BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
---------------------------------------------
TRẦN KHOA PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI - SINH TRƯỞNG CỦA
LOÀI MÂY NẾP (CALAMUS TETRADACTYLUS HANCE) TẠI
TỈNH HOÀ BÌNH VÀ HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội - 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
---------------------------------------------
TRẦN KHOA PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI - SINH TRƯỞNG CỦA
LOÀI MÂY NẾP (CALAMUS TETRADACTYLUS HANCE) TẠI
TỈNH HOÀ BÌNH VÀ HÀ GIANG
nghề thủ công mỹ nghệ. Ngày nay, việc phát triển loài cây này đã được nhận
thức như một lựa chọn có triển vọng trong kinh doanh rừng theo hướng cho
thu nhập sớm và có hiệu quả kinh tế cao.
Tuy nhiên, nguồn tài nguyên Mây nếp đã bị cạn kiệt cùng với sự suy
thoái nghiêm trọng của tài nguyên rừng. Một trong những nguyên nhân trực
tiếp dẫn đến tài nguyên này bị cạn kiệt là do thiếu thông tin về đặc điểm của
loài. Người ta không thể bảo vệ, phát triển hoặc gây trồng mây nếu không biết
các đặc điểm sinh trưởng, sinh thái của loài và mối quan hệ giữa chúng, ngay
cả khi có giống tốt.
2
Trong những năm gần đây, việc gây trồng các loài mây đã được quan
tâm đầu tư, trong đó loài Mây nếp đã được trồng ở nhiều nơi như: Thái Bình,
Hà Nội, Hưng Yên, Hoà Bình, Hải Dương, Hà Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ,
Lâm Đồng… Tuy nhiên, do ít quan tâm về đặc điểm sinh thái - sinh trưởng
nên hiệu quả đầu tư chưa cao. Đặc biệt việc đánh giá tác động của các nhân tố
sinh thái, sức sinh trưởng của Mây nếp, nắm rõ các đặc điểm sinh trưởng và
phát triển, cũng như việc lựa chọn lập địa gây trồng của loài vẫn còn hạn chế
nên chưa đủ cơ sở khoa học cho việc trồng thâm canh Mây nếp trên quy mô
lớn. Vì vậy, nghiên cứu về đặc điểm sinh thái - sinh trưởng của loài cây này là
hết sức cần thiết, làm cơ sở để đưa ra những biện pháp kỹ thuật tác động hợp
lý cho trồng thâm canh nguyên liệu Mây nếp dưới tán rừng trồng và rừng tự
nhiên theo hướng có hiệu quả cao và bền vững.
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm sinh thái sinh trưởng của loài Mây nếp (Calamus tetradactylus Hance) tại tỉnh Hoà
Bình và Hà Giang" đã được lựa chọn và triển khai thực hiện.
3
đất (Site Index) do Huber thực hiện lần đầu tiên ở nước Đức năm 1824. Đến
4
đầu thế kỷ 20, phương pháp này được phổ biến rộng rãi ở Châu Âu, lan
truyền sang Bắc Mỹ. Phương pháp này được đánh giá là đơn giản nhưng có
hiệu quả.
Từ khi Eichhorn (1904) theo Assman [25] phát hiện ra quy luật “Trữ
lượng rừng là một hàm số của chiều cao bình quân lâm phần”, thì phương
pháp phân chia cấp đất được củng cố cơ sở lý luận bền vững chắc chắn. Nội
dung chính của phương pháp này là xây dựng một hàm sinh trưởng theo tuổi
của một nhân tố điều tra lựa chọn nào đó, thông thường là chiều cao bình
quân, chiều cao tầng trội (dominant height)… Nhân tố lựa chọn này phải là
một chỉ tiêu có quan hệ chặt chẽ với trữ lượng rừng (site). Trên cơ sở đường
cong trung bình này, chia thành một số cấp khác nhau theo thứ tự tốt đến xấu
gọi là các cấp đất. Các phương trình của từng cấp đất đã phản ánh một khái
niệm trực quan về sinh trưởng chiều cao, từ đó suy ra trữ lượng. Theo Erteld
1966 [29], Prodan (1951) và Mitscherlich [22] đã sử dụng chỉ tiêu tăng trưởng
trung bình về đường kính để chia cấp đất cho rừng chặt chọn tại Đức.
Thực chất của phân chia điều kiện lập địa (ĐKLĐ) là đánh giá và phân
chia trực tiếp mức độ sinh trưởng của rừng, dùng chỉ tiêu sinh trưởng để đánh
giá mức độ tốt, xấu của ĐKLĐ. Do vậy hiệu quả của việc phân chia đánh giá
này thường cao.
- Trường phái phân chia thực bì (Vegetation approach):
Theo Manstroem (1949), việc phân loại thực bì rừng đã áp dụng từ cuối
thế kỷ 19 cho vùng Bắc Âu (theo báo Post 1862 và Norlin 1861). Từ đầu thế
kỷ 20, với các công trình nghiên cứu của Cajander (1909, 1926), trường phái
này phát triển mạnh ở Phần Lan. Sau này được phát triển rộng rãi sang Bắc
Mỹ và lục địa Châu Âu… Một số tác giả như Krajian (1960, 1963, 1964,
Nghiên cứu nhân tố: Lần đầu tiên do Haig áp dụng để nghiên cứu quan
hệ giữa chỉ số cấp đất với chỉ số hàm lượng limonset (silt plus clay) trong đất
trồng rừng Thông đỏ (Red pine) trên nền đất rừng mầu nâu ở Conecticut (theo
Jones 1969 [32]. Ngày nay trường phái này được phát triển với nhiều nghiên
cứu đa dạng khác, đặc biệt với các chỉ số lý hoá tính của đất với công cụ toán
học là phép phân tích hồi quy nhiều biến số. Những công trình tiêu biểu trong
6
lĩnh vực này là của tác giả: Caile (1935,1955); Gysel và Arend (1963),
Carmean (1963); Hermsnik (1966)…
Trước thập kỷ 70 này, đã có những nhầm lẫn trong việc sử dụng
phương pháp phân tích tương quan hay hồi quy, người ta sử dụng biến không
ngẫu nhiên (như chỉ số cấp đất, mã loại đất… ) đóng vai trò hàm số trong các
phương tình tương quan hồi quy một hay nhiều biến số. Từ cuối thập kỷ 60,
đã phát triển lý thuyết phân tích tách biệt (Discrimiant analyse) để xử lý cho
trường hợp hàm số là các biến không ngẫu nhiên.
Nghiên cứu toàn cảnh (Holistic approach): Môi trường được phân chia
dưới một cách nhìn tổng hợp. Có 4 trường phái nhỏ theo hướng này:
+ Phân loại đất (soil servey): phân chia đất thành những loại đất hay
hạng đất.
+ Phân hạng lập địa theo kiểu Đức (German site mapping): Đã phát
triển từ cuối thế kỷ 19 trên những vùng nói tiếng Đức. Đơn vị phân chia cơ
bản của hệ thống này là “dạng lập địa” (site unit), là những đơn vị thống nhất
về những điều kiện hoàn cảnh như khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình… thể hiện
bằng thực bì che phủ trên đó. Đã phát triển một hệ thống phân chia bao gồm
các vùng sinh trưởng (growth distrist) đến dạng lập địa cấp I, cấp II, cấp III…
+ Phân loại địa văn theo Hills (Hills physiographic site type): Nhà lâm
hình Canada Hills đề xuất hệ thống phân loại kiểu lập địa tổng hợp (total site),
quả nghiên cứu cho thấy các biện pháp xử lý lập địa khác nhau và các loài cây
trồng khác nhau đã có ảnh hưởng rất không giống nhau đến độ phì, cân bằng
nước, sự phân huỷ thảm mục và chu trình dinh dưỡng khoáng… [23].
Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông (P.patula) ở
Swaziland, Evans (1974) [19] đã chứng minh khả năng sinh trưởng về chiều cao
của các loài Thông có quan hệ chặt (R = 0,81) với các yếu tố địa hình và đất.
Khảo sát rừng trồng ở các điều kiện lập địa khác nhau, Pandey (1983)
[34] đã chỉ cho thấy Bạch Đàn E.camaldulensis trồng ở các vùng nhiệt đới
khô với chu kỳ kinh doanh 10 - 20 năm thường chỉ đạt từ 5 - 10m3/ha/năm,
nhưng ở vùng nhiệt đới ẩm thì có thể đạt 30m3/ha/năm.
Khi nghiên cứu về sản lượng rừng trồng Bạch đàn ở Brazil,
GolcavesJ.L.M và các cộng sự (2004) [30] cho rằng năng suất trồng là sự “kết
8
hôn” thích hợp giữa kiểu gen với điều kiện lập địa và kỹ thuật canh tác. Ngoài
ra tác giả còn chỉ ra giới hạn của sản lượng rừng có liên quan tới các yếu tố
môi trường theo thứ tự mức độ quan trọng sau: nước > dinh dưỡng > độ sâu
tầng đất.
Qua các nghiên cứu trên cho thấy việc xác định các điều kiện lập địa
phù hợp với cây trồng có ý nghĩa rất quan trọng. Điều kiện lập địa có ý nghĩa
quyết định tới năng suất, sản lượng rừng trồng. Vì vậy, việc lựa chọn điều
kiện lập địa phù hợp với cây trồng nhằm nâng cao năng suất, sản lượng rừng
là hết sức cần thiết.
1.1.1.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái - sinh trưởng Mây nếp
Hầu hết các loài mây đều mọc cụm, thân ngầm nằm dưới đất hình dạng
như củ gừng, mặt dưới thâm ngầm có mang rễ, rễ rất khoẻ nên có thể mọc đựơc
ở những nơi đất cứng và khô. Khóm mây càng già thân ngầm càng lớn và có
nhiều rễ. Thân ngầm có xu hướng ăn nổi dần trên mặt đất. Ở những nơi đất tốt
cái trong quần thể, tái sinh tự nhiên sau khai thác đã được nghiên cứu như một
hợp phần trong các nghiên cứu về tài nguyên mây. Tăng trưởng của 4 loài mây
đã được ghi chép, đạt 1 - 4 m/năm. Sự phân hoá mây phụ thuộc vào nguồn
giống, điều kiện thổ nhưỡng, thực vật, tiểu khí hậu, độ chín của hạt, sự hình
thành và giai đoạn phát triển của thân cây, v.v.. (Manokaran, N, 1985) [33].
Tính thích ứng sinh thái một cách tự nhiên của các loài mây đã được đề
cập từ những quan sát trong quá trình điều tra, phân loại. Đó là những tóm tắt
về mây ở bán đảo Malaixia, Sabah và Sarawak trong các công trình của
Dransfiel (1979, 1984, 1992). Những tổng kết về sinh thái rộng như vậy là vô
cùng quí giá: đó là những hiểu biết rất cơ bản để thiết lập các quần thể cây
trồng. Một lỗ hổng lớn nhất trong nhận thức về sinh thái của mây là vấn đề
hiểu biết về động thái quần thể, vì đó là một điều kiện tiên quyết đảm bảo cho
việc chỉ đạo phát triển mây đạt kết quả tốt (Manokaran, N, 1985) [33].
Một số tài liệu cho rằng, mây là một loài chỉ thị cho loại hình khí hậu
khô cạn. Một số loại hình điển hình rừng mưa nhiệt đới, thể hiện tính đa dạng
của cây gỗ và dây mây, có độ dài kinh người, nói chung đều đạt mấy chục
mét, nhưng mây Calamus có thể đạt 300m, hiện tượng hoa quả mọc thân, trên
thân chất gỗ không có lá…
10
Nghiên cứu về dinh dưỡng khoáng và ảnh hưởng của phân bón tới sinh
trưởng và phát triển cây giống của 2 loài C. Tetradactylus và D. Magraritae
mới được nghiên cứu ở Trung Quốc (Chen Qingdu, 2000) [26]. A.b.
Mohamad và J.B. Hall (1990) nghiên cứu về chế độ phân bón cho loài C.
manan trồng xen trong mô hình rừng trồng Cao su ở Tây Malaysia. Kết quả
cho thấy sinh trưởng của loài cây này phụ thuộc vào hàm lượng đạm và lân
trong đất. Tuy nhiên hàm lượng đạm ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng của
cây nhất là bộ rễ ở giai đoạn từ 0 - 6 tháng tuổi, cây càng lớn hàm lượng đạm
nhân giống bằng hạt vẫn phổ biến hơn cả. Ở Trung Quốc cho thấy rằng hạt
trước tiên được ngâm và đãi sạch trong nước trong vòng 1 - 3 ngày, sau đó gieo
trên các luống cát có che nắng và sau 50 - 70 ngày khi các cây con với lá đầu
tiên xuất hiện có thể đem cấy vào các bầu đất và hỗn hợp phân bón. Các bầu
cây được đặt cạnh nhau trong vườn ươm với cường độ ánh sáng tối thích với
mây con khi được che sáng 50% (Xu Huangcan và cộng sự, 2000) [36].
1.1.2. Tồn tại nghiên cứu
Nhìn chung, những nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến
sinh trưởng của rừng mới chỉ được định lượng trong phòng thí nghiệm. Nên
còn rất nhiều những tình huống còn rất hạn chế, chưa mô phỏng được sát
đúng với các điều kiện sinh thái tự nhiên.
Các nghiên cứu về cơ bản đã khẳng định mối quan hệ giữa năng suất,
sinh trưởng của rừng trồng với điều kiện lập địa. Song các nghiên cứu này
vẫn còn đánh giá ở mức độ chung chung, các nghiên cứu chưa thực sự đi sâu
vào loài, nhóm loài, kiểu lập địa, dạng lập địa trồng rừng. Việc lựa chọn đánh
giá còn thiếu hẳn thực nghiệp đánh giá đại trà sản xuất. Nên từ nghiên cứu
đến ứng dụng chưa rút ra được những kết luận chính xác. Thời gian nghiên
cứu cho những đánh giá ngắn vì vậy kết luận chỉ dừng lại ở mức độ nào đó.
Nghiên cứu từ tổng hợp đến chi tiết, từ vi mô đến vĩ mô và thực nghiệm đến
sản xuất và từ sản xuất đến nghiên cứu đòi hỏi phải có những đánh giá tổng
hợp và cụ thể hơn khi nghiên cứu về vấn đề sinh trưởng này, đặc biệt là với
cây Mây nếp.
Vấn đề nghiên cứu đặc điểm sinh thái - sinh trưởng của Mây nếp được
rất ít tác giả trên thế giới nghiên cứu, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức
12
độ chung chung như một số đặc điểm sinh thái, ảnh hưởng của ánh sáng, phân
bón, đất đến sinh trưởng của Mây, xác định giới tính qua hình thái hoa... Một
lâm nghiệp vùng Đông Nam Bộ”, tác giả đã căn cứ vào 3 nội dung cơ bản có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau là đơn vị sử dụng đất; tiền năng sản xuất của
đất và độ thích hợp của cây trồng. Kết quả nghiên cứu cho thấy vùng Đông
Nam Bộ có tiền năng sản xuất kinh doanh cây lâm nghiệp rất lớn, diện tích
đất phù hợp để phát triển cây lâm nghiệp chiếm từ 70-80%, đặc biệt là rất
thích hợp để phát triển cây cung cấp gỗ nguyên liệu mọc nhanh như: Bạch
đàn (Eucalypus) và Keo (Acacia).
Khi nghiên cứu xác định tiêu chuẩn phân chia lập địa cho rừng trồng
công nghiệp tại một số vùng sinh thái của Việt Nam, TS. Ngô Đình Quế và
cộng sự (2001) cũng đã có nhận định là có 4 yếu tố cơ bản chủ đạo ảnh hưởng
rõ rệt tới khả năng sinh trưởng của rừng trồng công nghiệp bao gồm: đá mẹ và
loại đất; độ dày tầng đất và tỷ lệ đá lẫn; độ dốc; thảm thực bì chỉ thị. Khi
nghiên cứu đánh giá đất lâm nghiệp cấp xã để phục vụ trồng rừng, Đỗ Đình
Sâm và cộng sự (2005) [2] đã xây dựng được bộ tiêu chí và chỉ tiêu để đánh
giá gồm 6 tiêu chí với 24 chỉ tiêu về điều kiện tự nhiên và 5 tiêu chí về điều
kiện kinh tế xã hội.
Nguyễn Ngọc Nhị và Nguyễn Văn Khánh (1982) đã phân vùng sinh
trưởng cho toàn quốc trên cơ sở đặc trưng khí hậu thuỷ văn, thổ nhưỡng, thực
vật với hệ thống phân loại chi tiết với 6 cấp phân vị. Các công trình nghiên
cứu sinh trưởng rừng, trong giai đoạn đầu mới chỉ đưa ra những chỉ số trung
bình theo các giai đoạn tuổi hay giai đoạn phát triển rừng về chiều cao, đường
kính, thể tích…
Trong đánh giá kết quả công tác trồng rừng các loài cây bản địa một số
tỉnh miền núi Bắc Bộ. Phân viện điều tra quy hoạch rừng Đông Bắc Bộ
(2003) đã đề xuất 12 cây trồng bản địa vào trồng rừng tương ứng với từng
loại đất, từng tiểu vùng lập địa và trạng thái thực bì tương ứng với từng loại
đất, từng tiểu vùng lập địa và trạng thái thực bì tương ứng, trong đó có các
loài cây Mỡ, Re gừng, Giổi xanh,... [15].
15
thuộc vào các điều kiện về đất đai và khí hậu nơi trồng rừng; nhưng chưa đủ
cơ sở kết luận trồng rừng Bạch đàn làm thoái hoá mạnh đến môi trường đất
của GS.TSKH. Đỗ Đình Sâm, Phạm Ngọc Mậu, Ngô Đình Quế (2005) [16].
1.2.1.2. Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái - sinh trưởng của Mây nếp
Hầu hết các loài mây ở Việt Nam có phân bố khá rộng, có thể bắt gặp ở
cả miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Các tỉnh có rừng lá rộng thường xanh
đều có thể gặp mây, nhưng tập trung nhất là Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Hoà
Bình, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Gia Lai, Lâm Đồng,... Tuy nhiên do đặc điểm
sinh thái của mây là ưa sáng mạnh ở tuổi trưởng thành nên dưới tán rừng
nguyên sinh rất ít gặp mây. Trong các khu rừng nửa rụng lá, số lượng mây
giảm nhiều, thường gặp một số loài chịu hạn như C. rudentum, C. tonkinensis.
Trong rừng tre nứa và rừng ngập mặn không gặp mây. Về độ cao, các loài
mây hiện có tại Việt Nam thường phân bố ở độ cao từ 3 m đến 1500 m so với
mặt nước biển. Trong đó, tập trung chủ yếu ở độ cao từ 3 m đến 700 m có
khoảng 67% số loài (2 loài Mây nếp và Mây nước tập trung ở độ cao này), từ
độ cao 800 m đến 1500 m có khoảng 27% và từ độ cao 1500 m trở lên chỉ
chiếm một tỷ lệ nhỏ < 5% với 1 loài đại diện [9].
Tính đến thời gian này, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một
cách hệ thống về đặc điểm sinh thái học của loài mây. Sinh thái loài mây chỉ
được đề cập một cách tản mạn, mờ nhạt trong nghiên cứu thực vật học, và đưa
ra một số nhận xét định tính như: trong rừng nguyên sinh rất ít gặp mây,
thường gặp chúng trong các khu rừng thứ sinh, dọc đường, ven suối. Khi non 1
- 3 tuổi, mây là loài ưa bóng cần có tàn che mới phát triển bình thường. Nhưng
sau 4 tuổi nếu không được mở sáng kịp thời hoặc leo lên tán rừng, cây mây sẽ
ngừng sinh trưởng hoặc chết. Cây cao trên 0,5m trên bẹ lá xuất hiện tay để bám
vào giá thể, gặp giá thể cây phát triển rất nhanh (Phạm Văn Điển, 2005) [4].
loài cây này các tác giả Vũ Văn Dũng và Lê Huy Cường (2008) [9] đã tìm ra
một số công thức xử lý cho kết quả cao như xử lý hạt giống ngâm trong nước
ấm hay dùng dung dịch hoá chất, tuy nhiên cũng đã có nghiên cứu xử lý nảy
mầm bằng cách cạy rốn hạt cho thời gian nảy mầm chỉ sau 4 ngày.
17
Nguyễn Thị Mai Dương và cộng sự (2009) [3] đã nhân giống thành
công với loài C. simplisifolius bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, trước khi đưa cây ra ngoài vườn ươm phải được huấn
luyện 7 ngày trong nhà lưới, thành phần ruột bầu cấy cây là 89% đất thịt pha
cát + 10% phân chuồng hoai và 1% lân cây sinh trưởng và phát triển tốt đạt tỷ
lệ sống trên 70%. Chế độ che sáng thích hợp cho cây mây in vitro ở giai đoạn
vườn ươm là 75%.
Ngày nay, Mây nếp là một trong những loài được lựa chọn ưu tiên cho
các chương trình trồng rừng tại Việt Nam (Bộ NN&PTNT, 2004) [1]. Nhiều
chương trình nghiên cứu khoa học và dự án hỗ trợ phát triển ngành đã chọn
Mây nếp là đối tượng chính. Tuy nhiên kết quả mới chỉ phản ánh một phần
nhỏ sự thích nghi của loài tại các khu vực nghiên cứu, còn việc giải thích tại
sao lại có sự sai khác về sinh trưởng phát triển của loài chưa thực sự khoa
học, chính xác và đầy đủ.
Hiện nay, Mây nếp là loài cây được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc
như Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Nghệ An và Hà Tĩnh với sản lượng
ước tính 1500 - 2000 tấn/năm (Phạm Văn Điển, 2005) [4]. Phương thức trồng
chủ yếu là xuang quanh nhà và vườn hộ gia đình.
Lê Thu Hiền, Nguyễn Tử Kim và Lưu Quốc Thành (2001) [11] đã
nghiên cứu thiết lập mô hình trồng Song mật (C. platyacanthus) và Mây nếp
(C. tetradactylus) dưới tán rừng phục hồi tại trung tâm thực nghiệm Lâm sinh
Cầu Hai và trạm nghiên cứu môi trường rừng phòng hộ Sông Đà. Các kết quả
suất kinh tế. Số lượng loài cây được nghiên cứu còn ít, trong khi đó nhu cầu
trồng rừng lớn dẫn tới một số loài cây đưa vào trồng rừng chưa thực sự mang
lại hiệu quả kinh tế cao nhất do chưa phù hợp hay chưa phát huy được hết
những đặc tính sinh học ưu việt, để có biện pháp tác động thích hợp về mặt số
lượng, thời gian đến cây trồng.
Mây nếp ở Việt Nam do xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đã được một số
tác giả nghiên cứu. Tuy nhiên những nghiên cứu đó mới chỉ đạng ở giai đoạn
bước đầu nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái, sinh trưởng. Việc chọn
đất trồng Mây nếp chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của người dân. Sự sai khác
19
về sinh trưởng và phát triển chưa thực sự được giải thích một cách khoa học,
chính xác và hiệu quả. Mối quan hệ giữa lập địa và sinh trưởng của Mây nếp
còn mang tính định hướng. Chính vì thế mà việc nghiên cứu đặc điểm sinh
thái - sinh trưởng một cách tổng thể là thực sự cần thiết, cấp bách hiện nay và
đang còn là một khoảng trống cần được nghiên cứu.
1.3. Thảo luận
Các công trình nghiên cứu về mây trên thế giới đã được triển khai một
cách khá toàn diện, song vẫn còn ít công bố về kết quả thu được. Nghiên cứu
về đặc điểm sinh lý, sinh thái, sinh trưởng của mây hiện nay có rất ít. Về sinh
thái - sinh trưởng, các nghiên cứu mới chỉ đề cập sự ảnh hưởng của các nhân
tố: ánh sáng, đất, độ ẩm, lượng mưa đến sinh trưởng của mây, chưa nghiên
cứu được với các nhân tố khác, chưa đưa ra được kết luận cụ thể về mối quan
hệ giữa chúng, về đặc điểm sinh trưởng của loài.
Trong nước, mặc dù đã có những công trình nghiên cứu về mây, nhưng
nghiên cứu còn lẻ tẻ, chưa có hệ thống. Các tài liệu đã xuất bản chỉ dừng lại ở
một số bài báo cáo về kinh nghiệm gieo trồng mây ở các địa phương, phân bố,
phân loại. Chúng ta cũng chưa có quy trình chính thức về chọn giống, chọn lập
Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Lý luận
Xác định được một số chỉ tiêu biểu thị đặc điểm sinh thái - sinh trưởng
của Mây nếp ở vườn ươm, rừng trồng và rừng tự nhiên.
2.1.2. Thực tiễn
Đề xuất được một số ứng dụng trong phát triển Mây nếp: xác định
nhanh tuổi cây, chọn điều kiện lập địa thích hợp cho trồng Mây nếp, chọn
biện pháp kỹ thuật che sáng và bón phân hợp lý cho Mây nếp ở giai đoạn
vườn ươm.
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đặc điểm sinh trưởng - sinh thái của
Mây nếp (Calamus tetradactylus Hance) ở vườn ươm (từ 2 tháng tuổi đến 1
năm tuổi), rừng trồng (năm trồng 2007), ở rừng tự nhiên thuộc tỉnh Hoà Bình
và Hà Giang.
2.2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái - sinh trưởng quan
trọng của Mây nếp, gồm: đặc điểm chung trong quá trình sinh trưởng của
Mây nếp, sinh trưởng của mây theo tuổi và theo đặc điểm giới tính, sinh
trưởng của Mây nếp ở giai đoạn vườn ươm dưới ảnh hưởng của chế độ ánh
sáng và hỗn hợp ruột bầu khác nhau, sinh trưởng của mây ở rừng trồng và
rừng tự nhiên dưới ảnh hưởng của điều kiện lập địa và tổng hợp sinh thái,
phân chia lập địa thích hợp trồng Mây nếp.
- Đề tài chỉ sử dụng những hiện trường sẵn có để nghiên cứu đặc điểm
sinh thái - sinh trưởng của Mây nếp.
23
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Quan điểm và phương pháp luận
Trong đề tài này, đặc điểm sinh thái - sinh trưởng của Mây nếp được
hiểu là sinh trưởng gắn với sự thay đổi của các nhân tố sinh thái.
Phương hướng của đề tài là xác định những đặc điểm sinh thái - sinh
trưởng quan trọng của Mây nếp làm cơ sở làm cơ sở cho việc phân chia điều
kiện lập địa thích hợp cho loài cây này cũng như cho việc đề xuất một số ứng
dụng trong việc phát triển, nâng cao sản lượng, chất lượng mây. Trong quá
trình nghiên cứu đề tài, những thông tin về đặc điểm sinh thái - sinh trưởng
Mây nếp đã được thu thập dựa trên những cơ sở lý thuyết và các phương pháp
thực nghiệm hiện có; đồng thời những thông tin này luôn được liên hệ với
thực tiễn sản xuất, nhằm làm cho các kết quả nghiên cứu của đề tài đáp ứng
tốt nhất hai yêu cầu lý thuyết và thực tiễn.
- Sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, kết hợp đồng thời giữa điều
tra, đánh giá ngoài hiện trường và phân tích trong phòng; nghiên cứu cơ sở lý
luận kết hợp với tổng kết thực tiễn, kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu
đã có với thí nghiệm để thực hiện các nội dung cụ thể nhằm đạt mục tiêu đề ra.
- Áp dụng các phương pháp phân tích thống kê toán học trong lâm
nghiệp để bố trí thí nghiệm, lấy mẫu, xử lý số liệu và đánh giá kết quả đảm
bảo yêu cầu khách quan và độ chính xác cho phép với sự hỗ trợ của một số
phần mềm Excel, SPSS...
- Những tư liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; bản đồ địa hình,
hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng ở địa bàn nghiên cứu.
- Tài liệu nghiên cứu về Mây nếp.
- Tài liệu, số liệu nghiên cứu về loài Mây nếp thuộc đề tài Khoa học
công nghệ cấp Bộ “chọn giống và trồng thâm canh mây” do TS. Phạm Văn
Điển chủ trì.