Quan điểm của triết học Mac-LêNin về vật chất và ý nghĩa phương pháp luận của nó - Pdf 19

Câu 1: Quan điểm của triết học Mac-LêNin về vật chất và ý nghĩa phương pháp
luận của nó?
TL:
Để hiểu rõ về quan điểm của tríêt học Mac-Lênin về vật chất thì chúng ta phải tìm hiểu
về những quan điểm về vật chất trước Mac
+ Thời kỳ cổ đại thì các nhà triết học đã đồng nhất vật chất với dạng vật chất cụ thể, như
Talet đã cho rằng vật chất là nước… Quan điểm này chỉ mang tính chất trực quan, cảm
tính. Nó chỉ có tác dụng chống lại CNDT và tôn giáo
+ Thời kỳ cận đại thế kỷ XVII-XVIII: thời kỳ này thì các nhà triết học đã đồng nhất vật
chất với thiọc tính của vật chất, như Niutơn đã cho rằng khối lượng là vật chất… Quan
điểm này mang tính chất siêu hình, máy móc.
+ Quan điểm của triết học Mac-Lênin về vật chất: Lênin cho rằng vật chất là một phạm
trù triết học dùng để chỉ thực tại khác quan được đem lại cho con người trong cảm giác,
được cảm giác chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.
Sau đây chúng ta sẽ phân tích nội dung quan điểm của triết học Mac-Lênin về vật chất:
+ Trước hết vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức của con người và không
phụ thuộc vào ý thức. Đây chính là nội dung quan trọng nhất của quan điểm về vật chất.
Không phải là khi con người ý thức được một cái gì đó thì nó là vật chất mà vật chất là
cái đã tồn tại một cách khách quan, như là trước khi các nhà vật lý tìm ra các tia phóng xạ
thì chúng đã tồn tại rồi,…
+ Thứ hai là con người có thể cảm giác được sự tồn tại khách quan của vật chất. Nếu cái
gì đó mà con người không thể cảm giác được thì nó không phải là vật chất, vật chất nó
luôn tồn tại trước ý thức của con người nhưng con người luôn có thể cảm giác được nó.
+ Thứ ba là ý thức của con người chỉ là sự phản ánh thế giới hiện thực. Những điều kiện
vật chất cụ thể, hoàn cảnh cụ thể mà nó quyết định tới việc hình thành lên ý thức của con
người.
Trên đây chúng ta đã phân tích những nội dung của quan điểm triết học Mac-Lênin về vật
chất, tiếp sau chúng ta sẽ phân tích ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm đó:
+ Nó đã giải quyết triệt để hai mặt trong một vấn đề cơ bản của triết học theo quan điểm
của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
1

+ Vận động xã hội: là sự thay đổi, thay thếcác quá trình xã hội của các hình thái kinh tế
xã hội.
Giữa các hình thái vận động có trình độ cao thấp khác nhau, chúng ta không thể mang
hình thức vận động cao để giải thích cho hình thức vận động thấp hơn. Các hình thức vận
động cao xuất hiện trên cơ sở của hình thức vận động thấp, bao hàm trong nó tất cả các
hình thức vận động thấp hơn. Mỗi sự vật luôn luôn có nhiều hình thức vận động khác
nhau nhưng nó chỉ được đặc trưng bởi một hình thức vận động cơ bản mà thôi.
Cuối cùng chúng ta sẽ tìm hiểu về ý nghĩa phương pháp luận
+ Qua sự phân loại các hình thức vận động nó đã đặt cơ sở cho sự phân loại các khoa học
tương ứng với đối tượng nghiên cứu của chúng.
+ Tư tưởng về sự khác nhau về chất và thống nhất của các hình thức vận động cơ bản còn
là cơ sở để chống lại khuynh hướng sai lầm trong nhận thức là quy hình thức vận động
cao và hình thức vận động thấp và ngược lại.
Câu 3: Quan điểm của triết học Mac-Lênin và nguồn gốc, bản chất của ý thức?
TL:
Khái niệm của ý thức: Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của
con người một cách năng động, sáng tạo.
Để biết rõ về quan điểm của triết học Mac-lênnin về ý thức chúng ta cần phải tìm hiểu hai
nội dung lớn đó là nguồn gốc và bản chất của ý thức.
Đầu tiên ta đi nghiên cứu về nguồn gốc của ý thức: thì nguồn gốc của ý thức được chia
làm 2 loại đó là nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.
- Nguồn gốc tự nhiên:
Ý thức là kết quả của quá trình tiến hoá của thuộc tính phản ánh ở mọi dạng vật chất.
Phản ánh là thuộc tính phổ biến của mọi vật chất. Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm
của của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua
lại giữa chúng.Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc vào cả hai vật(vật tác động và vật nhận
tác động). Trong quá trình ấy vật nhận tác động bao h cũng mang thông tin của vật tác
động. Trong quá trình tiến hoá của thế giới vật chất, các vật thể càng ở bậc thang cao bao
nhiêu thì hình thức phản ánh của nó càng phức tạp bấy nhiêu. Hình thức phản ánh đơn
giản nhất, đặc trưng cho giới vô sinh là những phản ánh vật lý, hoá học, nó là những hình

thức không thể tồn tại và thể hiện được. Vai trò của ngôn ngữ:
+ Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp trong xã hội, trao đổi kinh nghiệm, trao đổi tri
thức từ thế hệ này sang thế hệ khác
4
+ Nhờ ngôn ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn ,đồng thời là công cụ của tư duy
nhằm khái quát hoá, trừu tượng hoá hiện thực.
Vậy nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là
lao động là thực tiễn xã hội.
• Bản chất của ý thức:
Như chúng ta biết ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con
người một cách năng động, sang tạo. Để hiểu được bản chất của ý thức cần chú ý nhữn
nội sung sau:
+ Ý thức cũng là hiện thực nghĩa là cũng tồn tại, nhưng giũa vật chất và ý thức có sự khác
nhau mang tính đối lập. ý thức là sự phản ánh,cái phản ánh còn vật chất là cái được phả
ánh. Ý thức không có tính vật chất.
+ Ý thức là hình ản chủ quan của thế giới khách quan,nó không phải là hình ảnh vật lý
hay hình ảnh tâm lý động vật về sự vật vì Ý thức con người mang tính năng động, sang
tạo lại hiện thực theo nhu cầu thực tiễn xã hội.
+ Phản ánh ý thức là phản ánh sang tạo.
+ Quá trình ý thức thống nhất thể hiện ở:
Trao đổi thong tin mang tính chất hai chiều, có định hướng, chọn lọc, giữa chủ thể và đối
tượng phản ánh
Mô hình hoá đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần
Chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khác quan
+ ý thức là một hiện tượng xã hội, mang bản chất xã hội.
Câu 4: Quan điểm của triết học Mac-Lênin về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
ĐCSVN đã vận dụng mqh này ntn trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới.?
TL:
Để làm rõ quan điểm của triết học Mac-Lênin về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
chúng ta cần phải hiểu rõ các khái niệm sau:

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá, Đảng chủ trương: “huy động ngày càng
cao mọi nguồn lực trong cả nước và ngoài nứơc, đặc biệt là nguồn lực toàn dân vào công
cuộc đổi mới”. Như vậy phải phát huy năng lực sáng tạo và sức chiến đấu của Đảng và
phát huy sức mạnh toàn dân, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nứoc tar a
khỏi tình trạng kém phát triển, thực hiện dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh.
6
Câu 5: Quan điểm của triết học Mac-Lênin về bản chất của nhận thức?
TL:
Để hiểu rõ quan điểm của triết học Mac-Lenin về nhận thức chúng ta hãy điểm qua
những quan điểm của các nhà triết hịc trước Mác về nhận thức:
Xuất phát từ ý niệm phủ nhận tính khách quan của vật chất thì chủ nghĩa duy tâm chủ
quan cho rằng nhận thức chính là sự phức hợp của các cảm giác của con người. Còn theo
chủ nghĩa duy tâm khách quan thì nhận thức chính là sự “hồi tượng lại” linh hồn bất tử về
”thế giới các ý niệm” mà nó đã từng chiêm ngưỡng được nhưng mà lãng quên hoặc cho
rằng nhận thức là sự “ tự ý thức về mình của ý niệm tuyệt đối ”.
Khác với chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan về nhận thức
thin những người theo chủ nghĩa hoài nghi cho rằng nhận thức chính là trạng thái hoài
nghi về sự vật và biến sự nghi ngờ về tính xác thực của tri thức thành một nguyên tắc
nhận thức. Đến thời kỳ cận đại nguyên tắc này đã phủ nhận khả năng nhận thức của con
người hoặc hạn chế ở cảm giác bề ngoài của sự vật.
Đối lập với họ là chủ nghĩa duy vật đã thừa nhận khả năng nhận thưc của con người và
cho rằng nhận thức chính là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con
người.Tuy nhiên do sự hạn chế của tính trực quan, siêu hình, máy móc của chủ nghĩa duy
vật trước Mác cho rằng nhận thức là sự phản ánh trực quan đơn giản, là bản sao chép
nguyên xi trạng thái bất động của sự vật. Họ vẫn chưa thấy vai trò thực tiễn đối với nhận
thức.
Sau đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu khái niệm về nhận thức theo quan điểm của triết học
Mac-lênin: Nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong
bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động , sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn.
Tiếp theo chúng ta sẽ đi phân tích bản chất của nhận thức theo quan điểm của chủ nghĩa

+ Hoạt động thực nghiệm khoa học: là một hình thức đặc biệt của thực tiễn.là hoạt động
thí nghiệm, thực nghiệm bằng các phhương tiện vật chất của khoa học, hoạt động này
thíc đẩy quá trình nhận thức cuả con người về thế giới khách quan, góp phần nâng cao
đời sống của con người.
Các hình thức hoạt động thực tiễn ra đời tuần tự theo sự phát triển cảu xã hội loài người;
nhưng trong một giai đoạn củ thể của lịch sử , nhất là giai đoạn hiện nay thì cả ba hình
thức hoạt động đồng thời và đan xen lẫn nhau trong đó hoạt động chính trị xã hội là cao
nhất.
8
Sau đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:
+ Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức: nó được thể hiện ở những điểm sau:
Loài vật cũng phản ánh thế giới khách quan, nhưng thông qua cảm giác cho nên nó chỉ
phản ánh được cái vẻ bề ngoài và thụ động. Con người cũng phản ánh thế giới khách
quan nhưng thông qua lao động tức là nhận thức được cái bản chất. Cho nên thực tiễn có
vai trò quyết định nhất khẳng định chỉ có con người mới có khả năng nhận thức.
Đối tượng nhận thức chính là thế giới khách quan, nhưng nó không tự bộc lộ thuộc tính
của nó, nó chỉ bộc lộ khi con người tác động vào nó. Cho nên thực tiễn là cơ sở trực tiếp
hình thành nên quá trình nhận thức.
Hiện thực khách quan thì luôn vận động không ngừng, do vậy muốn nhận thức kịp thì
không còn cách nào khác là phải thông qua hoạt động thực tiễn. Cho nên nhận thức chính
là động lực để cho con người có thể nhận thức được thế giới khách quan.
+ Thực tiễn là mục đích của nhận thức:
Chúng ta phải tự đặt cho mình câu hỏilà nhận thức để làm gì? Nhận thức là để cải tạo thế
giới tự nhiên phục vụ cho bản thân do vậy nhận thức phải thong qua thực tiễn, hay thực
tiễn chínhlàmục đích của nhận thức. Nhận thức để áp dụng vào hiện thực và cải tạo hiện
thực.
+ Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý:
Thực tiễn là cơ sở, là ngồn gốc là động lực của nhận thức hình thành nên quá trình nhận
thức cho nên việc kiểm tra sự đúng đắng của tri thức là phải dựa vào thực tiễn, chứ ko
phải theo lối lập luận chủ quan. Thực tiễn chính là thước đo của những tri thức đã đạt

Đặc trưng của nhận thức cảm tính:
+ Nhận thức cảm tính là phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các giác quan của chủ thể
nhận thức.
+ Là sự phản ánh bên ngoài, phản ánh cái tất nhiên và ngẫu nhiên, cả cái bản chất và
không bản chất.
- Nhận thức lý tính:
Đây là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, trên cơ sở thong tin của quá trình nhận thức
cảm tính đem lại.Ngoài ra dựa vào năng lực, khái quát hoá, trừu tượng hoá của chủ thể
nhận thức mà hình thành nên nhận thức mới về sự vật một cách khái quát hơn , bản chất
hơn, đầy đủ hơn. Nhận thức lý tính thể hiện thông qua ba hình thức:
10
+ Khái niệm: là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh đặc tính bản chất của
sự vật. Khái niệm là sự phản ánh tổng hợp về một lớp sự vật, nó là cơ sở , tiền đề cho tư
duy trừu tượng, là phương thức tồn tại tri thức của con người.
+ Phán đoán: là hình thức tư duy liên kết các khái niệm với nhau để khẳng định hoặc phủ
định một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của sự vật. Có ba hình thức phán đoán là :
phán đoán đơn nhất, phán đoán đặc thù, phán đoán phổ biến.
+ Suy luận: là hình thức tuy duy liên kết các phán đoán lại với nhau để rút ra tri thức mới.
Đây là hình thức cao nhất trong quá trình nhận thức của con người. Có hai loại suy luận:
suy luận quy nạp đi từ cái riêng đến cái chung, suy luận diễn dịch là đi từ cái chung đến
cái riêng
Đặc trưng của giai đoạn nhận thức lý tính là:
+ Là quá trình nhận thức gián tiếp sự vật
+ Là quá trình đi sâu vào bản chất của sự vật
Tóm lại trong quá trình nhận thức cả nhận thức cảm tính và lý tính đều quan trọng, không
có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý tính. Còn không có nhận thức lý tính thì
không nhận thức được bản chất của sự vật.
- Nhận thức quay về thực tiễn:
Nhận thức phải quay về thực tiễn là vì:
+ Mục đích của nhận thức là phục vụ thực tiễn cải tạo hiện thực.

QHSX đều “ toạ địa bàn đay đủ ” cho LLSX phát triển. lúc đó nó là cơ sở cho LLSX phát
triển hết khả năng của nó.s
+ Khi LLSX phát triển đến một trình độ nhất định nó làm QHSX từ phù hợp trở thành
không phù hợp, đó là trạng thái mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX nếu quan hệ này càng
gay gắt thì QHSX trở thành xiềng xích cho sự phát triển của LLSX.
+ Song do yêu cầu khách quan của sự phát triển của LLSX thì QHSX cũ sẽ bị thay thế
bởi một QHSX mới để tạo đk cho LLSX phát triển, khi đó PTSX cũ mất đi hình thành
PTSX mới.
- QHSX cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của LLSX:
12
+ QHSX không phụ thuộc hoàn toàn vào LLSX mà nó quy định mục đích của sản xuất,
có tác động tới thái độ của người lao động, đến tổ chức phân công lao động xã hội,…nên
từ đó nó tác động tới sự phát triển của LLSX.
+ Nếu QHSX phù hợp với LLSX thì nó là động lực thúc đẩy sự phát triển LLSX, ngược
lại nếu QHSX lạc hậu hơn, hay tiên tiến hơn một cách giả toạ thì nó kìm hãm sự phảt
triển của LLSX.
+ Tuy nhiên việc giải quyết mối quan hệ giữa LLSX và QHSX không phải đơn giản mà
phải thông qua nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội của con người, trong xã hội có giai
cấp thì phải thông qua đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội.
Tóm lại quy luật này là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân
loại qua các chế độ xã hội, làm cho xã hội loài người thay thế lẫn nhau từ thấp đến cao từ
CSNT tới CHNL tới PK tới TBCN rồi XHCN.
Cuối cùng là sự vận dụng của đảng trong công cuộc lãnh đạo đổi mới đất nước:
LLSX quyết định QHSX vì vậy đảng ta trong quá trình đổi mới đã cố gắng thiếp lập, xây
dựng QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX của đất nước để cho kinh tế phát
triển. Đại hội Đảng IX chỉ rõ: ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng
QHSX phù hợp theo định hướng XHCN. Xuất phát từ nên kinh tế phổ biến là sản xuất
nhỏ, lao động thủ công mà đi lên CNXH chưa có nền đại công nghiệp, do đó phài tiến
hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm xây dựng cơ sở vật chất. Xây dựng chủ nghĩa
xã hội bỏ qua chế độ TBCN, tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực thì thật là

con đường phát triển của mỗi dân tộc ko những bị chi phối bởi những quy luật chung mà
nó còn phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá,…Do đó có những
dân tộc có thể bỏ qua một vài hình thái kinh tế xã hội nào đó thấp hơn để tiến lên một
hình thái ktxh cao hơn. Ví dụ như ngay đất nước chúng ta đã bỏ qua hình thái kinh tế
TBCN để tiến lên hình thái kinh tế CSCN.
Cuối cùng ta sẽ nói về sự vận dụng quan điểm này của ĐCSVN vào trong công cuộc đổi
mới đất nước:
+ Việc lựa chọn con đường tiến lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là một quá trình tự
nhiên: Trong chính cương vắn tắt và sách lựoc vắn tắt, luận cương đầu tiên của đảng ta
đã khẳng định “ con đường cách mạng VN nhất định phải đi tới CNXH bỏ qua thời kỳ
TBCN ”. Qua các thời kỳ cách mạng từ khi thành lập, Đảng ta luôn kằng định chân lý
“Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu khách quan phù hợp
với ý chí và nguyện vọng của nhân dân ta ”.
+ Kết hơp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với chính trị và các mặt khác của đời sống XH.
Trong mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị thì đổi mới kinh tế được
14
giữ vai trò trung tâm, đồng thời thúc đẩy đổi mới trong các mặt khác của đời sống xã
hội, quan điểm đó luôn được khằng định trong các cuộc đại hội Đảng VI,VII,VIII, IX .
Đại hội đảng IX đã đưa ra cơ cấu nền kinh tế 6 thành phần: nhà nước, tập thể, tư bản tư
nhân , tư bản nhà nước, cá thể tiểu chủ ở nông thôn và thành thị, có vốn đầu tư nước
ngoài.
Đi đôi với phát triển kinh tế là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy
mạnh công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước, phải không ngừng đổi mới hệ thống chính
trị nâng cao vai trò lãnh đạo sức chiến đấu của Đảng.
+ Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN:
Kinh tế thị trường là thành tựu chung của văn minh nhân loại, đồng thời là động lực
mạnh mẽ thúc đẩy LLSX phát triển
Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCn vừa phù hợp với xu
hương phát triển chung của nhân loại vừa phù hợp với yêu cầu phát triển LLSX của nước
ta, với yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ kết hợp với hội nhập kinh tế.

Họ là lực lượng cơ bản của cách mạng quyết định sự thắng lợi của cách mạng. Cách
mạng chính là sự nghiệp của quần chúng, nguồn gốc của các cuộc cách mạng là do sự
phát triển của LLSX , từ đó dẫn đến mâu thuẫn giữa các QHSX, nghĩa là nguyên nhân bắt
đầu từ hoạt động sản xuất cảu nhân dân. Do đó QCND là động lực của các cuộc cm.
+ QCND là người sang tạo ra các giá trị văn hoá tinh thần: QCND đóng vai trò to lớn
trong sự nghiệp phát triển của khoa học , nghệ thuật, văn học,
Tóm lại xét từ kinh tế đến chính trị, từ hoạt động vật chất đến hoạt động tinh thần QCND
luôn đóng vai trò quyết định trong lịch sử. Tuy nhiên vai trò chủ thể của QCND còn tuỷ
thuộc vàođk lịch sử cụ thể và trình độ nhận thức của QCND.
Cuối cùng là ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm trên:
+ Phê phán các quan điểm duy tâm và siêu hình về vấn đề này:
Theo quan điển duy tâm thì ý thức, quyết tâm của con người quyết định sự phát triển của
xã hội, điều này là không đúng.
Còn theo quan điểm siêu hình thì nó đề cao vai trò của vĩ nhân, nó quan niệm chỉ cần có
1 vĩ nhân giỏi là đủ để cho xã hội phát triển, điều này cũng ko đúng vì nếu chỉ có 1 mình
vĩ nhân sẽ ko làm được gì mà phải cần có sự tham gia của QCND
+ Phải quán triệt bài học lấy dân làm gốc vì nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử
16
+ Chống tệ sùng bái các nhân
Câu 11: Mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hộivà ý thức xã hội. ĐCSVN đã vận
dụng quan điểm này ntn trong công cuộc đổi mới?
TL:
Để hiểu rõ mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội ta làm rõ các khái
niệm sau:
+ Khái niệm tồn tại xã hội: là sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh hoạt vật chất của
xã hội.
+ Khái niệm ý thức xã hội: là mặt tinh thần của đời sống xã hội bao gồm những quan
điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống… của một cộng đồng xã
hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển
nhất định.

- YTXH tác động trở lại TTXH
Sự tác động đó thể hiện theo hai khuynh hướng đối lập nhau: tư tưởng khoa học và tiến
bộ góp phần thúc đẩy TTXH phát triển.Nếu YTXH lạc hậu thì sẽ kìm hãm sự phát triển
của TTXH.
Cuối cùng là sự vận dụng của Đảng:
Vận dụng quan điểm về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội thì
mọi chính sách đường lối của đảng luôn lắm vững tư tưởng đó, cải tạo xã hội cũ xây
dựng xã hội mới phải tiến hành trên cả hai mặt TTXH và YTXH. Đảng chỉ rõ: một mặt
coi trọng cuộc cách mạng tư tưởng văn hoá, phát huy vai trò tích cực của đời sống tinh
thần với quá trình phát triển kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; mặt khác
phải tránh tái phạm sai lầm chủ quan duy ý chí trong việc xây dựng văn hoá, xây dựng
con người mới.
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status