TÓM TẮT
Đình công là một trong những quyền cơ bản của người lao động, được thừa
nhận bởi Liên hiệp Quốc, Tổ chức Lao động Quốc tế và hầu hết các quốc gia trên thế
giới. Ở Việt Nam, đình công xuất hiện cùng với sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung
sang nền kinh tế thị trường, theo đó người lao động thường sử dụng quyền đình công
như một vũ khí đấu tranh với người sử dụng lao động để đạt được những yêu sách về
quyền và lợi ích trong quan hệ lao động. Nhận thức được tầm quan trọng của đình
công, Bộ luật Lao động năm 1994 và Luật sửa đổi bổ sung năm 2006 đều có những
quy định riêng để điều chỉnh vấn đề này. Qua nhiều năm thực hiện, do bộc lộ một số
hạn chế và bất cập nên Bộ luật Lao động năm 2012 được ban hành và có hiệu lực từ
01 - 5 - 2013 đã điều chỉnh lại một lần nữa phù hợp hơn vấn đề đình công và giải
quyết đình công. Tuy nhiên, việc thực hiện các quy định về giải quyết đình công trong
Bộ luật Lao động năm 2012 không còn phù hợp với tình hình thực tế. Chính vì thế
mà vấn đề giải quyết đình công được đưa vào một chương riêng (Chương XXXI Thủ
tục xét tính hợp pháp của cuộc đình công) trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (Bộ
luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ
họp thứ 10 thông qua ngày 25 - 11 - 2015 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 - 7 2016). Với mong muốn tìm hiểu và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, thực tiễn về
đình công và giải quyết đình công trên địa bàn tỉnh Trà Vinh cũng như đóng góp một
vài ý kiến nhằm thực thi có hiệu quả các quy định của Bộ luật Lao động năm 2012
cũng như Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về đình công và giải quyết đình công, tác
giả đã chọn đề tài: “Pháp luật về đình công qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Trà Vinh”
làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
2 chương:
- Chương 1. Những vấn đề lý luận chung về đình công và pháp luật đình công
- Chương 2. Thực trạng áp dụng pháp luật đình công tại tỉnh Trà Vinh và kiến
nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đình công.
-iii-
some of the limitations and inadequacies, The Labour Code in 2012 was enacted
and entered into force from 01 - 5 - 2013 adjusted one again so it coincided about
the strike and it’s resolve. However, the implementation of the regulations on the
strike’s resolve in The Labour Code in 2012 is no longer consistent with the actual
situation. So the strike resolving problem is put into a separate chapter (Chapter
XXXI The procedure to examine the legality of the strike) in the Civil Procedure
Code 2015 (This Code was adopted by the National Assembly of the Republic
Vietnam Socialist XIII, adopted at its 10th session on 25 - 11 - 2015, and took
effect from 01 - 7 - 2016). With the desire to learn and to clarify some theoretical
issues, practical strike and it’s resolve in Tra Vinh Province as well as contributing
some ideas to implement effectively the provisions of The Labour Code 2012 and
The Civil Procedure Code in 2015 about the strike and it’s resolve, the author has
chosen the project: “The legislation on strike through practical application in Tra
Vinh Province” as the master’s thesis.
Besides the introduction and conclusion, list of references, this thesis includes
2 chapter:
Chapter 1: The general theoretical issues about the strike and strike law.
Chapter 2: The situation of applying strike law in Tra Vinh province and
petition to perfect the law about strikes and solving strike
-v-
Based on researching the general theoretical issues, the thesis went from
intellection of strike and strike’s resolve to the regulation by law of this issue in the
view of the International Labour Organization and the nations in the world, including
Vietnam. On this basis, the author has analyzed a systematic way of regulations on
strike and resolve the strike under the Labour Code 2012 and Civil Procedure Code
2015. From the study of law carry on, the thesis analyzed the practical strike, strike’s
resolve, and the causes of strike in Tra Vinh Province, pointed out that the strike
5. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................5
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ............................................................6
7. Kết cấu luận văn .................................................................................................6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ
PHÁP LUẬT ĐÌNH CÔNG .....................................................................................7
1.1 Khái quát chung về đình công ..........................................................................7
1.1.1 Khái niệm đình công .................................................................................7
1.1.2 Những dấu hiệu cơ bản của đình công ......................................................9
1.1.3 Phân loại đình công .................................................................................12
1.1.4 Sự tác động của đình công ......................................................................13
1.1.5. Các tiêu chí đánh giá tính hợp pháp của cuộc đình công .......................15
-vii-
1.1.6. Những hành vi bị cấm thực hiện trước, trong và sau khi kết thúc cuộc
đình công .........................................................................................................17
1.2 Pháp luật về giải quyết đình công ...................................................................18
1.2.1 Phương thức giải quyết đình công ...........................................................18
1.2.2 Thẩm quyền, thủ tục nộp đơn, thụ lý đơn yêu giải quyết đình công .......21
1.2.3. Xét tính hợp pháp của cuộc đình công và quyền lợi của NLĐ khi giải
quyết đình công ................................................................................................23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐÌNH CÔNG TẠI
TỈNH TRÀ VINH VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
ĐÌNH CÔNG ...........................................................................................................29
2.1 Khái quát tình hình đình công và giải quyết đình ...........................................29
2.1.1 Tình hình đình công tại Việt Nam ...........................................................29
2.1.2 Tình hình đình công trên địa bàn tỉnh Trà Vinh ......................................30
2.2 Nguyên nhân xảy ra đình công trên địa bàn tỉnh Trà Vinh ............................36
2.2.1 NSDLĐ không thực hiện đúng quy định pháp luật về lao động và các cam
mục các đơn vị không được đình công.............................................................55
2.5.6 Mở rộng thẩm quyền lãnh đạo đình công ................................................56
2.5.7 Tăng cường vai trò của tổ chức công đoàn trong giải quyết các cuộc
đình công .........................................................................................................56
KẾT LUẬN ..............................................................................................................59
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................61
-ix-
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NLĐ:
Người lao động
NSDLĐ:
Người sử dụng lao động
BLLĐ:
Bộ luật Lao động
BLTTDS:
Bộ luật Tố tụng Dân sự
LĐLĐ:
Liên đoàn Lao động
Trên thế giới, quyền đình công của tập thể người lao động được pháp luật
nhiều nước thừa nhận. Liên Hợp Quốc cũng công nhận quyền đình công của người
lao động trong Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa do Đại hội
đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 16 - 12 - 1966.
Tại Việt Nam, Bộ luật Lao động năm 1995 (đến nay là Bộ luật Lao động năm
2012) đã chính thức thừa nhận một trong các quyền của người lao động là quyền đình
công. Tuy nhiên, thực tế nhiều năm qua cho thấy tình hình đình công diễn ra ở nhiều
nơi trong cả nước đã không tuân thủ đúng luật, gây ra nhiều vấn đề phức tạp như: sử
dụng bạo lực trong đình công, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người lao động,
đập phá tài sản, máy móc, nhà xưởng, lôi kéo, tụ tập, kích động, gây mất trật tự…
Tỉnh Trà Vinh đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, được quy hoạch
và hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, phát triển đa dạng về ngành
nghề, thu hút một số lượng lớn người lao động đã đóng góp rất nhiều vào sự phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương. Bên cạnh đó tỉnh Trà Vinh trong thời
gian qua cũng diễn ra các cuộc đình công trái luật gây ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế,
trật tự an ninh xã hội, môi trường đầu tư…không những thế việc giải quyết hậu quả
của đình công trái luật là vấn đề nan giải, mất rất nhiều thời gian, nhân lực, vật lực
của toàn xã hội. Chính vì vậy, hiện tượng đình công diễn ra ở nhiều doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh Trà Vinh trong thời gian qua là sự quan tâm của người lao động,
người sử dụng lao động, của các cấp chính quyền và đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên
cứu, giải quyết trong quá trình thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương.
-1-
Tuy nhiên, đình công không hẳn là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, vì
thông qua đình công, các xung đột về quyền và lợi ích giữa người lao động và người
sử dụng lao động được giải quyết, từ đó góp phần cải thiện quan hệ lao động. Cho
nên không nên coi đình công là hiện tượng tiêu cực của nền kinh tế thị trường và tìm
trên Báo Người Lao động số ra ngày 28 - 01 - 2015; hay bài “Đình công - Ai ép ai?
Nhìn từ lý thuyết mặc cả” của tác giả Nguyễn An Nguyên, đăng trên Tuổi trẻ chủ
nhật, số ra ngày 19 - 02 - 2006…
Có một số bài viết mang tính chất nghiên cứu, trao đổi lý luận của các nhà
nghiên cứu, các giảng viên Đại học Luật và các chuyên gia đang công tác tại các cơ
quan tố tụng, như: Nguyễn Hữu Chí (2012), “Tự do công đoàn và đình công dưới góc
độ quyền kinh tế - xã hội của người lao động”, Tạp chí Luật học (số 6/2012); Đỗ
Ngân Bình (2007), “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động
trước, trong và sau đình công”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (số 6/2007); hay bài viết
“Vai trò của các chủ thể trong quan hệ lao động và giải quyết tranh chấp lao động,
đình công” của tác giả Nguyễn Hữu Dũng đăng trên tạp chí Tâm lý học số 2/2011;
Phạm Công Bảy (2012), Thực trạng tranh chấp lao động, đình công và kiến nghị việc
sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung, Tạp chí Tòa án
nhân dân (Số 10/2012); Hồ Quang Huy (2009), Một số suy nghĩ về bản chất và ảnh
hưởng của hiện tượng đình công đối với đời sống kinh tế - xã hội, Tạp chí Dân chủ
và Pháp luật (Số 4/2009); Trần Ngọc Diễn (2016), Tăng cường vai trò công đoàn
trong ngăn ngừa, giảm thiểu đình công ở Việt Nam, Tạp chí Lao động và Xã hội (Số
519 + 520/2016).
Một số nghiên cứu khoa học về pháp luật đình công và giải quyết đình công
của các luận văn tiến sỹ và thạc sỹ luật học cũng được thực hiện tại Viện Nhà nước
và Pháp luật, trường Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật TP.HCM, Học viện Chính
trị Quốc gia… như: Trần Hồng Hạnh (2008), Đình công và giải quyết đình công
theo pháp luật lao động Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà
Nội; Chử Thị Xuyên (2013), Những điểm mới về tranh chấp lao động và đình công
trong Bộ luật Lao động năm 2012, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà
Nội; Trần Trọng Tuấn (2006), Đình công và thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết
đình công tại thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật
TP.HCM; Nguyễn Thị Lành (2010), Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
-3-
Lao động năm 2012 và Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng như trong một số văn
bản pháp luật liên quan khác.
-4-
Thực tiễn đình công và áp dụng pháp luật giải quyết đình công tác giả chỉ
nghiên cứu trong địa bàn tỉnh Trà Vinh. Bởi tỉnh Trà Vinh đang trong quá trình tái cơ
cấu kinh tế, đã và đang hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, phát triển
đa dạng về ngành nghề, thu hút một số lượng lớn người lao động. Đặc biệt trong
những năm gần đây, là địa phương xảy ra nhiều cuộc đình công phức tạp nhất trong
khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Từ tình hình đình công và thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết đình công tại
tỉnh Trà Vinh, luận văn nhằm chỉ ra được các nội dung hạn chế của pháp luật về đình
công, giải quyết đình công và cơ chế áp dụng pháp luật giải quyết đình công ở nước
ta. Trên cơ sở đó nêu lên những kiến nghị nhằm khắc phục những bất cập, thiếu sót,
hạn chế của pháp luật hiện hành về đình công và giải quyết đình công. Qua đó góp
phần nâng cao tính khả thi của pháp luật đình công và giải quyết đình công, bảo đảm
thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm đạt được mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
Một là, chỉ ra được cơ sở lý luận của quyền đình công đồng thời phân tích các
quy định pháp luật hiện hành về đình công và giải quyết đình công.
Hai là, phân tích, đánh giá tình hình đình công và thực tiễn áp dụng pháp luật
giải quyết đình công tại tỉnh Trà Vinh trong thời gian qua.
Ba là, đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đình công và giải
quyết đình công ở nước ta.
5. Phương pháp nghiên cứu
-6-
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÌNH CÔNG
VÀ PHÁP LUẬT ĐÌNH CÔNG
1.1 Khái quát chung về đình công
1.1.1 Khái niệm đình công
Đình công không phải là khái niệm mới, mà có từ khá sớm. Vào thời Ai Cập
cổ đại, những người công nhân làm việc ở nghĩa trang hoàng gia tại Deir el - Medina
đã tổ chức cuộc bãi công vào ngày 14 - 11 - 1152. Sự kiện này đã được các sử gia ghi
chép lại và lưu trữ tại Turin, Italia. Đây được xem là cuộc đình công đầu tiên trong
lịch sử loài người. Mexico được xem là quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận
quyền đình công trong hiến pháp vào năm 1917 [22].
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam 1995, “Đình công là một dạng bãi công ở
quy mô nhỏ trong một hay nhiều xí nghiệp, cơ quan; thường không kèm theo những
yêu sách về chính trị” hay “Đình công được hiểu là đấu tranh có tổ chức bằng cách
cùng nhau nghỉ việc trong các xí nghiệp, công sở” (Từ điển Tiếng Việt 1994).
Dưới góc độ kinh tế - xã hội, đình công là biện pháp đấu tranh kinh tế được thực
hiện bởi tập thể NLĐ nhằm gây sức ép để đạt được những yêu sách gắn với lợi ích kinh
tế hoặc lợi ích nghề nghiệp. Đình công được coi là “vũ khí” mà tập thể NLĐ sử dụng
trong cuộc đấu tranh kinh tế, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại kinh tế với NSDLĐ,
nhằm mục đích giải quyết những bất đồng về quyền và lợi ích theo hướng có lợi cho tập
thể NLĐ. Đình công để lại hậu quả và thiệt hại kinh tế cho DN, đồng thời cũng ảnh
hưởng đến lợi ích của cá nhân và tập thể NLĐ ở một mức độ nhất định.
Dưới góc độ pháp lý, đình công là quyền của NLĐ được pháp luật thừa nhận.
Quyền đình công là quyền ngừng việc tạm thời của NLĐ nhằm buộc NSDLĐ hoặc
các chủ thể khác phải thỏa mãn những yêu sách về quyền và lợi ích chính đáng của
việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động nhằm đạt được yêu cầu
trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động. Việc đình công chỉ được tiến hành đối
với các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích” [36, Điều 209]. Như vậy, đình công là
một loại quyền cho phép NLĐ được tự do lựa chọn cách xử sự trong khuôn khổ pháp
luật nhưng việc thực hiện quyền này phải thông qua hành vi mang tính tập thể là sự
tự nguyện ngừng việc của những NLĐ [29].
-8-
Từ những phân tích trên có thể hiểu: Đình công là sự ngừng việc tạm thời của
tập thể NLĐ, nhằm gây áp lực buộc NSDLĐ hoặc các chủ thể khác phải thỏa mãn
những yêu sách về quyền và lợi ích của tập thể NLĐ.
1.1.2 Những dấu hiệu cơ bản của đình công
Từ khái niệm đình công ở trên có thể tìm ra các dấu hiệu cơ bản của đình công,
để phân biệt đình công với các hình thức khác như lãn công, biểu tình…
- Đình công là phản ứng thể hiện bằng sự ngừng việc hoàn toàn của NLĐ
Đình công biểu hiện trước hết là sự ngừng việc của NLĐ. Sự ngừng việc này
có nhiều dạng, nhiều mức độ khác nhau nhưng ở các nước, quyền đình công thường
được biểu hiện là sự ngừng việc triệt để, tức là ngừng việc hoàn toàn của bản thân
NLĐ khi lẽ ra họ phải thực hiện công việc theo hợp đồng lao động, thỏa ước tập thể,
theo quy chế của nơi làm việc mà không được sự đồng ý của NSDLĐ. Vì vậy, tất cả
những sự ngừng việc không triệt để như nghỉ việc lẻ tẻ, làm việc cầm chừng, lơ là,
chây ì (lãn công) nhằm đối với NSDLĐ không được xác định là đình công. Việc lãn
công không được thừa nhận và bị coi là hành vi vi phạm kỷ luật lao động, bị NSDLĐ
xử lý theo quy định của kỷ luật lao động.
Tuy nhiên cũng cần phân biệt đình công với việc đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động. Đình công là việc NLĐ tạm thời không thực hiện nghĩa vụ lao động
với mục đích tạo sức ép để NSDLĐ đáp ứng yêu sách của mình. Nếu yêu sách được
đáp ứng họ sẽ ngay lập tức trở về làm việc ngay.
bên ngoài của đình công, vừa là dấu hiệu không thể thiếu của đình công. Tính tập thể
ở đây thể hiện thông qua hành vi ngừng việc của nhiều người với cùng một động cơ,
mục đích giống nhau, cùng nhau phối hợp một cách chặt chẽ, đồng bộ và có hiệu quả
trong quá trình đình công [15] nhằm mục đích gây sức ép đối với NSDLĐ. Như vậy,
tính tập thể của một cuộc đình công phải đồng thời thể hiện ở hai dấu hiệu là có sự
tham gia của nhiều NLĐ và giữa họ có sự liên kết mật thiết, cùng ngừng việc vì mục
tiêu chung, phản ánh được ý chí, nguyện vọng chung của tất cả hoặc của đa số NLĐ
trong đơn vị đó.
- Đình công luôn có tính tổ chức, thường do tổ chức Công đoàn lãnh đạo
Sự ngừng việc này phải có sự phối hợp về mặt ý chí và tổ chức của những
NLĐ. Nghĩa là sự ngừng việc này phải có sự chỉ đạo, tổ chức và lãnh đạo, điều hành
chung của một cá nhân, một nhóm người hay sự phối hợp của cả tập thể NLĐ đó.
-10-
Như vậy, từ khi khởi xướng, phát động đình công cho đến việc thực hiện các trình tự
thủ tục khác hay trong quá trình giải quyết đình công đều phải có sự phối hợp của cả
tập thể lao động trong ý chí và hành động.
Pháp luật lao động nước ta chỉ thừa nhận đình công là hợp pháp khi do BCH
Công đoàn cơ sở quyết định và lãnh đạo. Công đoàn là tổ chức duy nhất có quyền
quyết định và lãnh đạo các cuộc đình công. Cụ thể “Ở nơi có tổ chức công đoàn cơ
sở thì đình công phải do BCH Công đoàn cơ sở tổ chức và lãnh đạo. Ở nơi chưa có
tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công do tổ chức Công đoàn cấp trên tổ chức và lãnh
đạo theo đề nghị của NLĐ” [36, Điều 210].
Như vậy, sự ngừng việc của NLĐ, thậm chí của quá nửa số NLĐ mà không có
tổ chức, quyết định của Công đoàn thì vẫn không được pháp luật công nhận là đình
công hợp pháp. Dấu hiệu này thể hiện vai trò của Công đoàn trong quan hệ giữa NLĐ
và NSDLĐ.
- Đình công bao giờ cũng gắn liền với những yêu sách
- Căn cứ vào phạm vi
Căn cứ vào phạm vi đình công có: Đình công DN, đình công bộ phận, đình
công ngành, đình công toàn quốc (tổng đình công). Đình công DN là cuộc đình công
do tập thể lao động tiến hành trong phạm vi chính DN đó. Đình công bộ phận là cuộc
đình công do tập thể lao động tiến hành trong phạm vi bộ phận cơ cấu của DN; đình
công ngành là cuộc đình công do tập thể lao động tiến hành trong phạm vi một ngành;
đình công toàn quốc (tổng đình công) là đình công do những NLĐ cùng tiến hành
trong phạm vi cả nước. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật nước ta chỉ thừa nhận đình
công DN và đình công bộ phận là hợp pháp.
- Căn cứ vào tính hợp pháp
Căn cứ vào tính hợp pháp có đình công hợp pháp và đình công bất hợp pháp.
Đình công hợp pháp là những cuộc đình công được tiến hành theo đúng quy định của
pháp luật. Đình công bất hợp pháp là những cuộc đình công thiếu một trong số các
điều kiện luật định. Như vậy, tính hợp pháp của đình công chỉ được xét chủ yếu dưới
góc độ thủ tục tiến hành đình công mà không xét về nội dung của các yêu sách trong
đình công.
Ngoài hai cách phân loại trên như ở nước ta, ở các nước còn một số cách phân
loại như sau: Căn cứ vào tính chất có đình công vì mục đích chính trị (đình công
-12-
chính trị), đình công vì mục đích kinh tế (đình công kinh tế) đình công vì mục đích
xã hội. Căn cứ vào động lực có đình công vì mục đích trực tiếp, được cảnh cáo (đình
công gây uy thế) đình công hưởng ứng (đình công đoàn kết, đình công tỏ cảm tình).
Căn cứ vào cách thức tiến hành có đình công đơn nhất, đình công quay vòng (đình
công luân phiên), đình công từng đợt, đình công chớp nhoáng, đình công có tính chất
lãn công, đình công ngồi, đình công đứng, đình công đi ra, đi vào, đình công tuần
hành, đình công tại nhà, đình công tập trung tại DN, cơ quan tổ chức… Căn cứ vào
tính tổ chức có đình công tự phát (đình công hoang dã), đình công có tổ chức.
ngừng. Việc này làm giảm năng suất lao động, gây ảnh hưởng về lợi nhuận của DN.
Ngoài ra sự gián đoạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN do bị đình công có
thể phát sinh thêm những việc như vi phạm hợp đồng với đối tác do không có hàng hóa
để cung cấp, không thực hiện đúng dịch vụ trong thời hạn... làm giảm sút uy tín với
khách hàng. Không những thế, việc đình công xảy ra còn làm giảm khả năng tìm kiếm
khách hàng, đối tác mới. Vì họ e ngại tình trạng đình công có thể tái diễn, sẽ ảnh hưởng
đến tiến độ thực hiện hợp đồng và những liên lụy kèm theo.
Thêm vào đó, khi xảy ra đình công, NSDLĐ phải tốn rất nhiều chi phí sửa
chữa, khắc phục, chi phí dọn dẹp để hoạt động trở lại bình thường, vì NLĐ thường
có hành vi kích động, đập phá máy móc, nhà xưởng... Mặc dù pháp luật quy định
NLĐ gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định tại Điều 36 Nghị định số
05/2015/NĐ-CP ngày 12 - 01 - 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số nội dung của BLLĐ nhưng thực tế số tiền mà NSDLĐ được bồi
thường là rất nhỏ so với những thiệt hại mà họ phải gánh chịu, chưa kể đến việc yêu
cầu NLĐ không có khả năng tài chính bồi thường là việc rất khó khăn.
Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng, đình công cũng có tác động tích cực đến
NSDLĐ. Vì sau cuộc đình công, NSDLĐ sẽ rút ra được những kinh nghiệm trong
quản lý, điều hành như thực hiện đúng các quy định của pháp luật về lao động, thỏa
ước lao động tập thể đã ký kết, quan tâm hơn đến đời sống vật chất và tinh thần của
NLĐ... Từ đó, NSDLĐ có thể hạn chế được những nguyên nhân dẫn đến đình công,
văn hóa DN ngày càng tăng cao.
- Đối với Nhà nước
Đình công có thể làm xấu đi hình ảnh môi trường đầu tư trong nước. Vì sẽ không
có nhà đầu tư nước ngoài nào dám mạnh dạn đầu tư vào một đất nước mà ở đó NLĐ
-14-
thường có hành vi chống đối lại NSDLĐ dù cho nguồn nhân công có dồi dào và giá rẻ.
Mặc khác, đình công sẽ làm rối loạn trật tự kinh tế. Vì mỗi DN là một mắc xích trong
Thứ nhất, cuộc đình công phải phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể về lợi
ích. Tức là tranh chấp về việc tập thể lao động yêu cầu xác lập các điều kiện lao động
mới so với quy định của pháp luật lao động, thỏa ước lao động đã được đăng ký với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác ở DN
trong quá trình thương lượng tập thể lao động với NSDLĐ.
Thứ hai, tranh chấp lao động tập thể về lợi ích đã được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền giải quyết rồi nhưng tập thể lao động không đồng ý với phương án mà
các cơ quan thẩm quyền đưa ra trong quá trình giải quyết tranh chấp hoặc trong thời
gian quy định mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp không tiến
hành giải quyết tranh chấp thì tập thể NLĐ có quyền tổ chức đình công.
Thứ ba, cuộc đình công phải được BCH Công đoàn cơ sở hoặc BCH Công đoàn
lâm thời lãnh đạo theo quy định tại Điều 210 BLLĐ năm 2012 về tổ chức và lãnh đạo
đình công. Cụ thể: Ở nơi có tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công phải do BCH Công
đoàn cơ sở tổ chức và lãnh đạo. Ở nơi chưa có tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công do
tổ chức công đoàn cấp trên tổ chức và lãnh đạo theo đề nghị của NLĐ [36, Điều 210].
Thứ tư, BCH Công đoàn cơ sở hoặc đại diện NLĐ phải tổ chức lấy ý kiến về
cuộc đình công theo quy định.
Đối với tập thể lao động có tổ chức công đoàn cơ sở thì lấy ý kiến
của thành viên BCH Công đoàn cơ sở và tổ trưởng các tổ sản xuất. Nơi
chưa có tổ chức công đoàn cơ sở thì lấy ý kiến của tổ trưởng các tổ sản
xuất hoặc của NLĐ. Việc tổ chức lấy ý kiến có thể thực hiện bằng phiếu
hoặc chữ ký [36, Điều 212].
“Khi có trên 50% số người được lấy ý kiến đồng ý với phương án của BCH
Công đoàn đưa ra thì BCH Công đoàn ra quyết định đình công bằng văn bản” [36,
Điều 213]. Tuy nhiên, việc lấy ý kiến phải bảo đảm tự nguyện, mọi trường hợp ép
buộc đều bị coi là vi phạm pháp luật.
Thứ năm, cuộc đình công phải do NLĐ trong cùng một DN tiến hành. Đối với
đình công được tiến hành bởi NLĐ ở các DN khác nhau thì đây được coi là cuộc đình
công bất hợp pháp.
động đối với NLĐ, người lãnh đạo đình công hoặc điều động NLĐ, người
lãnh đạo đình công sang làm công việc khác, đi làm việc ở nơi khác vì lý
do chuẩn bị đình công hoặc tham gia đình công. Trù dập, trả thù NLĐ
tham gia đình công, người lãnh đạo đình công [36, Điều 219].
-17-