NHỮNG NGUYÊN LÝ VÀ QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG
DUY VẬT
(4 tiết )
I. HAI NGUYÊN LÝ TỔNG QUÁT CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT.
1. Mối liên hệ phổ biến.
* Các quan niệm về mối liên hệ phổ biến:
- Các nhà triết học duy tâm, tôn giáo thừa nhận có mối liên hệ phổ biến,
nhưng họ lại cho nguồn gốc của nó là từ thần linh thượng đế, “ ý niệm tuyệt đối”
sinh ra.
- Các nhà triết học siêu hình lại không thừa nhận mối liên hệ phổ biến. Họ
cho rằng sự vật, hiện tượng có thể tồn tại một cách cô lập, tách rời. Cái nào riêng ra
cái đó, cái này bên cạnh cái kia, giữa chúng không có sự liên hệ, ràng buộc với
nhau.
- Triết học Mác - Lênin cho rằng: Thế giới có vô vàn các sự vật, hiện tượng
nhưng chúng lại thống nhất với nhau ở tính vật chất, nên tất yếu giữa chúng phải có
mối liên hệ chằng chịt với nhau.
* Mối liên hệ có nhiều thuộc tính:
+ Mối liên hệ có tính khách quan: Vì mối liên hệ là cái vốn có của sự vật,
hiện tượng. Nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, hay thần
linh, thượng đế. Chỉ có liên hệ với nhau sự vật, hiện tượng mới vận động, tồn tại,
phát triển.
+ Mối liên hệ có tính phổ biến: Vì không phải chỉ có các sự vật, hiện tượng
liên hệ với nhau, mà các yếu tố, bộ phận cấu thành sự vật, hiện tượng cũng liên hệ
với nhau.
Không phải chỉ các thời kỳ trong một giai đoạn, các giai đoạn trong một quá
trình liên hệ với nhau, mà giữa các quá trình cũng liên hệ với nhau, trong sự vận
động phát triển của thế giới.
Không chỉ trong tự nhiên mà cả trong xã hội, lẫn trong tư duy, các sự vật,
hiện tượng cũng liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau.
+ Mối liên hệ còn có tính đa dạng, muôn vẻ: vì sự vật, hiện tượng có vô vàn
mối liên hệ, mỗi mối liên hệ lại có vai trò, vị trí khác nhau trong sự tồn tại, phát
nhiều khuynh hướng khác nhau ... còn phát triển chỉ phản ánh một khuynh hướng
vận động. Vận động đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
* Tính chất của sự phát triển: phát triển là khuynh hướng chung, có tính
phổ biến, biểu hiện như sau:
+ Trong tự nhiên vô sinh: từ quá trình phân giải và hoá hợp các chất vô cơ
đã hình thành nên những sự vật giản đơn đến sự vật phức tạp, rồi hình thành nên
các hành tinh, trái đất và thế giới tự nhiên nói chung.
+ Trong tự nhiên hữu sinh: từ sự sống đơn bào, đa bào đến các giống loài
động, thực vật rồi bậc thấp, bậc cao. Đặc biệt đến con người với tư cách là loài
động vật cao nhất của sự tiến hoá giới tự nhiên. Quá trình đó diễn ra hàng triệu
triệu năm.
+ Trong xã hội: Cho đến nay lịch sử xã hội loài người đã trải qua một 5 hình
thái kinh tế xã hội, hình thái kinh tế xã hội sau bao giờ cũng cao hơn, tiến bộ hơn
xã hội trước về mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá ... Đó là quá trình vận động phát
triển, vận động đi lên của lịch sử xã hội loài người.
+ Trong tư duy: con người ngày càng đi sâu vào thế giới vi mô, thế giới vĩ
mô, khám phá ra những điều bí ẩn của nó. Từng bước biến “vật tự nó” thành “vật
cho ta”. Chứng tỏ nhận thức của từmg người, cũng như các thế hệ, giai đoạn sau
bao giờ cũng cao hơn giai đoạn trước.
↔ Như vậy, phát triển là khuynh hướng chung của thế giới, có tính phổ biến,
được thể hiện trên mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội, tư duy.
Nguyên nhân của sự phát triển là do sự liên hệ, tác động qua lại giữa các
mặt, các yếu tố bên trong của sự vật, hiện tượng chứ không phải do bên ngoài áp
đặt, do ý muốn chủ quan của con người.
* Ý nghĩa phương pháp luận: nguyên lý phát triển là khuynh hướng chung
của thế giới có ý nghĩa quan trọng trong đời sống, nhận thức. Nó là cơ sở lý luận
trực tiếp của nguyên tắc phương pháp luận “ phát triển”. Nguyên tắc này đòi hỏi:
Phải xem xét sự vật, hiện tượng theo hướng vận động, đi lên phát triển.
Trong hoạt động nhận thức, thực tiễn không được thành kiến, định kiến khi xem xét
đánh giá con người và phong trào.
Chẳng hạn: những quy luật vạch ra nguồn gốc, động lực về sự phát triển xã
hội như: sản xuất vật chất là cơ sở quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội;
Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Kết quả tác động của quy luật xã hội như thế nào, phụ thuộc vào sự vận dụng
và nhận thức của con người. Bởi lẽ, con người là chủ thể của xã hội. Không có con
người thì không có xã hội và do vậy cũng không có quy luật của xã hội.
Quy luật của xã hội và hoạt động của con người có ý thức là không tách rời
nhau. Hoạt động của con người phải xuất phát từ quy luật khách quan của xã hội,
còn quy luật của xã hội chỉ được biểu hiện ra thông qua hoạt động của con người.
3. Tính khách quan của quy luật và vai trò của con người
Nói đến quy luật là nói đến tính khách quan vốn có, vì đó là những mối liên
hệ, bản chất, tất nhiên, bên trong của các sự vật, hiện tượng trong thế giới. Không
một ai, giai cấp, đảng phái nào có thể sáng tạo hay xoá bỏ quy luật nào đó theo ý
muốn chủ quan của mình. Quy luật có tính khách quan. Song, con người có thể chủ
động phát hiện ra quy luật, nhận thức và vận dụng nó, nhằm phục vụ nhu cầu, lợi
ích của mình.
Trên cơ sở nhu cầu, lợi ích con người có thể tạo ra những điều kiện để phát
huy tác dụng của quy luật này, hạn chế tác hại của quy luật khác. Đó là giới hạn vai
trò của con người trước quy luật.
Thực tế cho thấy, khi con người chưa nhận thức được quy luật, hoặc hành
động tuỳ tiện, bất chấp quy luật thì sẽ bị quy luật “trừng trị”. Khi đó con người trở
thành “nô lê” của tính tất yếu. Nhưng ngược lại, khi đã nhận thức được quy luật
khách quan một cách tích cực, sáng tạo thì con người trở thành tự do.
III. NHỮNG QUY LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1. Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.
( Quy luật mâu thuẫn)
a, Mâu thuẫn biện chứng
Triết học Mac - Lênin cho rằng: sự vật, hiện tượng nào cũng là thể thống
nhất của các mặt đối lập.
* mặt đối lập là những mặt trái ngược nhau, tồn tại trong cùng một sự vật,
hoá - dị hoá v.v... làm cho sự vật vận độg phát triển không ngừng. Trong xã hội,
đấu tranh giữa LLSX và QHSX là nguồn gốc, động lực phát triên của xã hội. Trong