i
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng những số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày ...... tháng 4 năm 2016
Tác giả
Phạm Văn Vinh
ii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn với đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng Vối
thuốc (Schima wallichii Choisy) tại Sơn La và Gia Lai” được hoàn thành trong
chương trình đào tạo Cao học Lâm nghiệp khoá 22a (2014 - 2016) tại trường Đại
học Lâm nghiệp Việt Nam.
Trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn, tôi đã nhận được quan tâm và
sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu, Khoa đào tạo sau Đại học và các thầy cô giáo
Trường Đại học Lâm nghiệp.
Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành đến Ban
Giám hiệu, Khoa đào tạo sau Đại học, các thầy cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp
Việt Nam và đặc biệt là TS. Đặng Thịnh Triều– người hướng dẫn khoa học – đã tận
tình truyền đạt kiến thức chuyên môn và những kinh nghiệm quý báu cùng những
tình cảm tốt đẹp nhất giành cho tôi trong quá trình hoàn thành Luận văn này.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người
1.1.3. Chọn và nhân giống: ......................................................................... 5
1.1.4. Đặc điểm sinh lý - sinh thái: ............................................................. 6
1.1.5. Trồng và chăm sóc rừng: .................................................................. 7
1.1.6. Một số thành tựu khác: ..................................................................... 8
1.2. Ở Việt Nam ............................................................................................. 8
1.2.1. Phân loại, tên gọi và mô tả hình thái: .............................................. 9
1.2.2. Giá trị sử dụng: ................................................................................. 9
1.2.3. Chọn và nhân giống: ....................................................................... 10
1.2.4. Đặc điểm sinh lý - sinh thái: .......................................................... 12
1.2.5. Trồng và chăm sóc rừng: ................................................................ 13
1.3. Nhận xét chung ..................................................................................... 14
1.3.1. Trên thế giới .................................................................................... 14
1.3.2. Ở Việt Nam .................................................................................... 14
iv
Chương 2. MỤC TIÊU, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 16
2.1. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................. 16
2.2. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................... 16
2.3. Giới hạn nghiên cứu .............................................................................. 16
2.4. Nội dung nghiên cứu ............................................................................. 16
2.4.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của tiêu chuẩn cây con khi trồng rừng đến tỷ
lệ sống và sinh trưởng của Vối thuốc. ...................................................... 16
2.4.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của xử lý thực bì đến tỷ lệ sống và sinh
trưởng của Vối thuốc. ............................................................................... 16
2.4.3. Nghiên cứu gieo hạt thẳng Vối thuốc. ............................................ 16
2.4.4. Đề xuất các biện pháp lâm sinh trong trồng rừng Vối thuốc.......... 16
2.5. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 16
vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu/Chữ viết tắt
Giải nghĩa
CT
Công thức
D00
Đường kính gốc
D1.3
Đường kính tại vị trí 1,3m
Hvn
Chiều cao vút ngọn
NC
Nghiên cứu
NN&PTNT
20
2.2
Tuổi và kích thước cây con của các thí nghiệm trước khi trồng
21
4.1
Tỷ lệ sống của Vối thuốc trong các thí nghiệm theo thời gian
28
4.2
Phẩm chất cây con trong các thí nghiệm 3 năm sau khi trồng
30
4.3
Sinh trưởng đường kính của Vối thuốc trong các thí nghiệm theo thời gian
31
4.4
Tỷ lệ sống của Vối thuốc trong các thí nghiệm theo thời gian
1.1
Bản đồ phân bố tự nhiên của Vối thuốc.
2
2.1
Bản đồ các vị trí thí nghiệm
17
2.2
Bản đồ vị trí các thí nghiệm tại Sơn La
18
2.3
Bản đồ vị trí các thí nghiệm tại Gia Lai
19
4.1
4.2
4.3
4.4
4.5
Sinh trưởng của Vối thuốc trong các mô hình thí nghiệm gieo
hạt thẳng
30
32
32
33
33
34
34
35
35
37
39
41
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vối thuốc (Schima wallichii Choisy) là cây gỗ lớn, có phân bố rộng rãi ở Việt
Nam và một số nước Brunei, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia,
Myanmar, Nepal, Papua New Guinea, Philippines và Thái Lan (Orwa và cộng sự,
2009). Gỗ Vối thuốc thuộc nhóm V, nặng và bền chắc, không cong vênh, mối mọt,
lõi giác màu nâu đẹp, gỗ dùng làm cột nhà, đồ gia dụng. Vỏ, lá và rễ cây được dùng
để chữa một số bệnh và sản xuất các chế phẩm công nghiệp. Với khả năng chịu
nhiệt tốt, Vối thuốc được dùng làm băng xanh cản lửa rất có hiệu quả (Phạm Ngọc
Hưng, 2001). Là cây ưa sáng, sinh trưởng tương đối nhanh, có thể sống trên nhiều
dạng lập địa khác nhau, khả năng tái sinh tự nhiên tốt. Do có những đặc điểm ưu
việt trên, Vối thuốc là một trong số ít loài cây được đề xuất ưu tiên cho trồng rừng
nước Brunei, Trung Quốc, Ấn Độ , Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Nepal,
Papua New Guinea, Philippines, Thái Lan và Việt Nam. (Orwa và cộng sự, 2009).
Cũng theo Orwa và cộng sự, tại các nước trên, Vối thuốc có thể trồng ở bất kỳ vùng
sinh thái nào. Trên thị trường gỗ thế giới, Vối thuốc có 4 tên thương mại là Chilaini,
Mang tan, Needlewood và Simartolu, được mang mã số S5884 (Crescent Bloom,
2006). Như vậy, tên loài Schima wallichii Choisy đã được thống nhất sử dụng trên
phạm vi toàn thế giới, tương ứng với tên loài theo tiếng Việt là Vối thuốc.
Hình 1.1: Bản đồ phân bố tự nhiên của Vối thuốc
3
Vối thuốc đã được mô tả khá kỹ về hình thái bên ngoài và cấu tạo giải phẫu.
Đây là cơ sở khoa học cho việc định loại và phân biệt Vối thuốc với những loài
khác, đặc biệt là với những loài cùng chi với nó. Việc mô tả hình thái loài nhìn
chung có sự thống nhất cao giữa các tác giả ở nhiều quốc gia và tổ chức nghiên cứu
khoa học khác nhau. Theo Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World
Agroforestry Centre, 2006), Anon (1996), Keble và Sidiyasa (1994) thì Vối thuốc là
cây thường xanh, kích thước từ trung bình đến lớn, có thể đạt tới chiều cao 47m,
chiều cao dưới cành có thể đạt 25m, đường kính D1,3 đạt tới 125cm. Vỏ dày, bề mặt
xù xì, màu nâu đến xám đen, mặt trong của vỏ có màu đỏ nhạt, trong vỏ có sợi gây
ngứa. Lá hình thuôn đến elip rộng, kích thước lá từ 6-13cm x 3-5cm, đáy lá hình
nêm, đỉnh lá nhọn, có từ 6-8 đôi gân, cuống lá dài khoảng 3 mm. Hoa mọc tại nách
lá nơi đầu cành với 2 lá bắc, đài hoa đều nhau, cánh hoa có màu trắng hồng, có
nhiều nhị. Nhuỵ hoa lớn, có 5 ngăn với từ 2-6 noãn mỗi ngăn. Quả nang hình bán
cầu, đường kính từ 2-3 cm, vỏ quả nhẵn. Vối thuốc có thể ra hoa từ tuổi 4, hoa và
quả xuất hiện quanh năm, tuy nhiên hoa ra tập trung theo mùa. Quả có cánh và phát
tán nhờ gió.
Về cấu tạo giải phẫu, H. G. Richter và M. J. Dallwitz (1996)đã mô tả như
qua những mô tả về hình thái cấu tạo giải phẫu các bộ phận của cây.
1.1.2. Giá trị sử dụng:
Những kết quả nghiên cứu cho thấy gỗ Vối thuốc bền và cứng, dễ gia công
bằng tay hoặc bằng máy móc. Gỗ chống được mối. Vối thuốc thường được sử dụng
làm cột, xà, cửa, đồ gia dụng, đóng tàu thuyền, dụng cụ trong nông nghiệp, đồ chơi,
đồ tiện, thanh đường ray, làm cầu nơi núi cao. Gỗ còn được dùng để sản xuất ván
lạng. Lá Vối thuốc có thể dùng làm thức ăn cho gia súc (Kayastha, 1985). Bhatt và
Tomar (2002) nghiên cứu lượng nhiệt tỏa ra (calo) và kết luận rằng Vối thuốc có thể
được sử dụng làm gỗ củi rất tốt. Nhiệt lượng củi Vối thuốc đạt 19.800 kJ/kg (World
Agroforestry Centre, 2006). Lá và rễ được dùng để điều trị bệnh sốt.Vỏ dùng để
điều trị bệnh đường ruột, làm thuốc nhuộm và trong công nghệ thuộc da. Do vỏ
chứa chất độc là Alkaloid nên được dùng để diệt cá. Tràng hoa được dùng để trị
chứng rối loạn tử cung và chứng ictêri.Các nghiên cứu cũng cho thấy, Vối thuốc là
loài đa tác dụng nên có thể xem nó là loài thực vật thân gỗ cung cấp lâm sản ngoài
5
gỗ (Anonymous, 1991; Eberhard F. Bruenig, 1998).Với giá trị sử dụng đa dạng và
kinh tế cao, Vối thuốc đã được gây trồng ở một số nước như Indonesia, Malaysia,
Nhật Bản, Philippines.
1.1.3. Chọn và nhân giống:
Việc nghiên cứu chọn và nhân giống Vối thuốc mới chỉ bắt đầu trong khoảng
8-10 năm trở lại đây, nên kết quả nghiên cứu còn ít và mang tính kinh nghiệm. Hiện
nay, chưa có tài liệu nào đề cập đến kỹ thuật chọn giống Vối thuốc. Đối với kỹ thuật
nhân giống mới chỉ rút ra được một số nhận xét ban đầu như sau:
+ Vối thuốc được nhân giống chủ yếu bằng phương pháp hữu tính (từ hạt),
việc nhân giống vô tính là có triển vọng nhưng hiện nay thực hiện chưa thành công.
Quả Vối thuốc được thu hái trước khi vỏ nứt, sau đó khoảng 2 tuần vỏ quả nứt ra và
có thể thu hạt. Hạt của Vối thuốc khó bảo quản. Có thể bảo quản hạt trong điều kiện
37-450C. Do trong tế bào thịt vỏ của Vối thuốc chứa nhiều nước, nên độ ẩm và điểm
bốc cháy của cây cao, khả năng chịu nhiệt và chịu lửa cháy của loài cây này rất tốt
(Biswas và cộng sự, 2004).
+ Vối thuốc là cây ưa sáng, nhưng lúc nhỏ có khả năng chịu bóng. Biểu hiện
rõ rệt nhất của đặc tính này là Vối thuốc tái sinh yếu dưới tán rừng rậm, nhưng tái
sinh hạt dày đặc tại các lỗ trống trong rừng.
+ Vối thuốc là cây phân bố rộng, biên độ sinh thái lớn, là cây bản địa của
Brunei, Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Myanmar, Nepal, Papua New Guinea,
Phillipines, Thailand và Việt Nam (World Agroforestry Centre, 2006). Vối thuốc
thường mọc thành quần thụ từ nơi đất thấp đến núi cao, phân bố ở rừng thứ sinh,
nơi đồng cỏ, cây bụi và ngay cả nơi ngập nước có độ mặn nhẹ. Vối thuốc có thể
xuất hiện nơi có độ cao tới 2.400m (tối đa 3.900m), nhiệt độ trung bình từ 0-5 đến
37-450C, lượng mưa trung bình 1.400-5.000 mm. Vối thuốc có thể mọc trên nhiều
loại đất với thành phần cơ giới và độ phì khác nhau, từ đất cằn cỗi xương xẩu khô
cằn đến đất phì nhiêu, tươi tốt, có thể thấy Vối thuốc xuất hiện nơi đầm lầy. Vối
thuốc là loài cây tiên phong sau nương rẫy (Laos tree seed project, 2006).
+ Vối thuốc có khả năng đâm chồi mạnh sau cháy rừng hoặc sau khi rừng bị
sương giá huỷ hoại. Số chồi bình quân rất lớn, lên tới 8-9 chồi/gốc, có khi tới 15-20
chồi/gốc.
+ Ngoài bốn yếu tố sinh thái giới hạn trên cạn đã biết theo quy luật chung
(ánh sáng, nhiệt, nước, dinh dưỡng khoáng), cần chú ý thêm hai yếu tố sinh thái giới
7
hạn đối với Vối thuốc là độ pH đất. Biên độ pH của đất đối với Vối thuốc là 3,8-5,6.
Cây không phân bố hay sống trên đất đá vôi.
+ Vối thuốc có thể bị bệnh lở cổ rễ ở giai đoạn tuổi nhỏ do nấm Armillaria
mellea gây ra. Cây còn có thể bị sâu đục thân (Trachylophus approximator) phá
hoại, cũng do loài sâu đục thân này mà một số loài bệnh khác dễ thâm nhập.Gỗ cây
nước.Ngoài ra, Vối thuốc cũng được trồng che bóng cho chè (Anon, 1986). Lá của
Vối thuốc sau khi rụng chậm phân huỷ, tốc độ phân giải là 0,55-0,61, phải trong
thời gian 15 tháng lá mới phân huỷ hết, vì vậy có vai trò trong việc giữ Ni-tơ dưới
thảm rừng (Nimpha và Takeda, 1999), điều này đặc biệt quan trọng đối với rừng
nhiệt đới khi tốc độ phân huỷ của thảm mục nhanh dẫn tới việc các chất dinh dưỡng
dễ bị mất theo nước mưa khi cây chưa kịp sử dụng.
Do có khả năng chịu được lửa, nên tại Trung Quốc, Vối thuốc thường được
dùng để trồng làm băng cản lửa (Ulrich Apel, 2001)
1.1.6. Một số thành tựu khác:
Ngoài những kết quả nêu trên, Vối thuốc còn được quan tâm bởi nhiều nhà
khoa học trên thế giới dưới nhiều góc độ khác nhau. Laode và cộng sự (2004) đã
nghiên cứu tốc độ phân huỷ của vật rơi rụng của Vối thuốc cùng 3 loài cây bản địa
khác tại đảo Okinawa, Nhật Bản, trong đó tỷ lệ phân huỷ của Vối thuốc là
0,66/năm. Hàm lượng dinh dưỡng của một số nguyên tố trong vật rơi rụng và mối
quan hệ giữa các nguyên tố trong lá già của Vối thuốc tại đảo Okinawa, Nhật Bản
cũng đã được nghiên cứu (Xiaoniu và cộng sự. 2003). Kết quả tại 2 khu vực nghiên
cứu A và B cho thấy lượng vật rơi rụng tương ứng là 684 và 737g/m2/năm. Hàm
lượng dinh dưỡng hoàn trả cho đất là 80,1 kg N; 3,2kg P; 25,8kgK; 58,6kg Ca; và
17,1kg Mg tại khu thí nghiệm A và 80,6kg N; 2,9kgP; 20,7kg K; 65,9kg Ca; và
17,8kg Mg trong khu thí nghiệm B. Kết quả cũng cho thấy lượng dinh dưỡng hoàn
trả đất không đủ bù vào dinh dưỡng được tích luỹ bởi những lá trưởng thành trên
cành. Chhetri và Fowler (1996) đã xây dựng mối quan hệ giữa chiều cao và đường
kính D1,3 cũng như mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính gốc cho Vối thuốc và
một số loài khác tại rừng ôn đới lá rộng tại Nepal.
1.2. Ở Việt Nam
Vối thuốc là loài cây khá thông dụng đối với người dân vùng núi, đặc biệt tại
các tỉnh vùng núi phía Bắc và khu vực các tỉnh Tây Nguyên. Tuy nhiên, những
9
10
(Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp, 1997; Cục Phát triển Lâm nghiệp, 1997).
Ngoài ra, Vối thuốc còn được trồng tạo bóng mát. Trong trồng rừng, Vối thuốc
được trồng để cải tạo hoàn cảnh rừng, trồng làm băng cản lửa, đặc biệt tốt cho rừng
Thông (Công ty Giống và phục vụ trồng rừng, 1995; Vũ Văn Hưng, 2004; Phạm
Ngọc Hưng, 2001). Trong kế hoạch trồng rừng từ năm 2007, Vối thuốc được trồng
làm băng cản lửa là yêu cầu bắt buộc cho một số loại rừng trồng (Chi Cục Lâm
nghiệp Lạng Sơn, 2006).
Theo các tiêu chí đánh giá gỗ lá rộng ở độ ẩm 12% của Nguyễn Đình Hưng
năm 1995 thì các tính chất cơ học gỗ Vối thuốc răng cưa và Vối thuốc đều được xếp
vào hàng rất thấp đến trung bình; Độ bền khi kéo (Vối thuốc răng cưa là 64,3
MPavà Vối thuốc 63,7 MPa), độ bền khi uốn va đập (Vối thuốc răng cưa là 0,2
kGm/cm3và Vối thuốc 0,14 kGm/cm3) và mô đun đàn hồi (Vối thuốc răng cưa
39,5x102 MPavà Vối thuốc 48x102 MPa)đều xếp vàoloại rất thấp. Theo chuẩn
TCVN 1072-71, gỗ Vối thuốc răng cưa và gỗ Vối thuốc được xếp vào nhóm V. Vì
vậy, cả 2 loại gỗ này không thích hợp cho việc sử dụng để chịu lực. Gỗ có thể dùng
cho mục đích đóng đồ mộc và dùng trong xây dựng thông thường, giá trị thấp (Võ
Đại Hải và Cộng sự, 2010)
1.2.3. Chọn và nhân giống:
Hiện nay, Vối thuốc xuất xứ Lào Cai đã được công nhận là giống tốt để cung
cấp cho vùng Trung tâm phía Bắc Việt Nam. Vối thuốc xuất xứ Lào Cai có nguồn
giống là lâm phần xác định, mã nguồn giống 21-06-02, dạng lâm phần là rừng tự
nhiên, được công nhận cấp quốc gia ngày 16 tháng 10 năm 2002. Lâm phần lấy
giống Vối thuốc có diện tích 50 ha, thời vụ thu hái từ tháng 2 đến tháng 3 hàng
năm. Đây là một thành tựu bước đầu rất có ý nghĩa cho hoạt động chọn và nhân
giống cũng như trồng rừng loài cây này trên phạm vi rộng ở nước ta.
Một vấn đề khác có liên quan đến hoạt động chọn và nhân giống Vối thuốc
Hạt Vối thuốc và Vối thuốc răng cưa khi được xử lý ở nhiệt độ 35 - 400c,
thời gian xử lý 6 giờ, nhiệt độ duy trì ủ hạt là 250c, độ sâu lấp hạt 0,5cm có thể cho
tỷ lệ nảy mầm từ 76,65 - 82,76%. Có thể sử dụng chất kích thích ra rễ IBA và IAA
nồng độ 750ppm để giâm hom Vối thuốc và Vối thuốc răng cưa cho tỷ lệ ra rễ trên
50% (Võ Đại Hải và Cộng sự, 2010).
Kết quả khảo nghiệm bước đầu các xuất xứ Vối thuốc và Vối thuốc răng cưa
tại 3 vùng Tây Bắc, Đông Bắc và Tây Nguyên cho thấy, đối với loài Vối thuốc thì
xuất xứ Điện Biên tỏ ra phù hợp với các tỉnh phía Bắc: tại Sơn La có tỷ lệ sống đạt
12
54,9%, D00 đạt 1,58 cm và Hvn đạt 118,5cm; Bắc Giang: tỷ lệ sống đạt 83,3%, D00
đạt 1,32cm và Hvn đạt 109,8cm); xuất xứ Bắc Giang phù hợp cho các tỉnh vùng Tây
Nguyên, tại Gia Lai tỷ lệ sống 52,8%, D00 đạt 1,96cm, Hvn đạt 117,3cm. Đối với
loài Vối thuốc răng cưa thì xuất xứ Đăk Lăk có triển vọng cho vùng Tây Nguyên và
tỉnh Sơn La; xuất xứ Quảng Trị có triển vọng cho khu vực tỉnh Bắc Giang (Võ Đại
Hải và Cộng sự, 2010)
1.2.4. Đặc điểm sinh lý - sinh thái:
Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy, Vối thuốc có biên độ sinh thái rộng,
thường xuất hiện ở những nơi có độ cao từ 400-1.700 m, nhưng thường thấy ở các
tỉnh miền núi phía Bắc. Vối thuốc thường xuất hiện với các loài Dẻ, Thành ngạnh,
Cáng lò. Vối thuốc sinh trưởng tốt trên đất sét phát triển trên nền đá mẹ phiến thạch
sét, phiến thách mica, sa thạch, foophia, ưa đất thoát nước tốt, độ pH từ 5-5,6. Vối
thuốc thường xuất hiện sau nương rẫy (Bộ NN & PTNT, 2000).
Vối thuốc là cây tiên phong ưa sáng, thường xuất hiện trong rừng phục hồi
và các lỗ trống trong rừng. Hoa ra vào tháng 3-4, quả chín vào tháng 1-2 năm sau.
Trong giai đoạn vườn ươm, Vối thuốc cần che bóng nhẹ từ 30-50% ánh sáng. Khả
năng chịu rét, chịu hạn tốt, tái sinh chồi mạnh.Cây mọc rải rác trong rừng, đôi khi
mọc thành quần thụ lớn (Cục Phát triển Lâm nghiệp, 1997). Trong Cẩm nang ngành
phẩm, 1994). Sinh trưởng của Vối thuốc đạt tốc độ trung bình, tăng trưởng bình
quân của đường kính đạt 0,85-0,96 cm, tăng trưởng chiều cao đạt 0,67-0,72 cm, tuy
nhiên sau 9 năm thì sinh trưởng của Vối thuốc đạt tốt hơn (Vũ Văn Hưng, 2004).
Tại Lục Ngạn, Bắc Giang Vối thuốc được trồng hỗn giao theo hàng với Thông mã
vĩ theo tỷ lệ 50:50, mật độ trồng 2.000 cây/ha. Sau 8 năm, tỷ lệ sống của Vối thuốc
còn 57,4%, chiều cao trung bình đạt 8,59m, đường kính D1,3 đạt 11,9 cm, đường
kính tán lá đạt 3,13 m, trên 90% cây có sức sinh trưởng tốt, dáng thân đẹp. Tuy
nhiên, do bị chèn ép mạnh nên hầu hết Thông mã vĩ trồng cùng đã bị chết (Trần
Văn Con và các cộng sự, 2006).
Võ Đại Hải và cộng sự (2010) đã phân chia lập địa gây trồng Vối thuốc và
Vối thuốc răng cưa dựa vào 7 tiêu chí đánh giá là: Thành phần cơ giới, độ dày tầng
đất, độ dốc, độ cao so với mực nước biển, trạng thái và độ tàn che của thực vật. Mỗi
tiêu chí được phân chia thành 4 cấp theo mức độ thích hợp là: Rất thích hợp, thích
hợp, ít thích hợp và không thích hợp.
14
Vối thuốc có thể trồng thuần loài hoặc hỗn loài với mật độ 1.250 cây/ha, bón
lót 100g NPK/hố, nếu trồng hỗn giao thì trồng hỗn giao với Thông mã vĩ theo tỷ lệ
1 Vối thuốc : 3 Thông mã vĩ. Vối thuốc răng cưa khi trồng có thể bón 100g NPK (tỷ
lệ 10:5:3); mật độ trồng thuần loài là 1.250 cây/ha (tỷ lệ sống 66,5%, D00 đạt
1,94cm, Hvn đạt 124,6cm); hỗn giao theo tỷ lệ 1Vối thuốc : 1 Sao đen (tỷ lệ sống
66,7%, D00 đạt 1,62cm, Hvn đạt 135,9cm), Sao đen cũng đạt tỷ lệ sống khá 59,3% và
sinh trưởng D00 đạt 1,43cm; Hvn đạt 119,6cm là những công thức có triển vọng (Võ
Đại Hải và Cộng sự, 2010).
Theo Võ Đại Hải và cộng sự 2010 thì có thể áp dụng biện pháp khoanh nuôi
xúc tiến tái sinh tự nhiên để phục hồi rừng Vối thuốc. Trạng thái Ic có Vối thuốc tái
sinh sau 12 năm khoanh nuôi đã hình thành 3 tầng A1, A2 và A3, mật độ cây tái
sinh tăng từ 1.250 - 2.250 cây/ha (trước khoanh nuôi) lên 2000 - 4000 cây/ha (sau
16
Chương 2
MỤC TIÊU, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Xác định được một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng Vối thuốc (Schima
wallichii Choisy) nhằm phát triển rừng trồng cây bản địa, gỗ lớn, đa tác dụng, góp
phần phục vụ công tác tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Vố i thuố c (Schima walliichii Choisy) sau khi trồng và sau khi gieo hạt thẳng.
2.3. Giới hạn nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ thực hiện đánh giá sinh trưởng và tỷ lệ sống của Vối thuốc
trong các thí nghiệm gieo hạt thẳng và trồng bằng cây con có bầu với độ tuổi, kích
thước và các biện pháp xử lý thực bì khác nhau trong giai đoạn từ 2013-2015.
2.4. Nội dung nghiên cứu
Luận án thực hiện 4 nội dung nghiên cứu sau:
2.4.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của tiêu chuẩn cây con khi trồng rừng đến tỷ lệ
sống và sinh trưởng của Vối thuốc.
2.4.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của xử lý thực bì đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của
Vối thuốc.
2.4.3. Nghiên cứu gieo hạt thẳng Vối thuốc.
2.4.4. Đề xuất các biện pháp lâm sinh trong trồng rừng Vối thuốc
2.5. Phương pháp nghiên cứu2.5.1. Địa điểm và đặc điểm đất trong khu vực
nghiên cứu
17
Hình 2.1. Bản đồ các vị trí thí nghiệm