tiến sản xuất và phục vụ cho sự phát
triển của xã hội. Sự phát triển của nền kinh tế châu Âu còn được đánh dấu
bởi cuộc cách mạng công nghiệp Anh mà thành quả của cuộc cách mạng
này đã làm thay đổi diện mạo nước Anh nói riêng và đánh dấu một bước
phát triển mới của CBTB ở châu Âu nói chung.
Nền kinh tế tư bản thay thế cho sản xuất phong kiến, nhưng trên kiến
trúc thượng tầng của xã hội châu Âu lúc này vẫn là chế độ phong kiến lạc
hậu kìm hãm sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa. Mặc dù nắm trong
tay tiềm lực kinh tế nhưng giai cấp tư sản không có chút địa vị chính trị
nào, không có điều kiện tự do phát triển sản xuất, vẫn phải phụ thuộc vào
chế độ phong kiến, vào giai cấp quý tộc, địa chủ lúc này đã trở nên lạc hậu.
Do đó, để có thể tự do phát triển sản xuất, tự do buôn bán giai cấp tư sản
cần phải lật đổ chế độ phong kiến, giành quyền lực chính trị về tay giai cấp
trong lao động đã tạo ra năng suất lao động ngày một cao. Quá trình công
nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ đã làm thay đổi căn bản cách thức sản xuất
chủ yếu bằng lao động thủ công sang sử dụng máy móc và từng bước hình
thành cơ cấu công nghiệp hoàn chỉnh, từ sản xuất quy mô nhỏ lên quy mô
lớn với sự xuất hiện các khu công nghiệp. Đây là ưu thế tuyệt đối của chế
độ tư bản chủ nghĩa so với các chế độ trước.
Các phường hội trung cổ ở Anh đến thế kỷ XVII đã đi đến chỗ suy
sụp vì giới chủ bóc lột những người học nghề, thợ bạn, biến họ thành
những người lao động làm thuê. Công trường thủ công với nền sản xuất
15
quy mô lớn xuất hiện thay thế cho các phường hội trung cổ. Và các quan hệ
giữa thợ bạn, thợ cả trong các phường hội bị thay thế bằng quan hệ tiền bạc
giữa người lao động và nhà tư bản. Việc thợ thủ công bị phá sản trong các
phường hội, biến thành lao động làm thuê trong các công trường thủ công,
phải lệ thuộc vào nhà tư bản là một bước nhảy vọt về chất rất quan trọng
trên con đường quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa ở
Anh. Cuộc cách mạng công nghiệp đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ cho lực
lượng sản xuất, đem lại những thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực đưa nước
Anh trở thành cường quốc số 1 trên thế giới. Chính những thành tựu kỹ thuật
to lớn đã đưa giai cấp tư sản lên thành giai cấp tiên phong lãnh đạo các giai
cấp khác xóa tan những gông xiềng của chế độ phong kiến, mở đường cho sự
phát triển mạnh mẽ của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Thương nghiệp của Anh trong thời kỳ này cũng có bước phát triển
vượt bậc. Thị trường dân tộc hình thành và thống nhất trong cả nước.
Thương nhân Anh mở rộng buôn bán trên khắp châu Âu, thông qua những
con đường hàng hải mới tìm được trong các cuộc phát kiến địa lý mở rộng
thị trường buôn bán sang tận châu Phi, châu Á và cả châu Mỹ non trẻ. Các
công ty buôn bán lớn lần lượt xuất hiện như công ty Đông Ấn của Anh
thành lập năm 1600… London lúc này trở thành trung tâm thương mại tài
Sự phân hóa giai cấp trong xã hội và những biến động chính trị ở
nước Anh
Những biến động về kinh tế đã kéo theo những biến đổi sâu sắc
trong lòng xã hội nước Anh. Xã hội Anh lúc này là điển hình cho những
mâu thuẫn xã hội của thời kỳ cận đại.
Bên cạnh mâu thuẫn cũ giữa người nông dân với vua chúa phong
kiến, trong lòng xã hội Anh còn xuất hiện nhiều mâu thuẫn mới:
17
Thứ nhất, đó là mâu thuẫn giữa quý tộc cũ luôn tìm mọi cách để duy
trì chế độ phong kiến chuyên chế lạc hậu, kìm hãm sự phát triển tư bản chủ
nghĩa với giai cấp tư sản với tầng lớp quý tộc mới. Đây là hệ quả tất yếu từ
sự thâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào nông nghiệp. Tầng lớp quý tộc cũ
dựa trên nền tảng chính là địa tô, đại diện cho thế lực phong kiến, ra sức
bảo vệ ngôi Vua cùng với đó là chế độ quân chủ chuyên chế. Tầng lớp quý
tộc mới gắn với lợi ích của giai cấp tư sản không chỉ thu địa tô mà phần lớn
lợi nhuận là từ sản xuất công nghiệp và thương nghiệp, do đó tiềm lực kinh
tế của tầng lớp này mạnh hơn rất nhiều so với quý tộc cũ. Cùng với sự phát
triển nhanh chóng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư
sản đã vươn lên trở thành một lực lượng có thế lực kinh tế mạnh trong xã
hội Anh. Nhưng giai cấp tư sản lại không có chút thế lực chính trị nào,
chưa thỏa mãn với địa vị xã hội hiện có, bất mãn với sự đè nén, kìm hãm sự
phát triển từ chế độ phong kiến. Do đó, giai cấp tư sản luôn muốn giành lấy
địa vị chính trị từ tay giai cấp phong kiến.
Thứ hai, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với nhân dân lao động
nghèo. Họ là những người lao động nghèo bị cướp hết ruộng đất khi mà
CNTB xâm nhập vào nông thôn biến họ trở thành người vô sản, họ phải
bán sức lao động của mình cho nhà tư bản hoặc các nhà quý tộc mới để
nhận lấy tiền công rẻ mạt. Bị bóc lột nặng nề nên họ luôn mang trong mình
mâu thuẫn với giai cấp tư sản.
quốc giáo bảo thủ, cự tuyệt lời yêu cầu cải cách tôn giáo của phe cấp tiến
và chế độ tư bản chủ nghĩa đang lên và dần khẳng định vị thế của mình trên
chính trường thế giới.
Trên đây là bức tranh toàn cảnh nước Anh thế kỷ XVII, còn xét cụ
thể bối cảnh Locke sống, thì lúc này cuộc đấu tranh quyền lực xã hội đã
19
vào tận trong chính định chế của nền quân chủ khi các quý tộc mới dần
chiếm vị trí của các quý tộc cũ trong Viện thứ dân, dẫn đến xung đột ngày
một trầm trọng giữa Vua và Nghị viện. Nước Anh lúc này rơi vào cuộc nội
chiến kéo dài nhằm tranh giành quyền lực giữa Vua và Nghị viện. Với sự
thất bại và cái chết của Charles I, nước Anh đã bắt đầu những thử nghiệm
mới trong các định chế của nhà nước bao gồm: việc thủ tiêu vương quyền,
xóa bỏ cơ quan quyền lực của giới quý tộc cha truyền con nối và uy quyền
của giáo hội Anh, cùng với việc thiết lập nền bảo hộ của Cromwell vào
những năm 50 của thế kỷ XVII [23, tr. 10 - 11]. Sau khi Cromwell mất, chế
độ bảo hộ cũng bị sụp đổ theo và được thay thế bằng sự phục hồi của
vương triều Stuart (Charles II) với việc quay trở về với nền quân chủ, viện
quý tộc và giáo hội. Nước Anh lúc này rơi vào bi kịch đó là cách mạng Anh
bắt đầu từ việc chống lại sự chuyên chế của một cá nhân cuối cùng lại kết
thúc bằng sự chuyên chế của một cá nhân, bánh xe lịch sử lại quay trở lại
lúc bắt đầu. Bi kịch này là hệ quả của một thực tế nước Anh lúc bấy giờ là
tương quan lư
̣
c lươ
̣
ng giư
̃
a phong kiến va
̀
lắng xuống va
̀
dần
nhươ
̀
ng chô
̃
cho sư
̣
tho
̉
a hiê
̣
p . Chính vì thế mà nền chính trị nước Anh có
những biến chuyển không ngừng. Với sự phục hồi của chế độ chuyên chế
bằng việc lên nắm quyền của Charles II, điều này đã đe dọa số phận của
giai cấp tư sản và quý tộc mới. Giữa nhà Vua và Nghị viện lại tiếp tục có
những xung đột gay gắt mà điển hình là việc tranh cãi kéo dài về vấn đề tôn
giáo và chính trị, khiến Nghị viện cứ được triệu tập lại giải tán rất nhiều lần
cho đến lúc Charles II mất thì tình hình mới dần ổn định. Sau khi Charles II
mất James II lên nắm quyền với ý đồ xác lập vương quyền chuyên chế. Để
20
chống lại James II, giai cấp tư sản và quý tộc mới đã dựa vào Vinhem
Orange (William III) là quốc trưởng Hà Lan và là chồng của công nương
MarryII. Vua James II bị trục xuất khỏi nước Anh và vương vị được trao
cho William III và vợ là Mary II, cùng với đó là việc chuyển từ chế độ
quân chủ chuyên chế sang chế độ quân chủ lập hiến, ở đó quyền hạn Vua bị
thu hẹp, Vua không có quyền duy trì hay hủy bỏ luật pháp nếu không có
sự đồng ý của Nghị viện, quyết định của Vua chỉ có hiệu lực khi có chữ ký
nổi bật là sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản len lỏi vào tất
cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế; đó là cuộc cách mạng tư sản Anh
nổ ra và thắng lợi (năm 1689), đó là sự thiết lập chế độ quân chủ lập
hiến. Dịch giả Lê Tuấn Huy trong phần giới thiệu tác phẩm “Khảo luận
thứ hai về chính quyền” đã cho rằng: “Bối cảnh một nước Anh đang ở
vào giai đoạn đầy ắp những sự kiện đi vào sử sách, là điều có thể nói đã
cuốn xoáy Locke vào đó một cách “không thương tiếc” [23, tr. 10].
Locke đã đóng vai trò như một nhân chứng lịch sử, và còn là một tác
nhân tham dự tích cực vào các sự kiện đó. Những tư tưởng của J. Locke
về nhà nước trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền” nói
riêng và toàn bộ tư tưởng triết học của ông nói chung chính là sự phản
ánh cơ sở thực tiễn nước Anh đang chuyển mình, là sự phản ánh yêu cầu
cấp bách của giai cấp tư sản muốn vươn lên chống lại chế độ phong kiến
giành địa vị thống trị, tạo điều kiện cho sức sản xuất tư bản phát triển.
Quan niệm về nhà nước của J. Locke còn là sự tiếp nối dòng chảy chung
của lịch sử tư tưởng nhân loại về nhà nước, xã hội dân sự. Ngoài điều
kiện kinh tế - xã hội đương thời Locke sống, chính những tư tưởng của
22
các bậc tiền bối về nhà nước là tiền đề tư tưởng quan trọng cho sự hình thành
quan niệm về nhà nước trong tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”.
1.2. Tiền đề tƣ tƣởng và cơ sở lý luận cho sự hình thành quan
niệm về nhà nƣớc của John Locke
Quan niệm về nhà nước của John Locke không phải ra đời trên mảnh
đất trống mà nó là sự tiếp nối dòng chảy chung của lịch sử tư tưởng nhân
loại. Ngay từ thời cổ đại, những mầm mống tư tưởng về nhà nước pháp
quyền đã xuất hiện. Lúc đầu nó chỉ được thể hiện dưới dạng những ý
tưởng, những quan niệm còn đơn giản về vấn đề tổ chức quyền lực nhà
nước, vai trò của pháp quyền và việc giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước
và pháp luật. Theo tiến trình lịch sử thì những ý tưởng về nhà nước ngày
Tiếp tục tư tưởng của của Solon thì Socrate cho rằng: xã hội không thể
vững mạnh và phồn vinh nếu pháp luật hiện hành không được tuân thủ, giá
trị của công lý chỉ có được trong sự tôn trọng pháp luật. Ông đòi hỏi tất cả
các công dân phải phục tùng vô điều kiện các đạo luật của nhà nước. Về
sau, học trò của Socrate là Plato đã phát triển tư tưởng ấy thành tính tối cao
của luật pháp, vượt lên trên cả những nhà cầm quyền.
Plato xác định “Người cầm quyền phải gạt sang một bên ý chí cá nhân
để tuân thủ và nhân danh ý chí pháp luật” [trích theo 47, tr. 233]. Từ đó,
ông cho rằng nhà nước sẽ nhanh chóng bị sụp đổ nếu ở đó pháp luật không
được đề cao và nằm dưới quyền lực của ai đó.
Plato đã đưa ra quan niệm chính trị pháp lý đại diện cho lý tưởng cao
đẹp được thể hiện trong hai hội thoại nổi tiếng là Nhà nước và Pháp luật.
Từ những tư tưởng về đạo đức đã hình thành quan niệm trong ông về nhà
nước lý tưởng. Trong rất nhiều hình thức nhà nước, Plato cho rằng nhà