TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
TRUNG TÂM GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH
************************
TRẦN MẠNH TOÀN
NGHIÊN CỨU QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA
MÁC- LÊNIN, TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ DÂN TỘC VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
DÂN TỘC Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên nghành: Giáo dục quốc phòng và an ninh
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. Hoàng Xuân Vinh
HÀ NỘI - 2017
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, bằng sự cố gắng, nỗ lực của bản thân và
những kiến thức được học tại trường, cùng với sự hướng dẫn tận tình của thầy
Thiếu tá. Thạc sĩ Hoàng Xuân Vinh, em đã hoàn thành khóa luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong Trung tâm Giáo dục
quốc phòng và an ninh Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Vì mới làm quen
với phương pháp nghiên cứu khoa học nên khóa luận không tránh những sai
sót. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quí báu của thầy, cô giáo
trong Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 và các bạn đồng nghiệp.
Chủ nghĩa xã hội
LLVT
Lực lượng vũ trang
QĐND
Quân đội nhân dân
GDQP-AN
Giáo dục quốc phòng và an ninh
QTCS
Quốc tế cộng sản
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................ ..8
CHƢƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƢ
TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN TỘC VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
DÂN TỘC Ở VIỆT NAM ............................................................................ 12
1.1. Một số vấn đề chung về dân tộc............................................................... 12
1.1.1. Khái niệm về dân tộc ............................................................................. 12
1.1.2. Tình hình quan hệ dân tộc trên thế giới ................................................ 14
Nam của các thế lực thù địch .......................................................................... 35
2.3.2. Giải pháp đấu tranh phòng, chống sự lợi dụng vấn đề dân tộc chống
phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch ......................................... 37
2.4. Ý nghĩa nghiên cứu quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc với sinh viên ngành giáo dục
quốc phòng và an ninh .................................................................................... 40
2.4.1. Trang bị cho sinh viên những nội dung cơ bản của Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc; những
quan điểm chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay ................... 40
2.4.2. Là cơ sở quan trọng để đấu tranh phòng chống sự lợi dụng vấn đề dân
tộc chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch ........................ 41
2.4.3. Sinh viên có được hành trang kiến thức quan trọng để nâng cao chất
lượng học tập một số nội dung kiến thức chuyên nghành .............................. 43
2.4.4. Tin tưởng tuyệt đối vào đường lối, quan điểm đúng đắn của Đảng và
Nhà nước ta về vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc.......................... 43
2.4.5. Tích cực, tự giác học tập nâng cao trình độ, hiểu biết về dân tộc và giải
quyết vấn đề dân tộc của Đảng và Nhà nước ta; góp phần thực hiện thắng lợi
đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề dân tộc................... 45
Kết luận chƣơng 2 ........................................................................................46
6
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................................47
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................................49
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
có nhiều diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch đang thực hiện chiến lược
“Diễn biến hòa bình” chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, nhằm
phủ nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, phủ nhận chủ nghĩa xã hội;
gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa các dân tộc. Đối với chúng ta, hai nhiệm vụ
chiến lược hiện nay phải được giải quyết đầy đủ và đúng đắn đó là xây dựng
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc xã hội chủ nghĩa bảo vệ độc lập
chủ quyền dân tộc gắn liền với xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Đó
cũng chính là giải quyết tốt mối quan hệ dân tộc với giai cấp, dân tộc Việt
Nam với cộng đồng thế giới đang đặt ra hiện nay... Xuất phát từ những lý luận
trên, tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam”
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận giải làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về dân tộc và giải quyết vấn đề
dân tộc.
Làm rõ nội dung, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam.
Làm rõ quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà Nước ta hiện
nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu, luận giải, chứng minh làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc là tất
yếu, khách quan và hoàn toàn đúng đắn sát thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Đưa ra các quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà Nước ta hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
9
đấu tranh phòng chống địch lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá cách mạng
Việt Nam giai đoạn hiện nay.
11
CHƢƠNG 1
QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƢ TƢỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN TỘC VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC
Ở VIỆT NAM
1.1. Một số vấn đề chung về dân tộc.
1.1.1. Khái niệm về dân tộc.
Lịch sử phát triển nhân loại đã chứng minh rằng: Dân tộc là một sản
phẩm của quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Tuy nhiên, ở mỗi
quốc gia, khu vực sự hình thành dân tộc có những đặc thù khác nhau, nhưng
nhìn chung vẫn có thể trình bày sự hình thành đó bằng những nét phổ quát
nhất. Có rất nhiều khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau;
trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất.
1.1.1.1. Nghĩa thứ nhất
Dân tộc chỉ cộng đồng người có mối quan hệ chặt chẽ và bền vững, có
chung sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, văn hóa có những đặc thù; xuất
hiện sau bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư
cộng đồng đó.
Với ý nghĩa này dân tộc là một bộ phận của quốc gia như dân tộc Kinh,
dân tộc Ba na, dân tộc Tày... ở nước ta.
1.1.1.2. Nghĩa thứ hai
Dân tộc chỉ một cộng đồng người ổn định, hình thành trong lịch sử, tạo
nên một quốc gia, trên cơ sở cộng đồng bền vững về: lãnh thổ quốc gia, kinh
tế, ngôn ngữ, truyền thống văn hóa, đặc điểm tâm sinh lý, ý thức về dân tộc và
tên gọi của dân tộc.
khẳng định có căn cứ ở chỗ dân tộc ra đời trong những quốc gia nhất định và
thường thì những nhân tố hình thành dân tộc chín muồi không tách rời với sự
chín muồi của nhân tố hình thành quốc gia chúng bổ xung và thúc đẩy lẫn
nhau.
13
1.1.2. Tình hình quan hệ dân tộc trên thế giới
Hiện nay, trước sự tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học công
nghệ, xu thế toàn cầu hóa kinh tế diễn ra mạnh mẽ, làm cho quan hệ giai cấp,
dân tộc diễn biến phức tạp, khó lường được thể hiện qua:
Một là, quan hệ dân tộc, sắc tộc trên thế giới hiện nay rất đa dạng, phong
phú, phức tạp là vấn đề thời sự nóng bỏng và mang tính toàn cầu. Mâu thuẫn,
xung đột dân tộc, sắc tộc diễn ra ở rất nhiều nơi. Những cuộc chiến tranh cục
bộ xung đột vũ trang, ly khai; những tranh chấp biển đảo, biên giới quốc gia
và tài nguyên thiên nhiên diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức
tạp.
Hai là, mối quan hệ đa dạng, sinh động phụ thuộc vào nhiều điều kiện
lịch sử cụ thể: Diễn ra trên mọi lĩnh vực, phản ánh cả những vấn đề lịch sử và
hiện tại, quốc gia và quốc tế. Đây là mối quan hệ sinh động phụ thuộc vào
điều kiện lịch sử cụ thể của từng quốc gia, từng khu vực. Quan hệ này mang
nhiều sắc thái khác nhau như: Tranh giành quyền lực chính trị giữa các phe
phái, xung đột về tranh chấp lãnh thổ, tranh chấp tài nguyên, đối đầu giữa các
liên minh quân sự, các dân tộc, xung đột do phân biệt chủng tộc.
Ba là, vấn đề nhạy cảm, phức tạp, tế nhị, bởi nó động chạm đến tâm lý, ý
thức tộc người, lợi ích, bản sắc văn hóa tộc người; là mối quan hệ lâu dài. Các
quan hệ đó thường gắn liền với vấn đề do lịch sử để lại, nó in sâu vào tâm lý,
ý thức của tộc người, rất dễ bị kích động, bùng nổ. Lênin đã từng nói: “Khi
giai cấp và vấn đề giai cấp mất đi thì dân tộc và vấn đề dân tộc vẫn tồn tại.
hoàn toàn thế lực phong kiến.
Mác và Ăngghen chỉ ra dân tộc có bốn đặc trưng sau:
Thứ nhất, cộng đồng về lãnh thổ. Lãnh thổ là chủ quyền không thể chia
cắt, là nơi sinh tồn, phát triển là nền tảng hình thành nên tổ quốc của mỗi quốc
gia, dân tộc.
15
Thứ hai, cộng đồng về kinh tế. Kinh tế là yếu tố thống nhất của một quốc
gia. Sự tương đồng và phù hợp về lợi ích càng lớn thì tính thống nhất của dân
tộc càng cao, sự cách biệt và đối lập về lợi ích giữa các bộ tộc dân tộc càng
cao.
Thứ ba, cộng đồng về ngôn ngữ. Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ riêng của
dân tộc mình, nhưng trong một quốc gia nhiều dân tộc bao giờ cũng có một
ngôn ngữ chung thống nhất. Ngôn ngữ là nền tảng văn hóa đồng thời cũng là
di sản tinh thần của mỗi dân tộc.
Thứ tư, cộng đồng về văn hóa. Văn hóa là yếu tố đặc biệt trong sự gắn
kết cộng đồng dân tộc thành một khối thống nhất. Mỗi dân tộc đều có nét đặc
trưng riêng, phong phú và đa dạng.
1.2.2. Quan điểm của Lênin về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt
Nam
Khi nghiên cứu vấn đề dân tộc và phong trào dân tộc trong điều kiện của
chủ nghĩa tư bản, V.I.Lênin đã phát hiện ra hai xu hướng khách quan :
1.2.2.1. Xu hướng thứ nhất
Ở những quốc gia khu vực chủ nghĩa tư bản gồm nhiều cộng đồng dân
cư có nguồn gốc tộc người khác nhau làm ăn, sinh sống đến một thời kỳ nào
đó; sự trưởng thành của ý thứ dân tộc, sự thức tỉnh đầy đủ về quyền sống của
mình và các cộng đồng dân cư đó muốn tách khỏi nhau để thành lập các dân
tộc độc lập. Bởi vì họ hiểu rằng, chỉ trong cộng đồng độc lập đó họ mới có
dân tộc gắn liền với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản nhất là khi đã
bước vào giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Lênin đã khái quát lại thành “Cương
lĩnh dân tộc” của Đảng cộng sản. Trong tác phẩm về quyền dân tộc tự quyết,
Người đã nêu rõ: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền
tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại”. Cương lĩnh dân tộc của
chủ nghĩa Mác - Lênin là một bộ phận không thể tách rời trong cương lĩnh
cách mạng của giai câp công nhân; là tuyên ngôn về vấn đề dân tộc của Đảng
17
cộng sản trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và
giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc. Cương lĩnh đã trở thành cơ sở lý
luận cho chủ trương, đường lối và chính sách dân tộc của các Đảng cộng sản
và Nhà nước xã hội chủ nghĩa, được thể hiện trong ba nội dung cơ bản sau
đây:
Thứ nhất, quyền bình đẳng giữa các dân tộc: Là nguyên tắc đầu tiên
trong cương lĩnh mác xít về vấn đề dân tộc. Đây là một phạm trù rất rộng, nó
không chỉ là sự bình đẳng giữa dân tộc này với dân tộc khác trong nội bộ của
một quốc gia mà còn là sự bình đẳng giữa các quốc gia dân tộc khác trong
quan hệ quốc tế. Theo V.I.Lênin nội hàm của quyền bình đẳng dân tộc bao
gồm bình đẳng trong việc thành lập quốc gia dân tộc riêng của họ.
Nội dung cơ bản của quyền bình đẳng dân tộc theo Lênin là các dân tộc
dù lớn hay là nhỏ dù đông người hay ít người điều có nghĩa vụ hay quyền lợi
ngang nhau mà không một dân tộc nào được giữ đặc quyền đặc lợi về chính
trị, kinh tế văn hóa với dân tộc khác. Đây là sự bình đẳng hoàn toàn một sự
bình đẳng toàn diện giữa các dân tộc trên mọi lĩnh vực về chính trị, kinh tế,
văn hóa.
Ý nghĩa sâu sắc về quyền bình đẳng dân tộc, Lênin chỉ rõ như sau: “Ý
nghĩa thật sự của việc đòi quyền bình đẳng chung quy chỉ là đòi thủ tiêu giai
vô nghĩa nếu không tự do tách ra”.
Như vậy, khẩu hiệu “Các dân tộc có quyền tự quyết” không phải là để
các dân tộc tách ra, mà chính là để các dân tộc xích lại gần nhau; sức mạnh
của khẩu hiệu đó là ở chỗ nó gạt bỏ tất cả mọi cơ sở về mưu đồ xâm lăng của
dân tộc này đối với dân tộc khác và nhằm cho sự chuẩn bị cho các dân tộc
tiến tới sự liên minh tự nguyên vào một quốc gia xã hội chủ nghĩa bao gồm
nhiều dân tộc.
Thứ ba, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại: Là nguyên tắc thứ ba
trong cương lĩnh của Lênin về vấn đề của các dân tộc. Trên thực tế, luận điểm
19
này lần đầu tiên được phát triển bởi C.Mác và Ph.Ăngghen và được Lênin kế
thừa và phát triển. Trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản đang phát triển mạnh mẽ
C.Mác và Ph.Ăngghen nhận thấy rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa không thể
thắng lợi được trong một nước riêng lẻ, mà có thể lật đổ giai cấp tư sản giai
cấp vô sản tất cả các nước phải liên hiệp lại.
Đó là sự liên minh quốc tế trong cuộc đấu tranh chống áp bức giai cấp và
áp bức dân tộc vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội. Lênin
kiên trì nguyên tắc thống nhất giữa các nhiệm vụ dân tộc và quốc tế của giai
cấp công nhân. Lênin cho rằng, việc giải phóng khỏi ách áp bức của tư bản,
xây dựng chủ nghĩa xã hội và cộng sản chủ nghĩa là nhiệm vụ quốc tế và của
tất cả những người vô sản, của tất cả nhân dân lao động và của tất cả các
nước.
Quan hệ mật thiết đến sự liên minh quốc tế và sự đoàn kết nhân dân lao
động của các dân tộc trên thế giới là luận điểm của Lênin về vấn đề hợp nhất
các dân tộc. Lênin cho rằng: “Nguyên tắc của chủ nghĩa dân tộc tư sản và sự
phát triển dân tộc nói chung, do đó sinh ra đặc tính của chủ nghĩa dân tộc tư
sản, những cuộc xung đột dân tộc không có lối thoát. Còn giai cấp tư sản thì
Ở thời đại mà chủ nghĩa đế quốc trở thành hệ thống thế giới, cách mạng
giải phóng dân tộc đã trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản, việc nhận
thức và giải quyết vấn đề dân tộc như thế nào có quan hệ đến toàn bộ đường
lối, chiến lược, sách lược của cách mạng giải phóng dân tộc. Vấn đề dân tộc
mà Hồ Chí Minh đề cập đến trong tư tưởng của mình được thể hiện tập trung
chủ yếu ở các nội dung về quyền dân tộc, quan hệ giữa dân tộc và giai cấp và
quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia, dân tộc trên thế giới.
1.3.1. Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của tất cả dân
tộc
21
Lịch sử Việt Nam là lịch sử không ngừng đấu tranh dựng nước và giữ
nước. Tinh thần yêu nước luôn luôn đứng hàng đầu của bảng giá trị tinh thần
truyền thống Việt Nam.
Đối với một người dân mất nước, cái quý nhất trên đời là độc lập của Tổ
quốc, tự do của nhân dân. Hồ Chí Minh cho rằng tất cả các dân tộc trên thế
giới đều bình đẳng; tức độc lập tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm
của tất cả các dân tộc. Sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, tận mắt chứng
kiến sự chà đạp của ngoại bang lên tự do độc lập của đất nước, được kết tinh,
hun đúc từ tinh thần nồng nàn yêu nước của người dân nước Việt, Người thấu
hiểu rằng: Đối với một người dân mất nước, cái quí nhất trên đời là độc lập
của tổ quốc, tự do của nhân dân. Trên đường tiếp cận chân lý cứu nước, Hồ
Chí Minh đã tiếp nhận những tư tưởng bất hủ trong Tuyên ngôn độc lập 1776
của Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1791 của cách mạng Pháp.
Từ những tinh hoa của dân tộc và thế giới, Người đã khái quát nên chân lý bất
di bất dịch, lẽ phải không ai có thể chối cãi được: “Tất cả các dân tộc trên thế
giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung
sướng và quyền tự do”. Đây là một tư tưởng vĩ đại, chẳng những mang tính
Người, phải được hiểu một cách đơn giản: Nước Việt Nam là của người Việt
Nam, mọi vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia Việt Nam phải do người Việt
Nam tự giải quyết. Và giá trị đích thực của độc lập dân tộc phải được thể hiện
bằng quyền tự do hạnh phúc của nhân dân, mà theo Người, độc lập dân tộc là
đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành đến trường. Tư
tưởng độc lập dân tộc, khát vọng độc lập dân tộc của Người được thể hiện ở
tinh thần “thà hy sinh tất cả”, “dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn” và vượt
lên tất cả là tinh thần “không có gì quí hơn độc lập tự do”.
Có thể nói, tinh thần “Không có gì quí hơn độc lập tự do” là tư tưởng và
lẽ sống của Hồ Chí Minh. Nó là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng không
chỉ của dân tộc Việt Nam mà còn của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Vì lẽ
23
đó, Người không chỉ được tôn vinh là “Anh hùng giải phóng dân tộc” của
Việt Nam mà còn là “Danh nhân văn hóa thế giới”, “Người khởi xướng cuộc
đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa trong thế kỷ XX”.
1.3.2. Kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc với chủ
nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản
Ngay từ khi lựa chọn con đường cách mạng vô sản, ở Hồ Chí Minh đã
có sự gắn bó thống nhất giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên
của Đảng, Người xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt
Nam là: làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã
hội cộng sản. Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa phản ánh quy luật khách quan của
sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản, vừa phản ánh
mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải
phóng giai cấp và giải phóng con người.
Xóa bỏ ách áp bức dân tộc mà không xóa bỏ tình trạng bóc lột và áp bức
1.3.3. Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn ở các nước đang đấu tranh
giành độc lập
Năm 1924 Nguyễn Ái Quốc viết: Ở các nước thuộc địa “Chủ nghĩa dân
tộc là một động lực lớn của đất nước”. Khái niệm chủ nghĩa dân tộc mà
Nguyễn Ái quốc dùng ở đây, như Mác nói: “Không phải theo cái nghĩa như
giai cấp tư sản hiểu”. Chủ nghĩa dân tộc bản xứ mà Nguyễn Ái Quốc nói ở
đây chính là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính của nhân dân
Việt Nam đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, vốn là một động lực
tinh thần vô giá trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập
dân tộc; nó khác về bản chất so với chủ nghĩa dân tộc sôvanh, vị kỷ của giai
cấp tư sản đã bị lịch sử lên án. Theo phân tích của Nguyễn Ái Quốc, do kinh
25