Chủ nghĩa mác lênin, tư tưởng hồ chí minh về tôn giáo và việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo tin lành ở gia lai hiện nay - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------

NGUYỄN THÁI BÌNH 
 

CHỦ NGHĨA MÁC‐LÊNIN, TƯ TƯỞNG  
HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN GIÁO VÀ VIỆC  
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO  
ĐỐI VỚI ĐẠO TIN LÀNH Ở GIA LAI HIỆN NAY

 
 
 
 
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC 

Thành phố Hồ Chí Mính – 2010


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------

NGUYỄN THÁI BÌNH 
 

CHỦ NGHĨA MÁC‐LÊNIN, TƯ TƯỞNG  
HỒ CHÍ MINH VỀ  TÔN GIÁO VÀ VIỆC  
THỰC HIỆN  CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO  

Trang
PHẦN MỞ ĐẦU....................................................................................................................2
1. Tính cấp thiết của đề tài ..............................................................................................2
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài .................................................................3
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án..............................................................................9
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu ....................................................................................10
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu................................................................10
6. Cái mới của luận án...................................................................................................10
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn ......................................................................................11
8. Kết cấu của luận án ..................................................................................................11
PHẦN NỘI DUNG..............................................................................................................12
CHƯƠNG 1: CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ TÔN GIÁO.............................................................................................12
1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo .................................................12
1.2. Tính chất, chức năng, đặc điểm và vai trò của tôn giáo .........................................28
1.3. Một số hình thức tôn giáo trong lịch sử .................................................................36
1.4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo........................................................................47
1.5. Thái độ của đảng mác – xít với tôn giáo ...............................................................61
Kết luận chương 1 .........................................................................................................68
CHƯƠNG 2: ĐẠO TIN LÀNH VÀ SỰ DU NHẬP, PHÁT TRIỂN
ĐẠO TIN LÀNH Ở GIA LAI ..................................................................70
2.1. Khái quát về đạo Tin lành ......................................................................................70
2.2. Sự du nhập và phát triển đạo Tin lành ở Gia Lai ...................................................87
Kết luận chương 2 .......................................................................................................129
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO ĐỐI VỚI ĐẠO TIN LÀNH
Ở GIA LAI HIỆN NAY............................................................................130
3.1. Quan điểm và chính sách tôn giáo của nhà nước Việt Nam ................................130
3.2. Việc thực hiện chính sách tôn giáo Tin lành ở Gia Lai........................................139
3.3. Những hạn chế trong quá trình giải quyết vấn đề phát triển trái phép

là vấn đề nhạy cảm trong cuộc sống hàng ngày của họ; một chính sách mà kẻ
thù luôn tìm cách đối lập, xuyên tạc, lợi dụng để phá hoại sự phát triển của đất
nước ta, nhất là trong âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” hòng lật đổ chế
độ ta hiện nay.


3
Gia Lai là nơi cư trú của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số và cũng là nơi
tồn tại nhiều tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Trong các tôn giáo ngoại nhập
hiện có ở Gia Lai, đạo Tin lành có lịch sử du nhập muộn nhất, nhưng sau khi
du nhập đạo Tin lành nhanh chóng tìm được chỗ đứng cho mình trong vùng
đồng bào các dân tộc thiểu số. Trong những năm gần đây, đạo Tin lành phát
triển với tốc độ nhanh, trên diện rộng và đã gây ra nhiều tác động tiêu cực về
tư tưởng chính trị và văn hóa - xã hội, như phá vỡ những tín ngưỡng tôn giáo
truyền thống và làm mai một các phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc
thiểu số; làm xáo trộn và rạn nứt các mối quan hệ xã hội, trong đó có việc gây
mất đoàn kết nội bộ trong từng gia đình, dòng họ, buôn làng, giữa những
người theo đạo và những người không theo đạo,…điều đó đang tiềm tàng
nguy cơ gây mất ổn định về chính trị-xã hội của tỉnh, tạo kẽ hở cho bọn xấu
khai thác lợi dụng. Thực tế thời gian qua, các thế lực thù địch và bọn phản
động quốc tế đang tìm mọi cách lợi dụng việc truyền đạo và theo đạo ở những
vùng đông đồng bào dân tộc thiểu số để thực hiện các ý đồ chính trị chống
phá nhà nước ta, điển hình như vụ gây bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên nói
chung và Gia Lai nói riêng vào đầu năm 2001 và 2004. Do đó, việc đồng bào
các dân tộc thiểu số ở Gia Lai gia nhập đạo Tin lành một cách ồ ạt, nhanh
chóng đang là vấn đề tư tưởng, chính trị - xã hội rất phức tạp, liên quan đến
chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo cả trước mắt lẫn lâu dài.
Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu “Quan điểm Mác- Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với
đạo Tin lành Gia Lai hiện nay” là vấn đề hết sức cần thiết, có ý nghĩa cả về lý

cuốn sách của Viện Mác-Lênin Trung Quốc giới thiệu: Mác, Ăngghen, Lênin
bàn về tôn giáo và chủ nghĩa vô thần, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2001 do Trần Khang và Lê Cự Lộc dịch … Tập bài giảng tôn giáo học


5
của Nguyễn Hữu Vui - Trương Hải Cường, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2003; Đỗ Quang Hưng (chủ biên), Nhà nước và giáo hội, Nhà xuất
Tôn giáo, Hà nội, 2003; Paul Poupard, Các tôn giáo (bản dịch của Nguyễn
Mạnh Hoà), Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 1999. Bùi Thị Kim Quỳ, Mối
quan hệ thời đại dân tộc tôn giáo, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2002. Viên
thông tin khoa học xã hội, tôn giáo và đời sống hiện đại, Hà Nội, tập1 và tập
2, 1997; tập 3 (1998); tập 4 (2001). Ngoài ra còn có hàng loạt bài viết như
Nguyễn Chính, Đảng viên với tín ngưỡng, tôn giáo, Tạp chí Cộng sản, số 11,
tháng 6-1998. Nguyễn Đức Lữ, Sự biến động và xu hướng của tôn giáo trong
thời đại ngày nay, Tạp chí Thông tin lí luận, số 11-1997. Nguyễn Hữu Vui,
“Tôn giáo và đạo đức - Nhìn từ mặt triết học”, Tạp chí triết học, số 4-1993.
Đỗ Quang Hưng, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng”,
Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1-1999. A.Xuhốp, Nguồn gốc nhận thức
luận của tôn giáo, Văn Phủng dịch, Tạp chí Học tập, số 7-1960. Ôpơrescô,
Chủ nghĩa Mác-Lênin về nguồn gốc, bản chất của tôn giáo, Tạp chí Học tập,
số 12-1961 v.v... các công trình đó đã làm rõ những tư tưởng cơ bản của chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn gốc, bản chất cũng như cơ
sở tồn tại của tôn giáo nói chung.
Chính sách tôn giáo là một vấn đề rất quan trọng trong việc chuyển hoá
quan điểm, đường lối vào đời sống thực tiễn. Chính sách tôn giáo phù hợp có
ý nghĩa trực tiếp quyết định đến chất lượng, hiệu quả của công tác tôn giáo.
Năm 1988, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành cuốn Tìm hiểu
chính sách của Đảng và Nhà nước đối với Đạo Thiên chúa giáo của Nguyễn
Văn Đông. Ban Tôn giáo Chính phủ, Tập văn bản về tổ chức và đường hướng

với công tác an ninh, đề tài khoa học cấp bộ, Mã số: 93-045-002, Hà Nội
1995. Đây là đề tài nghiên cứu về đạo Tin lành gắn với một địa phương khá
sớm ở nước ta, tuy phạm vi nghiên cứu giới hạn các tỉnh miền núi phía Bắc


7
nước ta, nhưng công trình có tính gợi mở cho hướng nghiên cứu mới. Như là
sự tiếp nối công trình Đạo Tin lành với các dân tộc ít người vùng Nam
Trường sơn - Tây Nguyên của tác giả Đỗ Hữu Nghiêm, Nhà xuất bản thành
phố Hồ Chí Minh xuất bản 1995, khi tác giả nghiên cứu quá trình du nhập và
phát triển của đạo Tin lành ở vùng miền núi phía Nam Trường Sơn -Tây
Nguyên, lý giải và tìm ra nguyên nhân đạo Tin lành phát triển mạnh ở vùng
các dân tộc thiểu số sinh sống. Một số vấn đề về tôn giáo Tin lành ở Tây
Nguyên - Ban dân vận Trung ương- Ban tôn giáo Chính phủ 1994. Tiếp đến là
đề tài cấp nhà nước là Đạo Tin lành ở Việt Nam - Thực trạng, xu hướng phát
triển và những vấn đề đặt ra cho công tác lãnh đạo, quản lý do Trung tâm
khoa học về Tín ngưỡng và tôn giáo, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh thực hiện năm 1998, đã chú trọng tìm hiểu, khai thác sâu mối quan hệ
trực tiếp giữa đạo Tin lành với các lĩnh vực chính trị, đời sống xã hội và đời
sống tâm linh ở Việt Nam hiện nay. Đề tài khoa học cấp Bộ: Các yếu tố ảnh
hưởng đến việc thực hiện chính sách kinh tế văn hoá - xã hội trên địa bàn Tây
Nguyên - những vấn đề đặt ra đối với an ninh trật tự, Tiến sĩ Hoàng Tăng
Cường làm chủ nhiệm đề tài. Tác giả của công trình đã chú trọng nghiên cứu
tác động của đạo Tin lành đối với việc thực hiện chính sách kinh tế - xã hội để
từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục những yếu tố ảnh hương tiêu cực,
phát huy những yếu tố ảnh hưởng tích cực đế việc thực hiện chính sách kinh
tế, văn hoá- xã hội trên địa bàn Tây Nguyên. Đề tài khoa học cấp Bộ: Đạo Tin
lành những vấn đề liên quan đến an ninh trật tự ở Việt Nam hiện nay, thạc sĩ
Lại Đức Hạnh chủ nhiệm đề tài. Công trình này đi sâu nghiên cứu bối cảnh ra
đời của đạo Tin lành, đặc điểm giáo lý, luật lệ, lễ nghi và tổ chức giáo hội của

C.Mác phát biểu: “Con người chính là thế giới những con người, là nhà nước,
là xã hội. Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo” [92, tr.226]. Nên khi
nghiên cứu tôn giáo, không thể bỏ qua những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa


9
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, đồng thời cũng phải từ thực
tiễn để làm phong phú thêm lý luận. Từ thực tế đó, luận án được triển khai
trên cơ sở kế thừa, học hỏi những lý luận chung và kinh nghiệm của các nhà
khoa học đi trước, từ đó phát triển một hướng đi khá độc lập cho mình, đó là
đi sâu nghiên cứu Quan điểm Mác -Lênin và Tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo,
việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Tin lành ở Gia Lai hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Luận án trình bày một cách có hệ thống các luận điểm về tôn giáo của
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và
các chính sách cơ bản của Nhà nước ta về tôn giáo nói chung và tôn giáo Tin
lành nói riêng. Tổng kết thực tiễn công tác tôn giáo đối với đạo Tin lành ở Gia
Lai, từ đó đề xuất việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Tin lành ở
Gia Lai hiện nay.
Để đạt được mục đích này, luận án có những nhiệm vụ sau đây:
- Phân tích những luận điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư
tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo;
- Khái quát quá trình du nhập đạo Tin lành vào Việt Nam nói chung và
tỉnh Gia Lai nói riêng;
- Trình bày quan điểm và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước
Việt Nam ;
- Phân tích, đánh giá việc thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà
nước Việt Nam đối với đạo Tin lành ở Gia Lai hiện nay;
- Đề xuất một số giải pháp có tính định hướng đối với việc thực hiện
chính sách tôn giáo đối với đạo Tin lành ở Gia Lai hiện nay .



11
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản có tính định hướng trong việc thực
hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Tin lành ở Gia Lai hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Để thiết thực góp phần vào việc thực hiện Nghị quyết Trung ương bảy
khoá IX của Đảng “Tổng kết việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng
về công tác tôn giáo, tăng cường nghiên cứu cơ bản, tổng kết thực tiễn, góp
phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng và thực hiện các chủ
trương, chính sách trước mắt và lâu dài đối với tôn giáo” [15, tr.52]. Nội dung
của những kết luận được rút ra từ luận án là những luận cứ khoa học giúp cho
việc xây dựng và triển khai thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước
về tôn giáo trên địa bàn Tây Nguyên nói chung và tỉnh Gia Lai nói riêng.
- Nội dung của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc
giảng dạy bộ môn Tôn giáo học, Văn hoá học, Triết học và những vấn đề liên
quan đến Dân tộc học. Đồng thời nó cũng là tài liệu bổ ích cho những ai quan
tâm nghiên cứu những vấn đề tôn giáo ở Gia Lai.
- Nội dung của những giải pháp mà luận án đưa ra cũng có ý nghĩa
khuyến nghị bổ ích đối với những cán bộ làm công tác tôn giáo ở vùng đồng
bào dân tộc thiểu số có đông tín đồ Tin lành tỉnh Gia Lai hiện nay
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, thư mục các tài liệu tham khảo,
luận án gồm có 3 chương.
Chương 1: Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
Chương 2: Đạo Tin lành và sự du nhập, phát triển đạo Tin lành ở Gia Lai
Chương 3: Quan điểm và những giải pháp thực hiện những chính sách
tôn giáo đối với đạo Tin lành ở Gia Lai hiện nay.
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

tôn giáo khác nhau trên thế giới.


13
Thuật ngữ “religion” được dịch thành “Tông giáo” đầu tiên xuất hiện ở
Nhật Bản vào đầu thế kỷ XVIII vào sau đó du nhập vào Trung Hoa. Tuy
nhiên, ở Trung Hoa, vào thế kỷ XIII, thuật ngữ Tông giáo lại bao hàm một ý
nghĩa hoàn toàn khác: nó nhằm chỉ đạo Phật (Giáo: đó là lời thuyết giảng của
Đức Phật, Tông: lời của các đệ tử Đức Phật).
Thuật ngữ Tông giáo được du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX
và được đăng trên các báo, nhưng do kỵ húy của vua Thiệu Trị nên được gọi
là “Tôn giáo”.
Như vậy, thuật ngữ tôn giáo ban đầu được sử dụng ở châu Âu nhằm chỉ
một tôn giáo sau đó thuật ngữ này lại làm nhiệm vụ chỉ những tôn giáo.
Khái niệm tôn giáo là một vấn đề được giới nghiên cứu về tôn giáo bàn
cãi rất nhiều. Trong lịch sử đã từng tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về
tôn giáo:
Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và
con người”.
Khái niệm mang dấu hiệu đặc trưng của tôn giáo: “Tôn giáo là niềm tin
vào cái siêu nhiên”.
Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá
nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô
đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo”.
Khái niệm mang khía cạnh bản chất xã hội của tôn giáo theo C.Mác:
“Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới
không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có
tinh thần” [43, tr. 570].
Khái niệm mang khía cạnh nguồn gốc tôn giáo của Ph. Ăngghen: “Tôn
giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo- vào trong đầu óc con người- của

Jêsu xuất hiện và nói về tình yêu của Thiên Chúa – từ bấy đến nay lịch sử tôn


15
giáo đã phải tính hàng nghìn năm, còn nếu kể cả tôn giáo nguyên thủy nữa thì
có thể nói mà không sợ cường điệu rằng tôn giáo đã tồn tại khá lâu trong lịch
sử phát triển của xã hội loài người, là một bộ phận cấu thành quan trọng của
đời sống xã hội loài người. Hầu hết giới khoa học đều thống nhất rằng chỉ khi
hình thành con người hiện đại (Homo sapiens), hay còn gọi là người khôn
ngoan, chỉ khi con người đã bắt đầu tổ chức thành xã hội, tôn giáo mới manh
nha xuất hiện.“Thời kỳ đó cách đây khoảng 95.000-35.000 năm trước Công
nguyên. Gọi là người hiện đại, vì về phương diện sinh học, cấu trúc cơ thể của
nó đã gần gũi với con người hiện nay” [82, tr.41]. Với ba hình thức tôn giáo
rõ rệt, như S.A.Tokarev đã phỏng đoán “ Đạo vật tổ (tôtem), ma thuật và tang
lễ” [72, tr 75]. Đó là thời kỳ cách mạng đầu tiên đưa Con người trở thành Con
người xã hội trên hành tinh. Sự xuất hiện các hình thức này diễn ra ở những
thời điểm khác nhau, trên những khu vực khác nhau trên thế giới.
Do vậy, Ph.Ăngghen đã có nhận xét “tôn giáo sinh ra trong một thời đại
hết sức nguyên thuỷ…Do đó, những khái niệm tôn giáo ban đầu ấy, thường là
chung cho mỗi tập đoàn những dân tộc cùng dòng máu; thì sau khi các tập
đoàn đó phân chia ra thành nhiều mãng đều phát triển lên một cách đặc thù ở
mỗi dân tộc” [49,tr. 445].
Trong lịch sử, đã từng có thời kỳ tôn giáo ngự trị toàn bộ đời sống xã
hội, chi phối cuộc sống của con người không chỉ phần hồn mà cả phần xác,
không chỉ bên đạo mà cả bên đời. Lịch sử cũng đã từng biết đến những vụ
đụng độ tôn giáo quyết liệt, những cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu, tàn sát
lẫn nhau giữa các giáo phái.
Tôn giáo là gì mà có ma lực cuốn hút người ta, làm cho người ta sùng
tín mãnh liệt, nó có thể đồng thời liên kết người ta hoặc ngược lại, đẩy người
ta đến chỗ kỳ thị lẫn nhau sâu sắc như vậy? Nó là gì mà có thể tác động tới

diện, không phải là đơn hướng mà đa hướng, hơn nữa những phương hướng


17
đó nhiều khi lại trái ngược nhau. Trước những biến đổi rộng lớn, sâu sắc và
mạnh mẽ của đời sống xã hội, trước sự lấn sân đầy thách đố và ngày càng
nghiêm trọng, gay gắt giữa sự phát triển của khoa học công nghệ và trào lưu
hiện đại tôn giáo, cụ thể là bằng cơ chế riêng vốn có của mình, tôn giáo đang
cố gắng tự điều chỉnh, tự thích nghi với môi trường mới đang biến đổi, trong
đó có sự biến đổi của khoa học và công nghệ đang giữ vững lấy thánh địa
thiêng liêng của mình để tiếp tục tồn tại lâu dài.
1.1.2. Nguồn gốc của tôn giáo
Tôn giáo xuất hiện từ rất lâu và con người mặc nhiên chấp nhận nó.
Việc đặt ra câu hỏi: “Tôn giáo là gì” mới chỉ được giới khoa học đặt ra trong
thời gian gần đây, khi mà vấn đề tôn giáo trở thành bức xúc và phức tạp. Khi
câu hỏi này được đặt ra cũng là lúc mà tôn giáo trở thành đối tượng nghiên
cứu của nhiều ngành khoa học riêng biệt. Đối tượng nghiên cứu của tôn giáo
xuất phát từ châu Âu khá sớm nhưng bộ môn khoa học về tôn giáo chỉ ra đời
vào cuối thế kỷ XIX.
Tôn giáo là một sản phẩm của lịch sử. Trong các tác phẩm của mình C.
Mác đã khẳng định: “Con người sáng tạo ra tôn giáo, chứ tôn giáo không sáng
tạo ra con người” [92, tr.226]. Tôn giáo là một thực thể khách quan của loài
người nhưng lại là một thực thể có nhiều quan niệm phức tạp về cả nội dung
cũng như hình thức biểu hiện. Về mặt nội dung, nội dung cơ bản của tôn giáo
là niềm tin (hay tín ngưỡng) tác động lên các cá nhân, các cộng đồng. Tôn
giáo thường đưa ra các giá trị có tính tuyệt đối làm mục đích cho con người
vươn tới cuộc sống tốt đẹp và nội dung ấy được thể hiện bằng những nghi
thức, những sự kiêng kỵ…
Rất khó có thể đưa ra được một định nghĩa về tôn giáo có thể bao hàm
mọi quan niệm của con người về tôn giáo nhưng có thể thấy rõ rằng khi nói


19
nguyên thủy trong cuộc đấu tranh với giới tự nhiên là do sự hạn chế, sự yếu
kém của các phương tiện tác động thực tế của họ vào thế giới xung quanh.
Khi không đủ phương tiện, công cụ để đảm bảo kết quả, mong muốn trong lao
động, người nguyên thủy đã tìm đến phương tiện tưởng tượng hư ảo, nghĩa là
tìm đến tôn giáo. Ph.Ăngghen nhấn mạnh rằng tôn giáo trong xã hội nguyên
thủy xuất hiện do kết quả phát triển thấp của trình độ lực lượng sản xuất.
Trình độ thấp của sự phát triển sản xuất đã làm cho con người không có khả
năng nắm được một cách thực tiễn các lực lượng tự nhiên. Thế giới bao quanh
người nguyên thủy đã trở thành cái thù địch, bí hiểm, hùng hậu đối với họ.
Chúng ta cần thấy rằng, sự thống trị của tự nhiên đối với con người không
phải được quyết định bởi những thuộc tính và quy luật của giới tự nhiên, mà
quyết định bởi tính chất và mối quan hệ của con người với tự nhiên, nghĩa là
bởi sự phát triển kém của lực lượng sản xuất xã hội, mà trước hết là công cụ
lao động.
Như vậy, không phải bản thân giới tự nhiên sinh ra tôn giáo, mà là mối
quan hệ đặc thù của con người với giới tự nhiên, do trình độ sản xuất quyết
định. Đây là một nguồn gốc xã hội của tôn giáo.
Nhờ hoàn thiện những phương tiện lao động và toàn bộ hệ thống sản
xuất vật chất mà con người ngày càng nắm được lực lượng tự nhiên nhiều
hơn, càng ít phụ thuộc một cách mù quáng vào nó, do đó dần dần khắc phục
được một trong những nguồn gốc quan trọng của tôn giáo.
Về mối quan hệ giữa người và người, nguồn gốc xã hội của tôn giáo
còn bao gồm cả phạm vi các mối quan hệ giữa con người với nhau, nghĩa là
bao gồm các mối quan hệ xã hội, trong đó có hai yếu tố giữ vai trò quyết định
là tính tự phát của sự phát triển xã hội và ách áp bức giai cấp cùng chế độ
người bóc lột người.



21
bất lực trước tự nhiên. Họ thần thánh hoá sức mạnh của tự nhiên và sau đó lại cầu
xin sự che chở, cứu giúp của những sức mạnh đã được thần thánh hoá đó.
Ph.Ăngghen cho rằng “Trong những thời kỳ đầu của lịch sử, chính những thế lực
thiên nhiên là những cái trước tiên được phản ánh như thế, và trong quá trình phát
triển hơn nữa thì ở những dân tộc khác nhau, những lực lượng thiên nhiên ấy đã
được nhân cách hoá một cách hết sức nhiều vẻ và hết sức hỗn tạp” [48, tr.437]
Về sau, trong xã hội có giai cấp thì cùng với lực lượng bí ẩn của giới tự nhiên
là lực lượng mang tính xã hội luôn thống trị cuộc sống hàng ngày của quần chúng
nhân dân. Ph.Ăngghen cho rằng: “Chẳng bao lâu, bên cạnh những lực lượng thiên
nhiên lại còn có cả những lực lượng xã hội tác động- những lực lượng này đối lập
với con người, một cách cũng xa lạ lúc đầu cũng không thể hiểu được đối với họ, và
cũng thống trị họ với cái vẻ tất yếu bề ngoài giống như bản thân những lực lượng tự
nhiên vậy. Những nhân vật ảo tưởng, lúc đầu chỉ phản ánh những sức mạnh huyền
bí của các lực lượng tự nhiên, thì nay lại vì thế có cả những thuộc tính xã hội và trở
thành những đại biểu cho các lực lượng lịch sử” [48, tr.437].
Bế tắc trong đời sống hiện thực, con người tìm đến sự giải thoát trong
đời sống tinh thần, họ tìm đến tôn giáo. Trong xã hội có giai cấp, sự áp bức
bóc lột giai cấp, sự tàn bạo, bất công, chiến tranh, đói khổ và bệnh tật…cũng
là những nguyên nhân xã hội làm nảy sinh tôn giáo. V.I. Lênin cho rằng “sự
bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống bọn bóc lột tất
nhiên đẻ ra lòng tin vào cuộc đời tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia, cũng giống y
như sự bất lực của con người dã man trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên
đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu” [88, tr.46].
Theo Ph. Ăngghen “trong xã hội tư sản hiện nay con người bị thống trị
bởi những quan hệ kinh tế do chính họ tạo ra, bởi những tư liệu sản xuất do
chính họ sản xuất ra, như là bởi một lực lượng xa lạ. Do đó cơ sở thực tế của
sự phản ánh có tính chất tôn giáo của hiện thực vẫn tiếp tục tồn tại và cùng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status