Câu 4:
Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật và ý nghĩa phương pháp
luận.
1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
*Khái niệm sự liên hệ phổ biến nói lên sự ràng buộc, phụ thuộc, tác động lẫn nhau
giữa các sự vật hiện tuợng, hoặc giữa các mặt, các yếu tố cấu thành của chúng, trong
đó sự tác động lẫn nhau là nội dung quan trọng nhất của sự liên hệ.
* Tính chất: Sự liên hệ phổ biến giữa các sự vật hiện tuợng có tính khách quan vì
những mối liên hệ hiện thực của bản thân thế giới vật chất là tự có, là thuộc tính cố
hữu của vật chất chứ không do thần linh thuợng đế hay " ý niệm tuyệt đối" nào đó
sinh ra cả. Sự liên hệ phổ biến giữa các sự vật hiện tuợng có tính phổ biến. Mọi sự vật
đều tồn tại trong trong mối quan hệ giữa các sự vật hiện tuợng khác nhau. Sự liên hệ
giữa các sự vật hiện tuợng trong thế giới là rất phong phú và đa dạng: liên hệ bên
trong và liên hệ bên ngoài, liên hệ cơ bản và liên hệ không cơ bản, liên hệ chủ yếu và
liên hệ thứ yếu, liên hệ chung và liên hệ đặc thù, liên hệ trực tiếp và liên hệ gián tiếp,
liên hệ không gian và liên hệ thời gian
* Nội dung nguyên lý:
- Mọi sự vật hiện tượng của thế giới đều luôn luôn tồn tại trong các mối liên hệ
xác định (tồn tại trong các mối liên hệ phổ biến) và trong vô vàn các mối liên hệ khác
nhau tức là luôn luôn tồn tại trong tính quy định, tính tương tác, những biến đổi tác
động tới nó. Như vậy mỗi một sự biến đổi trong thế giới đều có khả năng khách quan
tất yếu tác động đến những biến đổi khác một cách trực tiếp, gián tiếp…
- Với mỗi một sự vật, hiện tượng nhất định trong một điều kiện xác định thì
các mối liên hệ mà nó có là không đồng nhất về vị trí và vai trò. Đó là các mối liên hệ
bên trong và bên ngoài.Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự quy định,
chuyển hoá lẫn nhau giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt của một sự vật. Mối liên
hệ này giữ vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của sự vật. Mối liên hệ bên
ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Mối liên hệ này nói chung không giữ
vai trò quyết định đối với sự tồn tại, sự vận động và sự phát triển của sự vật.Nó
thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mới có thể tác động đối với sự tồn tại,sự
vận động và sự phát triển của sự vật.
công nghệ phải trở thành quốc sách hàng đầu.
2 Nguyên lý về sự phát triển.
* Khái niệm:
Theo quan điểm siêu hình thì phát triển là sự tăng lên hay giảm xuống thuần
tuý về mặt số luợng mà không có sự thay đổi về chất, hoặc nếu có sự thay đổi về chất
thì diễn ra trong phạm vi khép kín giản đơn. Quan điểm duy tâm nói chung cũng đều
phủ nhận sự phát triển nếu có thừa nhận cũng quy nguồn gốc của sự phát triển về các
lực luợng siêu nhiên như ý niệm tuyệt đối, thần linh, thuợng đế phủ nhận nguồn gốc
vật chất khách quan của sự phát triển. Theo phép biện chứng duy vật thì phát triển là
một phạm trù triết học dùng để khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp tới cao,
từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn hiện đến hoàn thiện hơn.
- Phát triển là những quá trình biến đổi với 3 đặc trưng sau:
+ Sự biến đổi về chất ở trình độ mới cao hơn
+ Quá trình biến đổi về mặt cơ cấu tổ chức hệ thống và về cơ chế phương thức
hoạt động của hệ thống
+ Là sự biến đổi diễn ra một cách toàn diện hoá.
* Tính chất:
- Tính khách quan của sự phát triển: Nguồn gốc và động lực của sự phát triển
nằm ngay trong bản thân các sự vật hiện tuợng, do các mâu thuẫn của chúng quy
định, nhờ vào sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập bên trong của sự vật
hiện tuợng đã quy định quá trình vận động và phát triển của chúng. Tính khách quan
của sự phát triển thể hiện trong các quy lụât lượng -chất, quy luật phủ định của phủ
định
- Tính phổ biến của sự phát triển: phát triển là khuynh huớng chung nhất, chủ
yếu nhất của sự vật hiện tuợng trong thế giới, cả trong tự nhiên, xã hội, tư duy. Trong
giới tự nhiên hữu sinh sự phát triển càng ngày càng rõ rệt của các loài sinh vật từ thấp
tới cao, cấu trúc cơ thể ngày càng phức tạp, từ đơn giản đến đa bào, từ động vật bậc
thấp đến động vật bậc cao. Các chức năng của sự sống cũng phát triển ngày càng
hoàn thiện hơn. TRong xã hội sự phát triển biểu hiện ở việc nâng cao khả năng lao
động và tư duy, thông qua sự phát triển của các phuơng thức sản xuất giúp con người
chúng ta chúng ta không chỉ vạch ra quá trình vận động mà còn phải vạch ra khưynh
huớng phát triển của chúng, đặt chúng trong phạm vi rộng lớn của thế giới và trong
điều kiện lịch sử cụ thể để thấy đuợc khuynh huớng phát triển thông qua những buớc
quanh co, phức tạp phải thấy đuợc quá trình phát sinh, phát triển, diệt vong của sự vật
hiện tuợng, xây dựng niềm tin khoa học vào sự tất thắng của cái mới, cái tiến bộ.
Trong hoạt động thực tiễn phải có quan điểm phát triển, phân kỳ nhiệm vụ thực tiễn
để giải quyết chúng theo từng bước từ thấp tới cao, từ đơn giản đến phức tạp, chống
thái độ chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn, trái lại chống thái độ bảo thủ, trì trệ,
định kiến, tư duy phải năng động tìm ra khả năng mới, con đuờng mới, phuơng pháp
mới thúc đẩy sự phát triển.
Vận dụng đúng đắn quan điểm phát triển vào đuờng lối đổi mới đất nuớc Đảng
ta phân kỳ qúa trình phát triển thành từng thời kỳ, buớc đi thích hợp, từ thấp tới cao:
1986-1990, 1991-1996,1996-2000,2001-2020. Nhờ đó phát huy nội lực, vận dụng
đuợc sức mạnh tổng hợp của thời đại đưa đất nuớc ta từng bước phát triển vững chắc
trên con đuờng chủ động hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu mà vẫn đảm bảo định
huớng XHCN