ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
MÔN CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN QUA CÁC TÁC PHẨM
Câu 1: Vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, sự phát triển và con
đường thể hiện vai trò ấy trong tác phẩm “Gia đình thần thánh” của K. Marx
& F. Engels
Câu 2: Nguyên tắc tuyên truyền, vận động quần chúng trong tác phẩm “Sửa
đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh?
Câu 3: Những tư tưởng chủ yếu về giai cấp vô sản trong tác phẩm “Gia đình
thần thánh” của Mác- Ăngghen?
Câu 4. Phân tích khái niệm dân vận, nội dung, phương pháp công tác dân vận
và nghệ thuật công tác dân vận trong tác phẩm “Dân vận” của Chủ tịch Hồ
Chí Minh.
TRẢ LỜI
Câu 1: Vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, sự phát triển và con
đường thể hiện vai trò ấy trong tác phẩm “Gia đình thần thánh” của K. Marx
& F. Engels
Quần chúng nhân dân là: cộng đồng người có cùng lợi ích căn bản, liên
kết thành tổ chức với cùng người lãnh đạo để giải quyết những vấn đề kinh tế chính trị - xã hội của thời đại họ. Trong đó hạt nhân là các tầng lớp lao động sản
xuất.
QCND gồm:
- Các tầng lớp lao động sản xuất. Đây là thành phần hạt nhân của QCND.
- Tầng lớp chống lại giai cấp thống trị.
- Tầng lớp thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.
Con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử nhưng không phải theo phương thức
hành vi đơn lẻ, rời rạc, cô độc của mỗi con ngưới mà theo phương thức liên kết
những con người thành sức mạnh cộng đồng xã hội có tổ chức, có lãnh đạo của
những cá nhân hay các tổ chức chính trị, xã hội nhất định nằm giải quyết các
nhiệm vụ lịch sử trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa của xã hội - cộng
đồng đó chính là quần chúng nhân dân.
giải phóng tư tưởng của mình khỏi các tư tưởng phản động của các giai cấp thống
trị, bóc lột. Quan trọng hơn, nhân tố quyết định sự giải phóng QCND là họ phải
đứng lên hành động thực tiễn, tham gia vào các phong trào cách mạng do các lực
lượng chính trị tiến bộ, tiên phong lãnh đạo.
Những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mac khẳng định con đường, cách thức
sáng tạo và quyết định sự phát triển của QCND không gì khác hơn là hoạt động
lịch sử: “Hoạt động lịch sử càng lớn lao thì do đó, quần chúng, mà hoạt động lịch
sử đó là sự nghiệp của mình, cũng sẽ lớn lên theo”
Thực tiễn lịch sử và sự phát triển nhân loại đã minh chứng vai trò quyết
định lịch sử của quần chúng nhân dân được bằng ở các nội dung sau:
Thứ nhất, quần chúng nhân dân là lực lượng sản suất cơ bản của xã hội, trực
tiếp sản xuất ra của cải vật chất, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Con người muốn tồn tại phải có các điều kiện vật chất cần thiết, mà những nhu cầu
đó chỉ có thể đáp ứng được thông qua sản xuất. Lực lượng sản xuất cơ bản là dông
đảo quần chúng nhân dân lao động bao gồm cả lao động chân tay và lao động trí
óc. Hoạt động sản xuất của quần chúng nhân dân là điều kiện cơ bản để quyết định
sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Thứ hai, quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng
xã hội, không có cuộc chuyển biến cách mạng nào mà không là hoạt động đông
đảo của quần chúng nhân dân. Họ là lực lượng cơ bản của cách mạng, đóng vai trò
quyết định thắng lợi của mọi cuộc cách mạng xã hội. Bởi vậy, nhân dân lao động
là chủ thể của các quá trình kinh tế, chính trị, xã hội, đóng vai trò là động lực cơ
bản của mọi cuộc cách mạng xã hội.
Thứ ba, quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra những giá trị văn hoá tinh
thần. Quần chúng nhân dân đóng vai trò to lớn trong sự phát triển của khoa học,
nghệ thuật, văn học, đồng thời áp dụng những thành tựu đó vào hoạt động thực
tiễn.
Tóm lại, với những luận điểm sắc bén trong tác phẩm GIA ĐÌNH THẦN
THÁNH, Mác và Ăngghen đã khẳng định vai trò quyết định của quần chúng nhân
dân trong lịch sử, QCND chính là chủ thể sáng tạo và làm nên lịch sử, là lực lượng
và Người sớm khẳng định: quần chúng nhân dân là gốc của sự nghiệp cách mạng;
cách mạng là việc chung của cả dân chúng. Vì vậy, công tác tuyên truyền, vận
động quần chúng tham gia vào phong trào cách mạng là một nhiệm vụ hết sức
quan trọng và đây là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên
phải tìm cách thuyết phục, thu hút quần chúng nhân dân cùng tham gia thì cách
mạng mới thành công.
Theo quan điểm của Người về nguyên tắc tuyên truyền, vận động quần chúng
được thể hiện trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết vào năm 1947, bao gồm
các nội dung sau:
Môt là, phải lấy dân làm gốc, gắn bó mật thiết với nhân dân, luôn tin ở dân
và sức mạnh của quần chúng.
Theo Người, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội là
sự nghiệp của toàn dân Việt Nam chống lại kẻ thù của dân tộc và giai cấp là chủ
nghĩa tư bản đế quốc cướp nước và tay sai của chúng. Trong hai cuộc kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ, Hồ Chí Minh luôn lấy nhân dân làm nguồn sức mạnh.
Quan điểm "lấy dân làm gốc" xuyên suốt quá trình chỉ đạo chiến tranh của Người.
Với lực lượng đông đảo có tổ chức và với phương pháp cách mạng bạo lực của
quần chúng, Hồ Chí Minh đã phát huy sức mạnh dân tộc, kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại đưa Cách mạng tháng Tám 1945 và hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Thực tiễn lịch sử
đã khẳng định, mối liên hệ mật thiết, gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân là
vấn đề có ý nghĩa sống còn với Đảng và cách mạng Việt Nam; mối liên hệ đó đã
không ngừng được củng cố, tăng cường và phát triển qua mọi giai đoạn của cách
mạng. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người đã khẳng định: “sự lãnh đạo
trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải trong quần chúng ra, trở lại nơi
quần chúng”.
Dưới ngọn cờ độc lập, tự do của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo,
nhân dân ta đã “thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng”,
nhân dân. Đảng viên đã trở thành tấm gương sáng để nhân dân noi theo, phấn đấu.
Nhân dân tin vào Đảng, đi theo Đảng, thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng, thừa nhận
Đảng là của chính mình.
Từ nhân dân mà ra, Đảng đã chăm lo phục vụ lợi ích của nhân dân, ngày càng
gắn bó với nhân dân và chính quan hệ mật thiết ấy tạo nên sức mạnh của Đảng và
toàn dân tộc. Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân là mối quan hệ hai chiều gắn
bó, tương hỗ như một lẽ tự nhiên. Nhân dân cần có Đảng lãnh đạo thì mới có
hướng đi đúng đắn và cách mạng mới giành được thắng lợi. Đảng cần có dân để có
sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn, để có năng lực chèo lái con thuyền cách
mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp,
của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác... Tất cả đường lối, phương châm,
chính sách... của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân...”. Người
cũng chỉ ra rằng: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ
là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Sự thống nhất giữa mục tiêu và lợi ích
của Đảng với mục tiêu, lợi ích, nguyện vọng của nhân dân là cơ sở nền tảng vững
chắc của mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
Bằng việc đoàn kết, tập hợp, tổ chức và lãnh đạo toàn dân vượt qua muôn vàn
khó khăn, thách thức, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã từng bước thực hiện
mục tiêu, lý tưởng của mình: giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước; đưa cả
nước đi lên chủ nghĩa xã hội; thực hiện đường lối đổi mới đạt được những thành
tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. Những thắng lợi vĩ đại và thành tựu to lớn của cách
mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là CT HCM đã làm cho
quần chúng nhân dân càng thêm tin yêu, gắn bó với Đảng, thừa nhận sự lãnh đạo
của Đảng - lãnh tụ duy nhất, đáng tin cậy của mình, tạo nên nguồn sức mạnh to lớn
đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách.
Ba là, phải luôn chăm lo xây dựng chính quyền thực sự “của dân, do dân, vì
công chức, viên chức thường xuyên giữ mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân; tôn
trọng, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; đồng thời, thực hiện tốt
công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham
nhũng, vô trách nhiệm, xâm hại tới lợi ích của đất nước, của nhân dân... Nhờ đó,
quan hệ gắn bó giữa Đảng và nhân dân được củng cố tăng cường.
Bốn là, phải không ngừng luôn củng cố và phát huy nguồn sức mạnh nội
lực của quần chúng nhân dân
Là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc,
Đảng chỉ có thể làm tròn sứ mệnh lịch sử “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy
tớ thật trung thành” của mình khi kiên trì nguyên tắc gắn bó mật thiết với nhân
dân, tổ chức và lãnh đạo nhân dân. Sẽ là xa nhân dân, thậm chí mất nhân dân nếu
mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở Đảng không nhận thức sâu sắc về vai trò
và tầm quan trọng mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.
Chủ tịch Hồ chí Minh đã nhiều lần căn dặn: Cán bộ là nhân tố quyết định sự
thành bại của cách mạng, làm cán bộ tức là suốt đời làm “công bộc”, “đầy tớ” thật
trung thành của nhân dân. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã tập trung đề cập đến phương pháp, phong cách làm việc của người cán bộ,
mà thực chất là sửa đổi lề lối quan hệ với nhân dân. Người đã đặt nhân dân là đối
tượng trọng tâm của việc sửa đổi lối làm việc. Bác Hồ rất quan tâm đến việc giáo
dục, bồi dưỡng phẩm chất, tác phong của người cán bộ cách mạng, cán bộ dân vận
bởi điều đó có ý nghĩa rất quan trọng đến sự thành bại của cách mạng.
Nắm vững những nguyên tắc và quan điểm vận động cách mạng của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tin tưởng sâu sắc vào sức mạnh sáng tạo lịch sử của quần chúng, Hồ
Chí Minh dốc lòng dốc sức vào việc động viên và tổ chức những lực lượng cách
mạng to lớn của nhân dân. Tuyên truyền, giáo dục và tổ chức quần chúng cũng là
nhằm mục đích hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Để thực hiện mục tiêu đó, Đảng và Bác đã chỉ đạo vừa thành lập Mặt trận mang
tính chất một tổ chức quần chúng có hệ thống tổ chức từ Trung ương đến địa
phương, lại vừa tổ chức các hình thức khác đa dạng, phong phú để tập hợp quần
chúng. Người thường xuyên nhấn mạnh nhiệm vụ của những người cách mạng là
quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”. Theo đó, một
mặt, Đảng phải thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, coi đây
là một chủ trương mang tầm chiến lược của Đảng. Mặt khác, Đảng phải luôn chăm
lo đầy đủ đến lợi ích, đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân; thực hiện an
sinh xã hội, công bằng xã hội và đi liền cùng đó phải kịp thời chống các tệ nạn
quan liêu, tham nhũng, làm giàu bất chính, xâm phạm lợi ích của nhân dân; đồng
thời, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện và “nâng cao đạo đức
cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, học tập và làm theo tấm gương cần,
kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, giản dị của Bác Hồ.
Những năm qua, thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Đảng ta
đã ban hành Quy định những điều đảng viên không được làm, Quy định về đảng
viên công tác ở các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp phải thường xuyên
giữ mối liên hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công
dân nơi cư trú. Bên cạnh đó, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh” và các phong trào thi đua yêu nước đã tạo ra những chuyển biến
tích cực trong xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, rèn luyện bản lĩnh
chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách gần dân, đồng thời tăng cường
hiệu quả công tác giám sát của quần chúng nhân dân đối với cán bộ, công chức,
đảng viên. Nhờ vậy, mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân không ngừng
được giữ vững và tăng cường, góp phần củng cố niềm tin, yêu của nhân dân với
Đảng.
Những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và công
cuộc đổi mới, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc là sự hiện thực hóa những chủ trương,
đường lối và sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình của Đảng ta. Đảng đã khơi dậy và phát
huy trí tuệ và sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, gắn bó máu thịt với nhân
dân tạo nên cội nguồn sức mạnh to lớn đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách
thức. 85 năm qua, nhưng bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng trong xây
dựng, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn còn mang tính lý luận và thực
Như vậy, trong phạm vi toàn bộ sự đối lập, người tư hữu là mặt bảo thủ,
người vô sản là mặt phá hoại. Từ người thứ nhất nảy sinh ra hành động nhằm duy
trì sự đối lập, từ người thứ hai, nảy sinh ra hành động nhằm xoá bỏ sự đối lập”.
Sứ mệnh, vai trò lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản được C.Mác và
Ph.Ăngghen chứng minh khá đầy đủ ở các khía cạnh, chi tiết, phương diện rất sâu
sắc, thuyết phục:
- Vai trò lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản do những điều kiện kinh tế xã hội quy định, họ là lực lượng đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa.
- Giai cấp vô sản có sứ mệnh, nhiệm vụ thủ tiêu chế độ tư hữu, đây là điều tất
yếu; giai cấp vô sản đã ý thức về nhiệm vụ đó. Bởi vì, sống trong xã hội tư bản
trong giai cấp vô sản, con ngừời đã bị tước mất bởi chế độ tư hữu bởi giai cấp tư
sản và các thế lực phản động. Họ trở thành phi nhân tính.
- Giai cấp vô sản đứng lên tự giải phóng mình, đồng thời giải phóng toàn thể
nhân dân lao động bị áp bức, bóc lột, giải phóng toàn thể nhân loại. Đây là quan
điểm về lực lượng đồng minh chặt chẽ, lâu dài, hùng mạnh của giai cấp vô sản
trong cách mạng xã hội chủ nghĩa được C.Mxsc và Ph.Ăngghen đưa ra.
- Giai cấp vô sản đứng lên tự giải phóng mình và giải phóng nhân loại phải
tập trung vào tiêu diệt mọi điều kiện sinh hoạt phi nhân tính. Bởi vì, những điều
kiện sinh hoạt này, là nguyên nhân chủ yếu nhất, làm cho giai cấp vô sản và những
người lao động trong xã hội tư bản trở thành phi nhân tính.
- Giai cấp vô sản dần dần đoàn kết lại, ngày càng rộng rãi tạo nên sức mạnh to
lớn thực hiện thắng lợi chống áp bức bóc lột.
Thứ hai, quá trình đấu tranh của giai cấp vô sản phát triển dần từ tự phát
đến tự giác
C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ, do bị áp bức, bóc lột nặng nề, giai cấp vô sản
bắt đầu liên kết, thống nhất với nhau để chống lại giai cấp tư sản và chế độ hiện
tồn. Sự liên kết ấy, dần dần phát triển rộng lớn, sức mạnh của sự liên kết giai cấp
vô sản ngày càng lớn, việc đấu tranh của họ chống giai cấp tư sản ngày càng phát
triển và có hiệu quả.
Đối với thời đại ngày nay và với Đảng ta. Tác phẩm cung cấp cho những
người cộng sản và những người tiến bộ trên thế giới phương pháp đấu tranh chống
lại những tư tưởng quan điểm phản động, phi mácxít. Tác phẩm vẫn còn nguyên
giá trị và có ý nghĩa lớn đối với Đảng ta trong chống lại những luận điểm, tư tưởng
của các thế lực thù địch của chiến lược "diễn biến hòa bình". Đồng thời, cung cấp
những chỉ dẫn về xây dựng Đảng ta về tư tưởng chính trị, củng cố, phát triển thế
giới quan vô sản trong thời đại ngày nay.
Câu 4. Phân tích khái niệm dân vận, nội dung, phương pháp công tác dân
vận và nghệ thuật công tác dân vận trong tác phẩm “Dân vận” của Chủ tịch
Hồ Chí Minh.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó có tư tưởng về dân vận một bộ phận hết sức quan trọng trong toàn bộ di sản vô giá mà Người để lại cho
Đảng và nhân dân các dân tộc ở nước ta. Có thể nói, tư tưởng dân vận của Hồ Chí
Minh không những chứa đựng tinh thần trọng dân, thương dân, hết lòng chăm lo
lợi ích của nhân dân, nhận rõ sức mạnh của nhân dân, mà còn chỉ ra nội dung và
phương thức vận động, tập hợp nhân dân.
Tư tưởng đó được thể hiện rất rõ trong tác phẩm “Dân vận”, Dân vận là bài báo
được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết vào ngày 15-10-1949 dưới bút danh X.Y.Z đăng trên
Báo Sự thật, số 120, ngày 15-10-1949. Đây là thời điểm có những chuyển biến mới,
đòi hỏi công tác vận quần chúng của Đảng phải đi vào chiều sâu, cụ thể, thiết thực
nhằm động viên tối đa sức người, sức của cho kháng chiến.
Về khái niệm “Dân vận”: "Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một
người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực
hành những công việc Chính phủ và Đoàn thể giao cho".
Từ khái niệm trên, ta thấy:
Tư tưởng đoàn kết của chủ tịch Hồ Chí minh rất triệt để, được thể hiện rất rõ
ràng: Đoàn kết góp thành lực lượng. Đoàn kết trong tổ chức, trong phong trào cách
mạng của quần chúng, ngay cả khi thực hiện một khẩu hiệu cách mạng.
Về phương thức tiến hành công tác dân vận:
Phải tiến hành, trước hết từ cơ sở, nắm chắc và vận động nhân dân từ cơ sở.
“Dân vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu, truyền
đơn, chỉ thị mà đủ”, mà phải:
Phải cho dân biết: Quyền làm chủ của nhân dân, đường lối, chính sách của Đảng,
Nhà nước, thông tin thời sự, chính sách, cán bộ lãnh đạo, quản lý mình.
Giải thích cho dân hiểu: "Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một
người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái
làm cho kỳ được".
Bày cách cho dân làm: "phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân,
cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ
chức toàn dân ra thi hành". Và "Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc,
khuyến khích dân".
Tiến hành kiểm tra, kiểm soát: "Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo
lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng".
Quán triệt phương thức nêu trên của Người, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
của Đảng đã đút thành phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Về nghệ thuật (phong cách) công tác dân vận:
Hồ Chí Minh đưa ra những yêu cầu rất cụ thể với cán cán bộ dân vận. Người đúc
kết thành 12 từ: Đó là “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”.
- Óc nghĩ: Hồ Chí Minh đặc biệt đề cao trí tuệ và yêu cầu về sự “động não” của
người làm công tác dân vận.
Người muốn khẳng định, công tác dân vận không chỉ là những thao tác cụ thể,
những công thức có sẵn mà bản thân nó là một khoa học - khoa học về con
người, một nghệ thuật - nghệ thuật tiếp cận và vận động con người, phải dày công
dối trên, lừa dưới của một số cán bộ mắc bệnh thành tích.
- Miệng nói: Là thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, nhất là tuyên tuyền
miệng, một hình thức tuyên truyền không thể thiếu của người làm CTDV. Người cán
bộ dân vận phải thường xuyên có trách nhiệm tuyên truyền, cổ động nhân dân thực
hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, pháp luật, văn hóa, xã hội và an ninh quốc
phòng... Theo Người, để dân hiểu, dân tin, dân ủng hộ và làm theo thì công tác tuyên
truyền miệng phải đúng và phải khéo. Nói với với dân phải đơn giản, rõ ràng, thiết
thực và cụ thể, tránh mệnh lệnh, hơn thế, còn phải có thái độ mềm mỏng; đối với
người già, các bậc lão thành phải cung kính, lễ độ, với đồng chí, đồng bào phải đúng
mực, nghiêm trang, với nhi đồng phải thương yêu, quý mến.
- Tay làm: là thể hiện quan niệm học đi đôi với hành, là gương mẫu, làm gương
trước cho quần chúng. Nếu nói là để dân nghe, thì làm là để dân thấy, dân tin, dân học
làm theo. Lời nói đi đôi với hành động là một yêu cầu, một phương pháp hết sức quan
trọng đối với cán bộ nói chung, cán bộ làm công tác dân vận nói riêng. Sinh thời, Hồ
Chí Minh đặc biệt quan tâm đến hai mặt của một vấn đề này. Người từng có hàng loạt
bài viết, bài nói phê phán những cán bộ, đảng viên “nói không đi đôi với làm”, “nói
hay mà làm dở” hoặc “đánh trống bỏ dùi”. Người chỉ rõ “cán bộ, đảng viên phải
gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói, tay làm để làm gương cho nhân dân. Nói hay
mà không làm thì nói vô ích”.
Như vậy: “Mắt trông, tai nghe, chân đi” là yêu cầu sát cơ sở, sát thực tế, đến với
nhân dân để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân mà giúp dân giải quyết các
công việc cụ thể, đề xuất chính sách hoặc điều chỉnh chính sách cho phù hợp, vận
động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách.
“Miệng nói, tay làm” là phong cách quan trọng nhất hiện nay, “phải thật thà
nhúng tay vào việc”, không được nói một đằng, làm một nẻo, miệng thì vận động
người khác nhưng mình thì không làm hoặc làm ngược lại. Bác cũng nghiêm khắc
phê phán “bệnh nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”.Đây cũng thể hiện sự nhất quán
trong tư tưởng và hành động thường ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh.