TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
======
NGUYỄN THỊ LIỆU
NÂNG CAO KỸ NĂNG TỰ HỌC
CHO SINH VIÊN SƢ PHẠM NGÀNH
GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG
VÀ AN NINH TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ
PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Trung tá: PHẠM TRUNG SƠN
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, bên cạnh sự cố gắng, nỗ lực của bản thân,
tôi còn luôn nhận đƣợc sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy giáo trong
Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội
2, nhất là thầy Trung tá Phạm Trung Sơn, ngƣời đã tận tình chỉ bảo, hƣớng
dẫn tôi trong sƣốt thời gian tôi làm khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo trong Trung tâm Giáo dục
quốc phòng và an ninh Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi trong thời gian tôi làm khóa luận.
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................... 4
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khóa luận ............................................... 4
6. Kết cấu khóa luận .......................................................................................... 4
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU .................................................................................................................. 5
1.1. Lịch sử về vấn đề nghiên cứu .................................................................... 5
1.1.1. Trên thế giới ............................................................................................ 5
1.1.2. Ở Việt Nam ............................................................................................. 8
1.2. Các khái niệm cơ bản ............................................................................... 10
1.2.1. Khái niệm kỹ năng ................................................................................ 10
1.2.2. Kỹ năng tự học của sinh viên ................................................................ 13
1.2.3. Nâng cao kỹ năng tự học của sinh viên sƣ phạm ngành giáo dục quốc
phòng và an ninh ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh Trƣờng Đại
học Sƣ phạm Hà Nội 2 .................................................................................... 16
1.3. Đặc điểm và các yếu tố ảnh hƣởng đến việc nghiên cứu khoa học tự học
của sinh viên sƣ phạm ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trung tâm
giáo dục quốc phòng và an ninh...................................................................... 17
1.3.1. Đặc điểm hoạt động tự học của sinh viên sƣ phạm ngành giáo dục quốc
phòng và an ninh ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh Trƣờng Đại
học Sƣ phạm Hà Nội 2 .................................................................................... 17
1.3.1.1. Hoạt động tự học của sinh viên sƣ phạm ngành giáo dục quốc phòng
và an ninh thuộc dạng tự học trong quá trình đào tạo ..................................... 17
1.3.1.2. Tự học của sinh viên sƣ phạm ngành giáo dục quốc phòng và an ninh
diễn ra trong môi trƣờng quan hệ đặc biệt ...................................................... 19
vụ học tập ........................................................................................................ 49
2.2.3. Phát huy tính tích cực của sinh viên sƣ phạmn ngành giáo dục quốc
phòng và an ninh ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh Trƣờng Đại
học Sƣ phạm Hà Nội 2 trong tự học ............................................................... 51
2.3.4. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lƣợng giáo dục trong nhà
trƣờng, bảo đảm tốt các điều kiện cho sinh viên sƣ phạm ngành giáo dục quốc
phòng và an ninh ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh Trƣờng Đại
học Sƣ phạm Hà Nội 2 trong tự học ............................................................... 53
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................................................................ 57
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 58
KIẾN NGHỊ .................................................................................................... 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 61
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
PHỤ LỤC 3
PHỤ LỤC 4
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hoạt động học nói chung, tự học nói riêng là một hoạt động đặc trƣng
của con ngƣời, là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan của mỗi
ngƣời để tạo ra những năng lực mới. Tự học thƣờng xuyên, tự học sƣốt đời là
điều kiện cơ bản để con ngƣời chiếm lĩnh kho tàng tri thức nhân loại. Tự học
đƣợc coi là một con đƣờng quan trọng để con ngƣời vƣơn lên tự hoàn thiện
nhân cách bản thân.
Với tƣ cách là một hình thức hoạt động độc lập của ngƣời học trong quá
trình đào tạo, tự học trong thời gian tại trƣờng không chỉ giúp ngƣời học củng
cố, mở rộng, hệ thống hoá kiến thức, rèn luyện các kỹ xảo, kỹ năng mà còn
đẩy nhanh thích ứng hoạt động học và hình thành các phẩm chất nhân cách
tích cực, nhƣng hiệu quả tự học còn có những hạn chế nhất định. Điều này có
thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, song một trong những nguyên nhân cơ
bản là do sinh viên chƣa có kĩ năng tự học phù hợp. Việc nghiên cứu một cách có
hệ thống các kĩ năng tự học của sinh viên, đặc biệt chỉ ra thực trạng và các yếu tố cơ
bản tác động ảnh hƣởng tới nâng cao kỹ năng tự học cho sinh viên, làm cơ sở đề
ra các biện pháp tâm lý – sƣ phạm, nhằm nâng cao kỹ năng tự học cho sinh viên
sƣ phạm ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trung tâm Giáo dục quốc
phòng và an ninh Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 là cần thiết và có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng. Xuất phát từ những lý do nêu trên, cho nên tôi chọn đề tài:
“Nâng cao kỹ năng tự học cho sinh viên sư phạm ngành giáo dục quốc
phòng và an ninh ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kĩ năng tự học của sinh
viên, từ đó đề xuất những biện pháp tâm lý - sƣ phạm nhằm nâng cao kĩ năng
2
tự học cho sinh viên sƣ phạm ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trung
tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu kĩ năng tự học của sinh
viên sƣ phạm ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trung tâm Giáo dục
quốc phòng và an ninh Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2.
- Đánh giá thực trạng kĩ năng tự học của sinh viên sƣ phạm ngành giáo
dục quốc phòng và an ninh ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh
Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2, phân tích, đánh giá những yếu tố ảnh
hƣởng đến nâng cao kĩ năng tự học của của sinh viên sƣ phạm ngành giáo dục
Giáo dục quốc phòng và an ninh Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2.
- Những biện pháp và kiến nghị chủ yếu nhằm nâng cao kỹ năng tự học
cho sinh viên sƣ phạm ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trung tâm
Giáo dục quốc phòng và an ninh Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 hiện nay,
đƣợc dựa trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hƣởng tới việc nghiên cứu khoa
học và thực trạng kỹ năng tự học đã tăng thêm giá trị ứng dụng thực tiễn của
công trình nghiên cứu phục vụ cho việc nâng cao chất lƣợng, hiệu quả giáo
dục đào tạo ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh Trƣờng Đại học Sƣ
phạm Hà Nội 2 hiện nay.
6. Kết cấu khóa luận
- Khóa luận gồm 2 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
Chƣơng 2: Thực trạng và một số biện pháp nâng cao kỹ năng tự học cho
sinh viên sƣ phạm ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trung tâm Giáo
dục quốc phòng và an ninh Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2.
- Kết luận.
- Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Trên thế giới
Dạy học đƣợc xem là con đƣờng giáo dục cơ bản nhất để thực hiện mục
đích của quá trình giáo dục tổng thể trong đó tự học là phƣơng thức cơ bản để
ngƣời học có đƣợc những hệ thống tri thức phong phú và thiết thực. Trong
lịch sử giáo dục, tự học là một vấn đề đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới
quan tâm. Song trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, nó đƣợc đề cập dƣới
thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng tri thức
vào thực tiễn”.
Thế kỷ XVIII-XIX, nhiều nhà giáo dục nổi tiếng nhƣ J.J. Rousseau
(1712-1778); Pestalogie (1746-1827); Distecvec (1790-1866); Usinxki (18241873) ... đều có chung quan điểm cần hƣớng cho học sinh, sinh viên tự nắm
bắt kiến thức bằng cách tự tìm tòi và sáng tạo.
Những năm gần đây, trên cơ sở kế thừa có phê phán các tƣ tƣởng của các
tác giả đi trƣớc, các nƣớc phƣơng Tây nổi lên cuộc cách mạng để tìm phƣơng
pháp giáo dục mới dựa trên tiếp cận “lấy ngƣời học làm trung tâm” để phát
huy năng lực nội sinh của con ngƣời. Đại diện cho tƣ tƣởng này John Dewey
(1859-1952), nhà sƣ phạm nổi tiếng ngƣời Mỹ, ông phát biểu “Học sinh là
mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phƣơng tiện giáo dục”. Một loạt các
phƣơng pháp dạy học theo tƣ tƣởng quan điểm này đã đƣợc đƣa vào thực
nghiệm: “Phƣơng pháp tích cực”, “Phƣơng pháp hợp tác”, “Phƣơng pháp cá
thể hoá”. Nói chung đây là các phƣơng pháp mà ngƣời học không chỉ lĩnh hội
kiến thức bằng nghe thầy giảng, học thuộc mà còn từ hoạt động tự học, tự tìm
tòi lĩnh hội tri thức. Giảng viên là ngƣời trọng tài, đạo diễn thiết kế tổ chức
giúp cho sinh viên biết cách làm, cách học.
6
Ông còn cho rằng: việc giảng dạy phải kích thích đƣợc hứng thú, phải
để trẻ em độc lập tìm tòi, thầy giáo là ngƣời thiết kế, cố vấn. Cả hai đối tƣợng
này đều là những cá thể tích cực học hỏi bằng cách đƣơng đầu với những tình
huống rắc rối nảy sinh trong những hoạt động của mình.Tƣ duy là một
phƣơng tiện nhằm giải quyết những vấn đề trong thực nghiệm và tri thức
đƣợc tích luỹ thông qua chính quá trình giải quyết những vấn đề đó.
T. Makiguchi, nhà sƣ phạm nổi tiếng ngƣời Nhật bản, trong những năm
30 của thế kỷ XX đã cho rằng “Mục đích của giáo dục là hƣớng dẫn quá trình
học tập và đặt trách nhiệm học tập vào trong tay mỗi học sinh. Giáo dục xét
Trong những năm gần đây chúng ta nói nhiều đến phƣơng pháp dạy học tích
cực, lấy ngƣời học làm trung tâm với ý tƣởng cốt lõi là ngƣời học phải tích
cực, độc lập, tự chủ, sáng tạo trong quá trình học tập. Quan điểm này hoàn
toàn phù hợp với tinh thần Nghị quyết TW2 (khóa 8) về Giáo dục: “Đổi mới
mạnh mẽ phƣơng pháp Giáo dục & Đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một
chiều, rèn luyện thành nề nếp tƣ duy sáng tạo của ngƣời học. Từng bƣớc áp
dụng các phƣơng pháp tiên tiến và phƣơng tiện hiện đại vào quá trình dạy
học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất
là sinh viên đại học. Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thƣờng
xuyên và rộng khắp trong toàn nhân dân, nhất là trong thanh niên”.
Tinh thần của Nghị quyết đã đƣợc cụ thể hoá trong Luật giáo dục, Mục
2, Điều 4 “Yêu cầu về nội dung, phƣơng pháp giáo dục” đã nêu rõ: “Phương
pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo
của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn
lên”; Khoản b, Mục 1, Điều 36: “Yêu cầu về nội dung phƣơng pháp giáo dục
đại học và sau đại học” cũng nêu: “Phương pháp giáo dục đại học phải coi
trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người
8
học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên
cứu, ứng dụng ”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Cách học tập:... Lấy tự học làm
cốt...”. Ngƣời còn nhấn mạnh: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”.
Ngƣời khuyên: “Không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải
biết tự động học tập”.
Nguyên Tổng bí thƣ Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt nam Đỗ Mƣời đã
nhấn mạnh: “Tự học, tự đào tạo là một con đƣờng phát triển sƣốt đời của mỗi
con ngƣời trong điều kiện kinh tế – xã hội nƣớc ta hiện nay và cả mai sau; đó
vững phƣơng thức hành động là con ngƣời đã có kỹ năng, không cần đến kết
quả của hành động.
Trong đó A.G.Covaliov thì nhấn mạnh: “Kỹ năng là phƣơng thức thực
hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động”.
A.V.Petrovxki nhận định: “Kỹ năng là sự vận dụng những tri thức, kỹ
xảo đã có để lựa chọn và thực hiện những phƣơng thức hành động tƣơng ứng
với mục đích đặt ra.
Các tác giả Phạm Tất Dong, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Hải Khoát xác
định: “Kỹ năng là một hệ thống các hành động thể lực và trí tuệ, các biện
pháp và cách thức mà nhờ đó, một dạng hoạt động nào đó đƣợc thực hiện và
đạt tới mục đích đề ra”.
Xem xét kỹ năng dƣới góc độ kỹ thuật tác giả Trần Trọng Thủy cũng
cho rằng, kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con ngƣời nắm vững kỹ
thuật là có kỹ năng.
Theo hướng nghiên cứu kỹ năng như là một biểu hiện năng lực của con
người, có các khái niệm sau đây:
Trƣớc hết phải kể đến hai nhà tâm lý học nổi tiếng của Xô-Viết là
K.K.Platonop và G.G.Golubep, khi bàn đến kỹ năng đã rất chú ý đến mặt kết
quả của hành động. Mặt khác, các ông coi “kỹ năng là năng lực của con ngƣời
10
thực hiện công việc một cách có hiệu quả, với một chất lƣợng cần thiết và một
thời gian thích hợp trong những điều kiện mới”.
Tác giả Paul Hersey, Ken Blanc Hard cho rằng: “Kỹ năng là khả năng sử
dụng tri thức; các phƣơng pháp, kỹ thuật và thiết bị cần thiết cho việc thực hiện
các nhiệm vụ nhất định có đƣợc từ kinh nghiệm, giáo dục và đào tạo”.
Trong Từ điển tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên, kỹ năng đƣợc định
nghĩa: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phƣơng thức
đích của hành động, về cách thức hành động đi đến kết quả, những điều kiện
cần thiết để triển khai cách thức hành động đó. Nhƣng chỉ có tri thức cần thiết
thì chƣa đủ để hành động, con ngƣời phải biết vận dụng những tri thức đó để
thực hiện hành động có kết quả. Chỉ khi nào con ngƣời hành động có kết quả
thì lúc đó con ngƣời mới thực sự có kỹ năng về hành động.
Từ đó, tôi cho rằng:
Kỹ năng là trình độ vận dụng những tri thức và thao tác hợp lý để thực hiện
một hành động hay một hoạt động nào đó có kết quả trong điều kiện nhất định.
Mục đích của nâng cao kỹ năng là thực hiện hành động, hoạt động ở
mức cao hơn, đem lại sản phẩm, kết quả cao hơn. Nhƣng để tiến hành đƣợc
hành động phải vận dụng những tri thức, phƣơng thức, cách thức, biện pháp,
kỹ xảo vào quá trình thực hiện hành động. Trong khóa luận này, tôi sử dụng
thuật ngữ tri thức và thao tác để gọn, rõ hơn và thống nhất với cấu trúc: hoạt
động - hành động - thao tác trong hoạt động.
Thao tác thực chất là những hành động, việc làm, kỹ xảo đƣợc phân giới đến
cùng hoặc đƣợc tự động hoá, rút gọn, làm cơ sở hình thành kỹ năng mới.
Cấu trúc kỹ năng gồm 3 thành phần cơ bản:
Nhận thức - Thực hiện - Kết quả:
Nhận thức (biết): Nắm bắt đƣợc ý nghĩa, mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ,
qui trình thực hiện của từng hành động. Mỗi hành động có mục đích, yêu cầu,
nhiệm vụ và qui trình thực hiện khác nhau. Thông qua việc nhận thức đƣợc ý
12
nghĩa, mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ và qui trình thực hiện của từng hành động
giúp con ngƣời định hƣớng trƣớc hành động của mình.
Thực hiện (làm): Thực hiện đƣợc các thao tác của từng hành động phù
hợp với mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, qui trình thực hiện của từng hành động
và tiến hành thƣờng xuyên. Thực hiện một hành động luôn gắn với điều kiện
M.A.Rubakin: “Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội
lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ
cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh
thực tại, biến tri thức loài ngƣời thành vốn tri thức kinh nghiệm, kỹ năng kỹ
xảo của bản thân chủ thể”.
Theo quan điểm trên, tự học là quá trình ngƣời học huy động nhân cách
của mình để chiếm lĩnh kho tàng tri thức nhân loại. Vì vậy, hoạt đông tự học
là một công việc khó khăn, mệt nhọc đòi hỏi tiêu tốn một năng lƣợng thần
kinh và cơ bắp tƣơng đối lớn.
Tự học là quá trình cá nhân độc lập, tìm tòi kiến thức...tính độc lập trong
việc lựa chọn mục đích, lựa chọn những con đƣờng và phƣơng tiện giải quyết
những vấn đề đặt ra. Những tri thức là đối tƣợng tìm tòi trong tự học của sinh
viên có liên quan đến nội dung kiến thức có ở bài đã học, đang học hoặc sắp
đƣợc học. Tri thức sinh viên tìm kiếm, phát hiện có thể là do yêu cầu của
giảng viên, song cũng có thể do nhu cầu hứng thú của ngƣời học.
Theo N.Đ.Levitov: Tự học là hoạt động tích cực của cá nhân với các
thành phần tâm lý của sự lĩnh hội, đó là thái độ tích cực của ngƣời học trong
tự học, các quá trình tƣ duy, các quá trình ghi nhớ... các quá trình tâm lý có
liên quan mật thiết với nhau để hoạt động tự học đạt kết quả.
Một số quan niệm khác cho rằng: Tự học là hình thức học có tính chất cá
nhân do bản thân ngƣời học nỗ lực thực hiện. Bản chất tự học là hoạt động nhận
thức độc lập của sinh viên. Hoạt động tự học mang tính chất cá nhân một cách rõ
rệt.
14
Từ những quan niệm nêu trên có thể coi tự học là quá trình cá nhân tự
giác, tự lực, tích cực lĩnh hội những vấn đề được đặt ra trong cuộc sống bằng
hành động của chính mình để đạt được những mục đích nhất định.
thuật của hành động tự học và năng lực tự học của mỗi cá nhân. Hay nói cách
khác, năng lực tự học đƣợc biểu hiện ra ở kỹ năng tự học. Để tự học có kết
quả, sinh viên phải có những kỹ năng tự học tƣơng đối, tƣơng ứng. Kỹ năng
tự học đƣợc bộc lộ ra bên ngoài là biểu hiện của nhận thức tự học và thái độ
tự học.
Từ những vấn đề trên tôi cho rằng: kỹ năng tự của sinh viên ngành giáo
dục quốc phòng và an ninh là trình độ thành thạo những hành động tự học
bằng cách vận dụng những tri thức, kỹ xảo và kinh nghiệm đã có để thực hiện
có kết quả nhiệm vụ học tập đề ra phù hợp với điều kiện hoạt động chuyên
ngành.
1.2.3. Nâng cao kỹ năng tự học của sinh viên sư phạm ngành giáo dục
quốc phòng và an ninh ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Theo từ điển tiếng Việt, “nâng cao là làm cho cao hơn trƣớc,đƣa lên mức
cao hơn”, “ nâng cao là làm cao, làm ở mức tốt hơn”. những hoạt động tích
cực, tự giác, chủ động sáng tạo của chủ thể nhằm tác động đến khách thể phát
triển theo mục đích, yêu cầu của mọi công việc trên thực tế là biểu hiện của
quá trình nâng cao; việc chuyển từ trạng thái chất lƣợng khác cao hơn, đáp
ứng mục tiêu yêu cầu phát triển của sự vật, hiện tƣợng cũng là biểu hiện của
sự nâng cao. Do đó, có thể hiểu nâng cao là quá trình tƣơng tác hợp quy luật
của các chủ thể làm biến đổi tổng thể các yếu tố, tạo ra một khả năng mới,
giúp con ngƣời nhận thức và hoạt động tốt hơn. Còn tiếp cận với tƣ cách là
hoạt động có ý thức của con ngƣời, thì “nâng cao” là hoạt động làm cho sự
vật, hiện tượng, quá trình phát triển đi lên.
Từ cách tiếp cận trên có thể quan niệm nâng cao kỹ năng tự học của sinh
viên ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh Trƣờng Đại học Sƣ phạm
Hà Nội 2 hiện nay là: Việc tạo ra sự chuyển biến rõ nét, tích cực về kỹ năng
16
đủ tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, học lực và sức khoẻ. Đƣợc
giáo dục đào tạo cơ bản, toàn diện theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà
trƣờng, tốt nghiệp ra trƣờng có trình độ học vấn đại học, trở thành giảng viên,
có trình độ, năng lực hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy.
Sinh viên có kiến thức khá vững chắc, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ
của chuyên ngành đào tạo giảng viên giáo dục quốc phòng và an ninh; Cùng
hệ thống kiến thức của các môn khoa học khác sẽ giúp sinh viên đào tạo chỉ
huy có phƣơng pháp tƣ duy khoa học, nhạy bén và hệ thống. Tuy nhiên, sinh
viên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh kỹ năng tự học còn ở mức thấp,
chủ yếu quen với cách học ở bậc học cũ. Do vậy, kết quả học tập còn chƣa
cao, nhiều sinh viên còn lúng túng với cách học ở bậc đại học. Đây là một
trong những vấn đề đặt ra đòi hỏi trong quá trình giáo dục đào tạo cần trang bị
kiến thức cơ bản về kỹ năng tự học nhằm nâng cao kỹ năng tự học cho sinh
viên trong quá trình học tập tại trƣờng.
Sinh viên sƣ phạm ngành giáo dục quốc phòng và an ninh ở Trung tâm
Giáo dục quốc phòng và an ninh Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 là con em
của cả ba miền Bắc, Trung, Nam trên cả nƣớc. Hiện nay, nhà trƣờng giao cho
Trung tâm quản lý 4 khoá sinh viên chính quy ngành giáo dục quốc phòng và
an ninh với tổng số 327 sinh viên. Sinh viên đƣợc sinh ra và lớn lên trên nhiều
vùng quê có truyền thống cách mạng, truyền thống hiếu học. Vì vậy, trong quá
trình học tập, rèn luyện luôn tích cực, chủ động trong học tập, luôn có tƣ tƣởng
ham học hỏi cầu tiến bộ để không ngừng hoàn thiện mình. Nhìn chung, sinh
viên chuyên ngành giáo dục quốc phòng và an ninh đều có thể lực khá tốt và
có ý thức vƣơn lên học hỏi, tiếp thu tri thức để khẳng định mình trong tập thể.
Đó là những đặc điểm thuận lợi giúp cho họ hoàn thành nhiệm vụ học tập tại
trƣờng, từng bƣớc hoàn thiện phẩm chất, năng lực toàn diện theo mục tiêu yêu
cầu đào tạo. Ở bậc học cũ, điều kiện học tập ít đƣợc tiếp cận với các phƣơng
19