ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
TRầN NGọC LIÊU
QUAN ĐIểM CủA CHủ NGHĩA MáC-LÊNIN Về
NHà NƯớC VớI VIệC XÂY DựNG NHà NƯớC
PHáP QUYềN Xã HộI CHủ NGHĩA VIệT NAM
CHUYÊN NGàNH: Cndvbc&cndvls
62.22.80.05
Mã Số:
H-ớng dẫn khoa học: PGS. Bùi Thanh Quất
Hà NộI 2009
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 4
NỘI DUNG .............................................................................................................. 13
CHƯƠNG 1. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ NHÀ NƯỚC 14
1.1. Quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về nhà nước .................................. 13
1.1.1.Tiếp cận và luận giải vấn đề nhà nước theo quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử 134
1.1.2. Bản chất của nhà nước ................................................................................................. 167
1.1.3. “Nhà nước dân chủ” - hình thức nhà nước cao nhất của nhân dân ...................................... 31
1.2. Quan điểm của V.I. Lênin về nhà nước ........................................................................... 34
3.2.2. Xác định và thể chế hóa quyền lực của nhân dân thành pháp luật........................................ 147
3.3. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước và các thiết chế chính trị - xã hội khác
nhằm đảm bảo thực thi quyền lực của nhân dân ................................................................ 157
3.3.1. Những hạn chế của hệ thống chính trị ......................................................................... 157
3.3.2. Phương hướng tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống các thiết chế chính trị - xã hội
nhằm đảm bảo thực thi quyền lực của nhân dân ....................................................................... 163
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 178
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 182
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN ................................ 191
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh đời sống thực tiễn trong nước và trên thế giới có nhiều thay đổi to lớn,
khiến người ta phải tư duy lại về nhiều vấn đề mà trong thời gian không xa trước đây tưởng
chừng đã trở thành chân l{ hiển nhiên, với bản lĩnh và tầm trí tuệ của mình, Đảng ta và dân tộc
ta vẫn kiên định con đường đã lựa chọn - con đường cách mạng vô sản, hướng tới xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Sự lựa chọn đó là đúng đắn, song đồng thời cũng đặt ra trước Đảng và
dân tộc ta những vấn đề l{ luận vô cùng khó giải quyết, bởi lẽ, quá trình giải quyết những vấn đề
đó thực chất là quá trình sáng tạo l{ luận. Chúng ta không thể tìm lời giải có sẵn cho những vấn
đề của Việt Nam từ trong di sản l{ luận của các nhà kinh điển cũng như trong l{ luận và thực tiễn
của các nước khác. Phép biện chứng duy vật đòi hỏi phải tư duy một cách biện chứng về mối
quan hệ giữa cái đã qua, cái hiện tại và cái tương lai, các hình thái trong tiến trình tự phát triển,
tức là tư duy một cách biện chứng về lịch sử. Sự phát triển của xã hội được đánh giá bằng những
khác biệt về chất giữa các hình thái, các giai đoạn lịch sử, chứ không phải dựa trên trật tự xuất
hiện trước hay sau, và vì thế cái phát triển hơn có thể xuất hiện trước hoặc đồng thời với cái
l{ luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam xuất hiện sau so
với nhiều nước trên thế giới, song lại là mô hình nhà nước pháp quyền trong chế độ xã hội xã
hội chủ nghĩa - chế độ ở một trình độ phát triển cao hơn so với chế độ tư bản chủ nghĩa. Vì thế,
chúng ta đồng thời vừa phải nghiên cứu mô hình l{ luận và thực tiễn của những nhà nước được
gọi là nhà nước pháp quyền hiện tồn khi mà bản thân nó cũng chưa ở vào trạng thái chín muồi,
vừa phải nghiên cứu và xây dựng tương lai của nó. Việc giải quyết nhiệm vụ kép này đòi hỏi
nhiều điều kiện và vì thế, chắc chắn chưa thể hoàn thành trong tương lai gần.
Song không vì thế mà chúng ta không bắt đầu công việc. Trong số nhiều việc có thể làm
được ngay từ bây giờ, chúng tôi cho rằng, việc làm rõ và khẳng định quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin về nhà nước là cơ sở l{ luận và phương pháp luận để trên cơ sở ấy xác định và giải
quyết một số vấn đề đặt ra trong nhận thức và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là một nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt.
Với mong muốn góp phần thực hiện nhiệm vụ nói trên, chúng tôi lựa chọn và triển khai
nghiên cứu đề tài luận án: “Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước với việc xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
5
Trong thời gian từ khi Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kz quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam ra đời (1991) đến nay, mô hình l{ luận về nhà nước pháp quyền và thực tiễn
xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam đã được quan tâm nghiên cứu và bước đầu thu
được một số kết quả. Có thể nêu ra đây một số công trình nghiên cứu vấn đề trên: Nhà nước
pháp quyền và xã hội công dân (Viện Thông tin Khoa học xã hội); Xây dựng nhà nước pháp quyền
Việt Nam - một số vấn đề l{ luận và thực tiễn (Nguyễn Văn Niên); Về Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam (Bộ Tư pháp); Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân (Tập thể tác
giả); Học thuyết về nhà nước pháp quyền và thực tiễn của nó ở Liên bang Nga (Lê Văn Cảm); Tìm
hiểu về nhà nước pháp quyền (Bộ Tư pháp); Tăng cường pháp chế, xây dựng nhà nước pháp
quyền Việt Nam, quản l{ xã hội bằng pháp luật (Đào Trí Úc); Nhà nước pháp quyền: Khái niệm,
luật trở thành sức mạnh mang tính nhà nước, còn quyền lực xã hội được pháp luật
thừa nhận thì trở thành quyền lực nhà nước”[91, tr. 6].
Quan niệm căn bản của những nghiên cứu theo hướng này là: Nhà nước pháp quyền có
lịch sử của nó và trải qua lịch sử phát triển ấy đã hình thành nên những giá trị mang tính bản
chất, quy định một mô hình nhà nước có được coi là pháp quyền hay không.
Thứ hai, tiếp nối phương thức tư duy lịch sử ở trên, đa số các nhà nghiên cứu đều khẳng
định rằng, l{ luận về nhà nước pháp quyền là vấn đề của xã hội tư bản, gắn liền với sự lớn mạnh
của giai cấp tư sản với tư cách lực lượng xã hội của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
thoát thai từ trong lòng của xã hội phong kiến. Vì thế, để tìm kiếm một mô hình l{ luận tương
đối hoàn thiện về nhà nước pháp quyền, chỉ có thể khảo sát l{ luận và thực tiễn xây dựng nhà
nước pháp quyền ở các nước tư sản. Những nhà nghiên cứu đi theo hướng này đã cung cấp một
bức tranh phong phú, nhiều màu sắc về l{ luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở
nhiều nước tư bản điển hình như Đức, Pháp, Mỹ, và cả ở những nước mới có sự biến động lớn
về chính trị như Nga. Đa số các nhà nghiên cứu theo hướng này thường đi tới khẳng định về
những nguyên tắc chung, giá trị chung của Nhà nước pháp quyền. Họ khẳng định rằng, chỉ có
nhà nước nào hội tụ đủ những dấu hiệu thể hiện các nguyên tắc chung, giá trị chung thì mới
được thừa nhận là nhà nước pháp quyền.
Thứ ba, nghiên cứu lịch sử nhà nước, pháp quyền Việt Nam. Hướng nghiên cứu này
mong muốn tìm kiếm những mầm mống của nhà nước pháp quyền đã từng tồn tại trong xã hội
Việt Nam cũng như những nguyên nhân tác động làm cho những mầm mống này biến chuyển
theo nhiều hướng khác nhau và nói chung đều chưa từng trở thành những giá trị điển hình của
nhà nước pháp quyền như ở nhiều nước khác trên thế giới, từ đó l{ giải rằng, việc xây dựng nhà
nước pháp quyền ở Việt Nam tuy không phải là một vấn đề quá xa lạ, bắt đầu từ hư không, song
cũng phải là từ một mảnh đất đã được chuẩn bị sẵn những điều kiện cần thiết.
Thứ tư, nghiên cứu, tìm kiếm những căn cứ, những cơ sở l{ luận trong di sản của các
nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin và Hồ Chí Minh. Nhận định chung ở đây là: L{ luận về
nhà nước pháp quyền là điều còn để ngỏ trong các tác phẩm của các nhà kinh điển của chủ
nghĩa Mác-Lênin; còn Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong l{ luận và thực tiễn cách mạng xã hội Việt
7
- xã hội. Với học thuyết này, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã vạch trần bí mật của hiện
tượng nhà nước cũng như mọi l{ luận tư sản về nhà nước, trong đó có l{ luận về nhà nước pháp
quyền của giai cấp tư sản; đồng thời, chỉ ra những thuộc tính bản chất của giai đoạn phát triển
8
cuối cùng của nhà nước trước khi tự tiêu vong - nhà nước chuyên chính vô sản. Ở Việt Nam,
chúng ta cần phải xuất phát từ chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - bộ phận cấu
thành đồng thời là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể
của nước ta - về nhà nước để nghiên cứu hiện tượng l{ luận và thực tiễn nhà nước pháp quyền
trong lịch sử và hiện tại, chứ không phải ngược lại, xuất phát từ cái gọi là “giá trị chung” trong l{
luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền lịch sử và hiện tại để phán xét trong di sản l{
luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có tư tưởng về nhà nước pháp quyền
hay không. Xuất phát từ l{ luận mác-xít về nhà nước chúng ta sẽ có được một cơ sở khoa học
quan trọng để nhận thức được bản chất của các l{ thuyết và mô hình nhà nước pháp quyền
đang hiện hữu và xây dựng được về mặt l{ luận và thực tiễn một nhà nước pháp quyền đúng
nghĩa của nó. Nếu không, việc tìm kiếm những giá trị chung về nhà nước pháp quyền để rồi buộc
hiện thực phải tuân theo chỉ là một biểu hiện cụ thể của một tín điều duy tâm theo kiểu Hêghen:
Ý niệm tuyệt đối tự tha hoá mình, tự đẻ ra cho mình những hình thức tồn tại cảm tính.
Hai là, phương pháp tư duy khi giải quyết vấn đề mối quan hệ giữa cái phổ biến và cái
đặc thù trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Nếu nhà nước pháp quyền là
một trình độ tất yếu đạt tới của xã hội trong sự phát triển của nó, thì nhất định sẽ mang những
giá trị chung nhất với tính cách là thuộc tính bản chất của nhà nước pháp quyền. Và do vậy, nhà
nước pháp quyền ở Việt Nam, trong tất cả tính chất đặc thù của nó, vẫn dung chứa những giá trị
chung nhất đó. Vấn đề trước hết là có thể nhận thức những giá trị chung nhất ấy ở đâu và tiếp
nữa là hình thức tồn tại cụ thể của nó trong nhà nước pháp quyền ở Việt Nam như thế nào.
Chúng tôi cho rằng, sẽ là rất có ích khi nghiên cứu lịch sử tư tưởng nhà nước và pháp quyền
trong lịch sử cũng như nghiên cứu l{ luận và mô hình nhà nước hiện thực ở một số nước được
coi là nhà nước pháp quyền trên thế giới hiện nay, song sẽ mắc sai lầm về mặt phương pháp
luận khi khái quát l{ luận và mô hình đó thành các giá trị chung để rồi áp đặt vào xã hội Việt
l{ luận về bản chất nhà nước pháp quyền.
- Dựa trên nhận thức l{ luận về bản chất nhà nước pháp quyền theo quan điểm của chủ
nghĩa Mác-Lênin về nhà nước, xác định và đề xuất hướng giải quyết những vấn đề cơ bản đang
đặt ra nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
trong hiện thực.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin
về nhà nước, các quan niệm tiêu biểu về nhà nước pháp quyền trên thế giới và việc xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
10
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Với tư cách một đề tài nghiên cứu cơ bản trong khuôn khổ một luận án tiến sĩ triết học,
phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định là:
- “Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước” được giới hạn là quan điểm của C.
Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin và Hồ Chí Minh về nhà nước.
- Dựa trên các tác phẩm, văn kiện đã được công bố chính thức để nghiên cứu các quan
niệm, quan điểm, tư tưởng về nhà nước, nhà nước pháp quyền trên thế giới và ở Việt Nam, để
đánh giá những thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra trong thực tiễn xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Việc xây dựng nhận thức l{ luận về bản chất của nhà nước pháp quyền được giới hạn
trong phạm vi xây dựng một định nghĩa khoa học về nhà nước pháp quyền trên cơ sở quan điểm
của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước.
- Hướng giải quyết những vấn đề cơ bản của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam được đề xuất dưới hình thức những quan điểm có tính phương pháp luận.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở l{ luận
Cơ sở l{ luận và phương pháp luận của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
v.v.,
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận án
gồm 3 chương.
Chương 1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước.
Chương 2. Nhận thức bản chất nhà nước pháp quyền trên cơ sở quan điểm của chủ
nghĩa Mác-Lênin về nhà nước.
Chương 3. Tiếp tục xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quan
điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước.
12
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ NHÀ NƯỚC
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước là một bộ phận cấu thành quan trọng
trong toàn bộ học thuyết duy vật biện chứng về lịch sử, chứa đựng những nội dung hết sức
phong phú. Các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật biện chứng về lịch sử, về chủ nghĩa
cộng sản khoa học, về học thuyết chính trị của chủ nghĩa Mác-Lênin, v.v., đều đã đề cập đến
những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhà nước. Trong phạm vi nghiên cứu của luận án,
chúng tôi chỉ khảo sát những quan điểm cơ bản của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin và Hồ Chí
Minh về nhà nước và khẳng định vai trò cơ sở l{ luận của các quan điểm ấy đối với việc chỉ đạo
hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
1.1. Quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về nhà nước
sẽ được Mác và Ăngghen tiếp tục phát triển trong tác phẩm nổi tiếng Hệ tư tưởng Đức và hoàn
toàn định hình với sự ra đời của tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.
Xuất phát điểm cho việc nghiên cứu vấn đề nhà nước đã được Mác và Ăngghen xác định
một cách rõ ràng, trước hết là từ sự lật ngược quan điểm duy tâm khách quan của Hêghen. Mác
đã chỉ ra sai lầm của Hêghen, đó là: Nội dung cụ thể, tức tính quy định hiện thực, biểu hiện ra là
cái có tính chất hình thức, còn tính quy định hoàn toàn trừu tượng của hình thức lại biểu hiện
thành nội dung cụ thể. Thực chất của những tính quy định của nhà nước không phải ở chỗ chúng
là những tính quy định của nhà nước, mà là ở chỗ dưới hình thức trừu tượng nhất của chúng,
những tính quy định ấy có thể được coi là những tính quy định lôgích của siêu hình học. Trung
tâm chú { ở đây không phải là triết học pháp quyền, mà là lôgích học. Công việc của triết học ở
đây không phải là làm cho tư duy thể hiện ra trong những tính quy định chính trị, mà là làm cho
những tính quy định chính trị hiện có tiêu tan đi, biến thành những tư tưởng trừu tượng. Cái có
{ nghĩa triết học ở đây không phải là lôgích của bản thân sự việc, mà chính là sự việc của bản
thân lôgích, không phải lôgích được dùng để luận chứng nhà nước, mà là nhà nước được dùng
để luận chứng lôgích [57, tr. 328-329].
Việc lật ngược quan điểm duy tâm khách quan nói trên của Hêghen đã gợi mở hướng
nghiên cứu mới về vấn đề nhà nước, đó là phải nghiên cứu “tư duy thể hiện ra trong những tính
quy định chính trị”, “lôgích của bản thân sự việc”, “lôgích được dùng để luận chứng nhà nước”,
v.v..
Mác đã nói rõ hơn về hướng nghiên cứu mới này như sau:
14
“Sự phê phán thật sự triết học đối với chế độ nhà nước hiện đại không chỉ
vạch ra mâu thuẫn của chế độ ấy, coi là những mâu thuẫn tồn tại một cách hiện
thực; nó còn giải thích những mâu thuẫn ấy; nó hiểu được quá trình phát sinh và
tính tất yếu của những mâu thuẫn ấy. Nó hiểu chúng theo nghĩa đặc thù của chúng.
Tuy nhiên, sự hiểu biết này không phải là ở chỗ, như Hêghen hình dung, đâu đâu
cũng tìm ra những tính quy định của khái niệm lôgích, mà là ở chỗ hiểu được lôgích
đặc thù của đối tượng đặc thù”[57, tr. 448].
xuất phát từ những con người hiện thực và quá trình đời sống hiện thực của họ, quá trình họ
sản xuất và tái sản xuất ra bản thân mình và xã hội, và đồng thời cũng sản xuất ra hàng loạt các
yếu tố phái sinh khác bổ sung vào xã hội, trong đó có nhà nước. Đây chính là quan điểm duy vật
biện chứng về lịch sử, là quan điểm xuất phát khi nghiên cứu vấn đề nhà nước cũng như các vấn
đề khác trong đời sống xã hội. Không đứng vững trên quan điểm này thì không thể l{ giải đúng
đắn mọi vấn đề thuộc về lĩnh vực nhà nước, kể cả vấn đề pháp quyền, nhà nước pháp quyền.
1.1.2. Bản chất của nhà nước
Từ việc xác định quan điểm xuất phát trong nghiên cứu về nhà nước, Mác và Ăngghen
đã đi tới những quan điểm cụ thể hơn về nhà nước, trong đó có việc xác định nội hàm căn bản
của khái niệm nhà nước, vạch ra tính chất, đặc trưng của nhà nước.
Điều cần nhấn mạnh trước hết là, “nhà nước” được Mác và Ăngghen hiểu theo hai lớp
nghĩa: Xã hội được tổ chức theo một cách xác định và bộ máy nhà nước, hay nhà nước chính trị
- biểu hiện tập trung của cách thức tổ chức xã hội ấy. Quan điểm trên đã thể hiện rõ trong tác
phẩm Phê phán triết học pháp quyền của Hêghen đồng thời với việc Mác phê phán quan điểm
biện chứng duy tâm của Hêghen về nhà nước. Trong tác phẩm nói trên, Mác đã chỉ ra hai lớp
nghĩa của nhà nước là: 1. Tổng thể của sự tồn tại của nhân dân; và 2. Nhà nước chính trị [57, tr.
427].
Trong tác phẩm của các ông, có lúc khái niệm “nhà nước” được Mác và Ăngghen hiểu
đồng thời theo cả hai lớp nghĩa, có lúc hiểu theo nghĩa thứ hai, và đặc biệt, một phần quan trọng
trong các luận bàn về nhà nước, Mác và Ăngghen đã phân tích sự vận động biện chứng của hai
lớp nghĩa này trong khái niệm “nhà nước” như là sự phản ánh quá trình chuyển hoá biện chứng
khách quan giữa nhà nước bộ máy và xã hội. Có thể minh hoạ cho khẳng định này bằng một {
kiến của Mác khi ông cho rằng: “Gia đình và xã hội công dân là những bộ phận hiện thực của nhà
nước, là những tồn tại tinh thần hiện thực của { chí, là những phương thức tồn tại của nhà
nước. Gia đình và xã hội công dân tự chúng cấu thành nhà nước. Chúng chính là động lực”[57,
tr. 314].
Những tính chất và đặc trưng của nhà nước với tính cách là bộ máy nhà nước, hay nhà
nước chính trị, được quy định không phải bởi tư duy của nhà triết học pháp quyền, cũng không
phải do chỗ nó là trạng thái tha hoá của một { niệm với các tính quy định sẵn có nào đó, mà gắn
- và đặc biệt, như chúng tôi sẽ trình bày sau này, trên cơ sở những lợi ích của các
giai cấp khác; những giai cấp này, - tách ra là do kết quả của phân công lao động đang tự tách ra trong mỗi tập đoàn người như vậy và trong các giai cấp đó, một giai
cấp thống trị tất cả các giai cấp khác”[58, tr. 47-48].
Như vậy, nhà nước thực chất là hiện thân của một mâu thuẫn. Đó là lợi ích chung tự
mâu thuẫn với chính mình, là hình thức lợi ích chung mâu thuẫn với nội dung lợi ích riêng gắn
17
với một bộ phận của xã hội, và theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, bộ phận này là giai cấp thống
trị về kinh tế. So với bộ phận đại diện cho lợi ích chung và nắm quyền lực công trong xã hội
nguyên thuỷ, nhà nước trong xã hội có giai cấp mang trong mình mặt đối lập với chính mình. Đó
chính là tình trạng tha hoá của tổ chức quyền lực công, của lợi ích chung. Chính trình độ phát
triển của lao động, hay nói cách khác là mâu thuẫn trong đời sống kinh tế giữa năng suất lao
động với nhu cầu cần được thoả mãn, đã đưa tới sự hình thành những giai cấp mà sự thoả mãn
nhu cầu của một giai cấp được quyết định bởi việc nó có nắm giữ hay không tư liệu sản xuất và
dựa trên cơ sở thủ tiêu sự thoả mãn nhu cầu của các giai cấp, tầng lớp khác, đã tạo nên mâu
thuẫn trên trong nhà nước và cũng chỉ có sự phát triển của lực lượng sản xuất biểu hiện ra ở
năng suất lao động mới có thể xoá bỏ được mâu thuẫn đó, khi mà của cải được sản xuất ra thoả
mãn một cách hoàn toàn cho tất cả mọi thành viên của xã hội, nói cách khác không còn mâu
thuẫn giữa lợi ích chung với lợi ích riêng, khi đó, nhà nước sẽ đồng nhất trở lại với xã hội, “mất đi
tính chất chính trị của nó”.
Xét về mặt lịch sử, thực tiễn lịch sử của sự giải thể thị tộc và bộ lạc đã chứng minh cho
quá trình chuyển hoá nói trên. Trong tác phẩm trứ danh - Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư
hữu và của nhà nước - Ăngghen diễn giải dưới hình thức l{ luận quá trình thực tiễn ấy. Theo
Ăngghen, nhân tố quyết định trong lịch sử, quy đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống
trực tiếp. Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có thể phân thành hai hình thức chủ yếu. Một hình
thức là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: thực phẩm, quần áo, nhà ở và những công cụ cần thiết để
sản xuất ra những thứ đó; một hình thức khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền
nòi giống. Ăngghen chỉ ra rằng, những trật tự xã hội, trong đó những con người của một thời đại
lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là do hai loại sản xuất quyết định: một
các cộng đồng với nhau; và sự tập hợp những cộng đồng thành một chỉnh thể lớn hơn lại gây ra
một sự phân công lao động mới và việc thành lập những cơ quan để bảo vệ những lợi ích chung
và để chống lại những lợi ích đối lập. Những cơ quan đó, - với tư cách đại biểu cho những lợi ích
chung của toàn nhóm, - giữ một địa vị đặc biệt đối với mỗi cộng đồng riêng biệt, và trong một số
hoàn cảnh nhất định thậm chí còn đối lập với cộng đồng ấy, - những cơ quan đó chẳng bao lâu
sau còn trở nên độc lập nhiều hơn nữa, một phần do việc kế thừa những chức năng xã hội,...,
một phần là do sự cần thiết ngày càng tăng lên của những cơ quan như thế khi những sự xung
đột với các nhóm khác ngày càng tăng thêm [60, tr. 252-253]. Có thể thấy rằng, quan điểm của
Ăngghen về sự vận động biện chứng của các quan hệ lợi ích, đưa tới sự xuất hiện của mâu thuẫn
giữa lợi ích chung và lợi ích riêng đã vạch ra bản chất của nhà nước trong xã hội phân chia thành
giai cấp.
Sự chuyển hoá biện chứng trong đời sống xã hội làm cho nhà nước chính trị tách khỏi
nhà nước - với tư cách xã hội được tổ chức theo cách thức xác định. Điều này xuất hiện trong
lịch sử với sự xuất hiện của giai cấp tư hữu và đặc biệt trở nên điển hình trong xã hội mà giai cấp
tư sản là giai cấp nắm quyền thống trị về kinh tế. Về vấn đề trên, Mác và Ăngghen đã viết:
19
“Vì giai cấp tư sản không còn là một đẳng cấp nữa mà là một giai cấp, nên
nó bắt buộc phải tự tổ chức không phải trên quy mô địa phương mà trên quy mô
toàn quốc, và phải gán cho những lợi ích thông thường của nó một hình thức phổ
biến. Do chỗ sở hữu tư nhân được giải thoát khỏi cộng đồng *Gemeinwesn+ nên
nhà nước đã tồn tại độc lập bên cạnh và bên ngoài xã hội công dân, nhưng thực ra
nhà nước ấy chẳng phải là cái gì khác mà chỉ là hình thức tổ chức mà những người
tư sản buộc phải dùng đến để bảo đảm lẫn cho nhau sở hữu và lợi ích của họ, ở
ngoài nước cũng như ở trong nước”[58, tr. 90].
Mâu thuẫn nội tại của nhà nước thể hiện trước hết ở chỗ, trong xã hội tồn tại mâu
thuẫn giữa lợi ích chung và lợi ích riêng nên nhà nước nào cũng mang bản chất giai cấp. Đó là vì
nhà nước nảy sinh ra từ nhu cầu phải kiềm chế những sự đối lập giai cấp; vì nhà nước đồng thời
nhà nước vô sản, dù rằng đây không còn là nhà nước theo nguyên nghĩa được dùng để chỉ các
nhà nước trước nó, mà là “nhà nước nửa nhà nước” và là hình thức cuối cùng của mọi nhà nước
chính trị. Mác và Ăngghen chỉ rõ một sự thật là, nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy của một
giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác, điều đó, trong chế độ cộng hoà dân chủ cũng
hoàn toàn giống như trong chế độ quân chủ. Và trong trường hợp tốt nhất, người ta cũng có thể
nói được rằng nhà nước cũng chỉ là một tai họa mà giai cấp vô sản chiến thắng trong cuộc đấu
tranh giành quyền thống trị giai cấp đã thừa hưởng; cũng giống như Công xã trước kia, giai cấp
vô sản chiến thắng sẽ không thể tức khắc tước bỏ những mặt nguy hại nhất của tai họa đó, cho
đến khi một thế hệ lớn lên trong những điều kiện xã hội mới và tự do, có đủ sức vứt bỏ được tất
cả cái thứ đồ cũ là nhà nước kia đi.
Chính nhờ hình thức đại diện cho lợi ích chung, nhờ sự tồn tại như một quyền lực công,
cho nên, nhà nước có một sức mạnh đặc biệt trong xã hội có giai cấp, và vì thế, giai cấp nào
muốn nắm quyền lãnh đạo xã hội đều buộc phải chiếm đoạt và sử dụng bộ máy nhà nước. Đây
là mục tiêu của tất cả các cuộc cách mạng xã hội. Nói cách khác mọi cuộc đấu tranh trong nội bộ
nhà nước, đấu tranh giữa phái dân chủ, phái qu{ tộc và phái quân chủ, đấu tranh cho quyền bầu
cử, v.v. và v.v., chẳng qua chỉ là những hình thức hư ảo của những cuộc đấu tranh thực sự giữa
các giai cấp khác nhau... Cũng do đó mà giai cấp nào muốn nắm quyền thống trị thì giai cấp ấy
trước hết phải chiếm lấy chính quyền để đến lượt mình có thể biểu hiện lợi ích của bản thân
mình như là lợi ích phổ biến, điều mà giai cấp ấy buộc phải thực hiện trong bước đầu. Điều đó
cũng đúng đối với giai cấp vô sản - giai cấp mà quyền thống trị của nó đòi hỏi phải thủ tiêu toàn
bộ hình thức xã hội cũ và sự thống trị nói chung.
Chính mâu thuẫn như vậy đã mang lại tính chất chính trị cho các thiết chế và quyền lực
công cộng. Nói cách khác, đặt trong xã hội phân chia thành các giai cấp đối lập, các thiết chế
công cộng và quyền lực công đều mang tính chính trị, chỉ là chính mình trên danh nghĩa còn thực
chất lại tự mâu thuẫn với chính mình, không phải là một thể đồng nhất. Mác và Ăngghen viết:
“Nhà nước là hình thức mà các cá nhân thuộc một giai cấp thống trị dùng để thực hiện lợi ích
21
chung của họ và là hình thức dưới đó toàn bộ xã hội công dân của một thời đại được biểu hiện
người thì qu{ vị sẽ thấy được một hình thức nhất định của trao đổi *Commerce+ và
22
của tiêu dùng. Qu{ vị hãy xét một trình độ phát triển nhất định của sản xuất, của
trao đổi và tiêu dùng thì qu{ vị sẽ thấy một chế độ xã hội nhất định, một hình thức
tổ chức nhất định của gia đình, của các đẳng cấp và giai cấp, - tóm lại, qu{ vị sẽ thấy
một xã hội công dân nhất định. Qu{ vị hãy xét một xã hội công dân nhất định thì
qu{ vị sẽ thấy một chế độ chính trị nhất định, nó chỉ là sự thể hiện chính thức của
xã hội công dân”[69, tr. 657].
Các ông giải thích cụ thể thêm rằng: “Theo quan điểm duy vật về lịch sử, nhân tố quyết
định trong quá trình lịch sử xét đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực...”*71,
tr. 641], và: “Chúng tôi hiểu các quan hệ kinh tế - mà chúng tôi coi là cơ sở quyết định lịch sử xã
hội, - là phương thức mà con người của một xã hội nhất định dùng để sản xuất ra những tư liệu
để sinh sống và trao đổi sản phẩm với nhau (vì có phân công lao động)”*72, tr. 270].
Khi vận dụng quan điểm duy vật lịch sử vào nghiên cứu một số trường hợp nhà nước cụ
thể, Mác và Ăngghen đã để lại cho chúng ta nhiều nhận định đáng quan tâm. Trước hết là về
nhà nước phương Đông. Bên cạnh mô hình phổ biến là sự xuất hiện của lợi ích riêng và mâu
thuẫn giữa lợi ích riêng và lợi ích chung đã quyết định sự ra đời và các đặc trưng của nhà nước,
còn có một mô hình đặc thù khác. Đó là mô hình của các nhà nước phương Đông. Đây có thể nói
là những biến thể của mô hình chung. Khi nghiên cứu xã hội phương Đông, Mác và Ăngghen đã
chỉ ra một đặc điểm của xã hội phương Đông, đó là: Sự tồn tại dai dẳng các công xã nông thôn và
sự biệt lập giữa chúng chính là cơ sở tự nhiên cho nhà nước phương Đông. Mác và Ăngghen
viết: “Tình trạng hoàn toàn biệt lập đó giữa từng công xã với nhau, - tình trạng quả là đã tạo nên
trên cả nước những lợi ích giống nhau, nhưng tuyệt nhiên không phải là những lợi ích chung, - là
cơ sở tự nhiên của chế độ chuyên chế phương Đông”*64, tr. 762].
Mác đã nêu lên một ví dụ khác về những tính chất mà trình độ thấp trong sở hữu tư
nhân mang lại cho nhà nước khi nhận xét về mô hình nhà nước Pháp trước cách mạng tư sản.
Ông chỉ rõ rằng, do chính ngay bản chất của nó, chế độ sở hữu tiểu nông là cơ sở cho một bộ
máy quan liêu có quyền hành vô hạn và đông vô kể. Chế độ tiểu nông tạo ra một trình độ quan
chung, cho quyền lực công ấy có thể trở thành nhà nước chính trị, đối lập với xã hội, đứng trên
xã hội, biểu hiện một cách tập trung các quan hệ xã hội nói chung và căn cốt là quan hệ giữa các
giai cấp - chủ thể của những lợi ích riêng - tức là cách thức tổ chức đời sống xã hội trong xã hội
phân chia thành giai cấp; hoặc quay trở về đồng nhất với chính mình, tức là với xã hội, khi tình
trạng phân chia các giai cấp được xoá bỏ do sản xuất phát triển. Một cách khái quát nhất, có thể
hình dung lôgích phát triển của xã hội - nhà nước được Mác và Ăngghen phản ánh như sau: Nhà
nước đồng nhất một cách trừu tượng với xã hội Nhà nước đối lập với xã hội Nhà nước
đồng nhất một cách cụ thể với xã hội.
Lôgích ấy tương ứng với các giai đoạn trong sự phát triển của lịch sử nhân loại: Xã hội
không tồn tại các giai cấp (xã hội nguyên thuỷ) Xã hội có giai cấp đối kháng (xã hội chiếm hữu
24
nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư sản và giai đoạn đầu của xã hội cộng sản) Xã hội triệt tiêu
sự tồn tại của các giai cấp (xã hội cộng sản hiện đại).
Lôgích ấy là tương ứng với cấu trúc lợi ích trong xã hội: Lợi ích chung trừu tượng (chưa
đạt tới sự tồn tại các lợi ích riêng) Mâu thuẫn biện chứng giữa lợi ích chung và lợi ích riêng
Lợi ích chung cụ thể (không còn các lợi ích riêng với tư cách các lợi ích phủ định nhau).
Từ những quan điểm như thế, Mác và Ăngghen đã vạch ra tính chất lịch sử của hiện
tượng nhà nước, đó là nhà nước không phải là xuất hiện và tồn tại mãi mãi với xã hội loài người.
Đã từng có những xã hội không cần đến nhà nước, không có một khái niệm nào về nhà nước và
chính quyền nhà nước cả. Đến một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định, giai đoạn tất nhiên
phải gắn liền với sự phân chia xã hội thành giai cấp thì sự phân chia đó làm cho nhà nước trở
thành một tất yếu. Các ông khẳng định rằng, xã hội loài người đang bước nhanh đến gần một
giai đoạn phát triển sản xuất, trong đó sự tồn tại của những giai cấp không những không còn là
một sự tất yếu nữa, mà còn trở thành một trở ngại trực tiếp cho sản xuất. Các giai cấp sẽ không
tránh khỏi biến mất, cũng như xưa kia, chúng đã không tránh khỏi xuất hiện. Giai cấp tiêu vong
thì nhà nước cũng không tránh khỏi tiêu vong theo. Xã hội sẽ tổ chức lại nền sản xuất trên cơ sở
liên hợp tự do và bình đẳng giữa những người sản xuất, sẽ đem toàn thể bộ máy nhà nước xếp