Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mục lục
Trang
Mục lục 1
Đặt vấn đề 2
Giải quyết vấn đề 3
Chương I: Phép biện chứng và khái quát lịch sử phép 3
biện chứng.
I- Khái niệm phép biện chứng. 3
II- Khái quát lịch sử phép biện chứng. 5
Chương II: Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy 6
vật và vai trò của nó đối với hoạt động
con người
I- Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng 6
duy vật. Vai trò đối với hoạt động con
người.
II- Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng 8
duy vật. Vai trò đối với hoạt động con
người.
III- Sáu cặp pham tru cơ bản của phép biện 11
chứng duy vật. Vai trò đối với hoạt động
con người.
Kết thúc vấn đề 15
Tài liệu tham khảo 16
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhận thức, tư duy con người có quan hệ thế nào với thế giới xung
quanh? Con ngưòi có khả năng nhận thức được thế giới hiện thực hay
không? Mà khi con người nhận thức được thế giới xung quang thì viẹc áp
dụng những hiểu biết đó vào thực tiễn như thế nào? Đây chính là một
hệ biện chứng giữa các phương pháp đó.
Phương pháp luận được phân thành các loại sau:
o Phương pháp luận phổ biến
o Phương pháp luận chung
o Phương pháp luận riêng
2. Khái niệm phép biện chứng.
Phép biện chứng là phương pháp nghiên cứu xem xet sự vật hiện
tượng trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau với các sự vật hiện
tượng khác trong quá trình vận động biến đổi và phát triển không ngừng,
có nguyên nhân từ việc giải quyết mâu thuẫn bên trong của chinhs sự vật
hiện tượng đó.
3. Một số nguyên tắc cơ bản của phép biện chứng.
Trước hết chúng ta cần hiểu phép biện chứng là hệ thống các
nguyên tắc được hình thành trên cơ sở các nguyên lý, quy luật và phạm trù
của phép biện chứng duy vật. Các nguyên tắc này tuy có nội dung khác
nhau song chúng có sự liên hệ bổ sung lẫn nhau, tạo thành một công cụ có
vai trò to lớn trong nhận thức các quy luật của thế giới khach quan.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
a) Nguyên tắc về tính khách quan của sự xem xét.
Cơ sở lý luận của nó là vai trò quýât định của vật chất trong quan
hệ đối với ý thức, còn yêu cầu đối với mọi khoa học là khi nghiên cứu sự
vật phải xuất phát từ bản thân sự vật để chỉ ra các quy luật khách quan chi
phối sự vận động và phát triển của sự vật ấy.
b) Nguyên tắc về tính toàn diện.
Là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến trong các ngành khoa học.
Việc nhận thức bản chất của sự vậtphải được xem xét trong trạng thái toàn
vẹn và phức tạp của nó. Cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các
mặt, các mối liên hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó.
c) Nguyên tắc xem xét trong sự phát triển, trong sự vận động.
4. Vai trò của phép biện chứng.
Phép biện chứng là đỉnh cao của te duy khoa học. Nó không xuất
phát tự ý muốn chủ quan của người sáng tạo ra nó mà gia trị đó được thể
hiện ở chỗ “giải pháp những vấn đề mà tư tưởng tiến tới của loài người
đặt ra”, soi sáng các nhiệm vụ đã chín muồi của nhân loại, đó là nhiệm vụ
giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức bóc lột, khỏi sự tha hoá.
Cho đến ngày nay phép biện chứng duy vật vẫn là cơ sở thế giới quan,
phương pháp luận khoa học duy nhất đáp ứng được nhiệm vụ lịch sử đó
mà chưa có một học thuyết nào có thể thắng thế được. Chỉ có phép biện
chứng duy vật mới có sự giải thích khoa học về những quá trình vận động,
phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, nắm được quy luật vận động của
lịch sử, đem lại một giải pháp khoa học cho những vấn đề đó một cách
khoa học. Tuy nhiên, ngay nay, khoa học và thực tiễn luôn vận động biến
đổi nên triết học Mac-Lenin nói chung và phép biện chứng duy vật nói
riêng cũnh cần được bổ sung và phát triển. Phép biện chứng duy vật vừa
là yêu cầu của thực tiễn xã hội, vừa là yêu cầu của nội tại học thuyết đó.
Có phát triển được và thông qua phát triển, học thuyết đó mới bảo vệ
mình và phát huy được tác dụng và những giá trị của nó.
Phép biện chứng duy vật ra đời đánh dấu bước phát triển mới về
chất trong lĩnh vực triết học, đó là học thuyết triết học hoàn bị, triệt để
thống nhất được xây dựng trên lập trường thế giới khách quan. Nó bao
hàm cả tự nhiên, xã hội và tư duy con người, sự thống nhất hữu cơ giữa lý
luận và phương pháp, giữa lý luận và thực tiễn, giữa khoa học và cách
mạng.
Phép biện chứng duy vật là một hệ thống mở, nắng động. Nó dành
cả một phương hướng rộng lớn cho sự chứng minh của khoa học, cho sự
bù đắp của tri thức nhân loại, là sự hướng dẫn và là động lực cho con
người trong việc cải tạo tự nhiên và xã hội.
Phép biện chứng duy vật không giống bất cứ một học thuyết triết
học nào khác, bởi nó không phải là sản phẩm của phương pháp tư duy mà
2. Phép biện chứng duy tâm.
Người tiêu biểu cho phép biện chứng duy tâm khách quan là
Hêghen. Ông là người đầu tiên có công xây dựng tương đối hoàn chỉnh
phép biện chứng duy tâm với hệ thống các phạm trù, khái niệm và các quy
tắc cơ bản. Tuy nhiên phép biện chứng của Heghen còn thiếu triệt để và
thiếu khoa học.
3. Phép biện chứng duy vật.
Phép biện chứng duy vật do Mac-Angghen sáng lập ra vào giữa
thế kỷ XIX và sau này được Lenin phát triển. Phép biện chứng duy vật là
sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện
chứng. Nhờ đó khắc phục được những hạn chế trước đây của phép biện
chứng ngây thơ chất phác và phép biện chứng duy tâm, thực sự trở thành
khoa học đưa con người tới bến bờ chân lý. Phép biện chứng duy vật bao
gồm các nguyên lý, những cặp phạm trù và những quy luật.
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương II
Nội dung cơ bản của của phép biện chứng duy vật và vai trò của nó
đối với hoạt động của con người
I. Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật. Vai trò của
nó đối với hoạt động của con người.
1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Mối liên hệ phổ biến là sự ràn buộc quy định lẫn nhau nhưng đồng
thời lại có tác động để làm biến đổi lẫn nhau của các sự vật hiện tượng
hay giữa các yếu tố các mặt của một quá trình.
Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài:
Mối liên hệ bên trong là sự liên hệ qua lại, sự tác động lẫn nhau
giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của
một sự vật; nó giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát
triển của sự vật.
hoạt động thực tiễn, để cải tạo sự vật chúng ta phải bằng hoạt động thực
tiễn làm biến đổi mối liên hệ nội tại của chính sự vật cũng như mối liên hệ
qua lại của sự vật đó với sự vật khác; đồng thời phải sử dụng nhiều biện
pháp và nhiều phương tiện khác nhau. Các mối liên hệ có vai trò không
như nhau, do đó để thúc đẩy sự vật phát triển phải phân loại được các mối
liên hệ, nhận thức được mối liên hệ cơ bản quy định bản chất của sự vật
và giải quyết mối liên hệ đó.
2. Nguyên lý về sự phát triển.
Sự phát triển là sự biến đổi theo chiều hướng đi lên từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, đưa
đến sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Sự phát triển gắn liền với sự vận
động tuy nhiên không phải sự vận động nào cũng đưa tới sự phát triển.
Chỉ có sự vận động theo chiều hướng tiến lên, đưa đến sự ra đời của cái
mới thay thế cái cũ mới là sự phát triển. Cái mới bao hàm trong nó cái tiến
bộ, cái tích cực sau khi đã loại bỏ cái tiêu cực, cái lạc hậu của cái cũ.
Sự phát triển mang tính khách quan, phổ biến và đa dạng:
Tính khach quan: sự phát triển tạo nên từ việc giải quyết các mâu
thuẫn bên trong vốn có của bản thân sự vật hiện tượng, nó không phụ
thuộc vào ý thức của con người mà nó còn quy định ý thức của con người.
Tính phổ biến: sự phát triển có trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội
và tư duy; ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan.
Tính phong phú, đa dạng: sự phát triển của sự vật hiện tượng diễn
ra bằng nhiều con đường, nhiều cách thức khác nhau tuy thuộc vào từng
điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.
Từ nguyên lý về sự phát triển rút ra quan điển phát triển trong
nhận thức sự vật và hiện tượng và đó chính là nguyên tác phương pháp
luận trong nhận thức. Trong thực tiễn, con ngưòi cần chia sự phát triển
của sự vật theo từng giai đoạn nhất định, rồi nghiên cứu, so sách, đối
chiếu nhau để thấy ra được sự phát triển cao hơn, tiến bộ hơn.
Trong quá trình phát triển, sự vật thường đồng thời có những sự
trong và mâu thuẫn bên ngoài, mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản, mâu
thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thử yếu, mâu thuẫn đối kháng và không đối
kháng).
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập có ý nghia
quan trọng trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người. Để nhận
thức đúng bản chất của sự vật và tìm ra phương hướng giải pháp đúng cho
hoạt động thực tiễn, phải đi sâu nghiên cứu mâu thuẫn của sự vật. Phải
xem xét vị trí, vai trò, mối quan hệ của các mâu thuẫn và điều kiện chuyển
hoá lẫn nhau giữa chúng.
Để thúc đẩy sự phát triển của sự vật phải tìm mọi cách để giải
quyết mâu thuẫn chứ không điều hoà mâu thuẫn.
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng thành
những sự thay đổi về chất và ngược lại.
Chất và những thuộc tính về chất: Chất là phạm trù triết học dùng
để chi tính quy định khách quan vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu
cơ của những thuộc tính làm cho sự vật lá nó chứ không phải là cái khác.
Thuộc tính về chất là một khía cạnh nào đó về chất của một sự vật, nó
được bộc lộ ra trong mối quan hệ qua lại với sự vật khác. Mỗi sự vật có
muôn vàn thuộc tính, mỗi thuộc tính cũng có một phức hợp những đặc
trưng về chất của mình, khiến cho mỗi thuộc tính lại trở thành một chất.
Điều đó có nghĩa là mỗi sự vật có vô vàn chất. Với tư cách là khía cạnh
của chất được bộc lộ ra trong các mối quan hệ, các thuộc tính của sự vật
có vị trí khác nhau, trong đó, có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ
bản. Tổng hợp những thuộc tính cơ bản tạo thành chất cơ bản của sự vật.
Ở mỗi sự vật chỉ có một chất cơ bản, đó là loại chất mà sự tòn tại hay mất
đi của nố quy định sự tồn tại hay mất đi của bản thân sự vật.
Lượng và thuộc tính về lượng: Lượng là một phạm trù triết học
dùng để chỉ tính quy định mang tính đồng nhất, tính tương tự, tính giống
sự thống nhất giữa chất và lượng trong độ, sao cho sự thay đổi về lượng
đó không đẫn đến sự thay đổi về chất.
Muốn đạt được sự thay đổi về chất thì phải thực hiện những biến
đổi dần dần về lượng. Tránh khuynh hướng xem thường những sự thay
đổi về lượng để thực hiện ngay những biến đổi về chất.
Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải
biết từng bước tích luỹ về lượng để làm biến đổi về chất. Khi đã tích luỹ
đủ về số lượng thì phải có quyết tâm để tiến hành bước nhảy để chuyên
những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất; từ những
thay đổi mang tính chất tiến hoá sang thay đổi mang tính cách mạng.
3. Quy luật phủ định của phủ định.
Sự phủ định là sự thay thế sự vật, hiện tượng này bằng sự vật, hiện
tượng khác trong qúa trình vận động và phát triển. Phủ định biện chứng là
phạm trù triết học dùng để chỉ sự phủ định tự thân, sự phát triển tự thân, là
mắt xích trong quá trình dẫn tới sự ra đời của sự vật mới tiến bộ hơn sự
vật cũ.
Đặc điểm của phủ định biện chứng:
Phủ định biện chứng là quá trình mang tính khách quan do mâu
thuẫn của bản thân sự vất tự quy định. Hơn nữa, phương thức phủ định sự
vật cũng không phụ thuộc ý muốn của con người.
Phủ định biện chứng không phải là sự thủ tiêu, sự phá huỷ hoàn
toàn cái bị phủ định. Trái lai, để dẫn đến sự ra đời của cái mới, qúa trình
phủ định biện chứng bao hàm trong nó nhân tố giữ lại những nội dung tích
cực của cái bị phủ định. Phủ định biện chứng, do vậy, là sự phủ định
mang tính kế thừa. Trong nghĩa như vậy, phủ định đồng thời cũng là
khẳng định.
Nội dung của quy luật phủ định của phủ định:
Phủ định biện chứng mới nói lên một giai đoạn, một nấc thang
trong quá trình phát triển. Với tư cách là kết quả của phủ định lần thứ
nhất, cái mới cũng chứa đựng trong bản thân mình xu hướng dẫn đến
tạo điều kiện cho nó chiến thắng cái cũ.
Vừa phải chống thái độ “hư vô chủ nghĩa” trong khi nhìn nhận lịch
sử, đánh giá quá khứ, vừa phải chống thái độ bảo thủ, khư khư giữ lại
những gì đã lỗi thời cản trở bước tiến của lịch sử.
III. Sáu cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật. Vai trò
của nó đối với hoạt động của con người.
Phạm trù triết học là những khái niệm chung nhất phản ánh những
mặt, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến nhất không chỉ ở mọt lĩnh vực
nhất định nào đấy của hiện thực mà là toàn bộ hiện thực khách quan.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Các cặp phạm trù triết học được hình thành trong quá trình hoạt
động nhận thức và thực tiễn của con người, bằng con đường khái quát
hoá, trừư tượng hóa những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có bên trong
bản thân sự vật.
1. Cái chung và cái riêng.
Cái riêng là phạm trù triết học chỉ từng sự vật, hiện tượng, quá
trình phát triển trong thế giới khách quan. Cái chung là phạm trù tiết học
chỉ những thuộc tính, những mặt hoặc những mối liên hệ nhất định lặp lại,
giống ở nhiều sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau. Cái đơn nhất là
phạm trù chỉ những thuộc tính, hay yếu tố nào đó của sự vật nhất định,
không lặp lại trong các sự vật khác.
Giữa cái chung và cái riêng vừa có mối quan hệ thống nhất vừa có
sự đối lập. Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng chú
không biệt lập, lơ lửng đâu đó bên cạnh cái riêng. Cái riêng chỉ tòn tại
trong mối liên hệ đưa đến cái chung, vì bất cú cái riêng nào cũng đều tồn
tại trong muôn vàn mối liên hệ qua lại với các sự vật, hiện tượng. Có sự
liên hệ ấy là vì giữa chúng có những điển giống nhau (cái chung) nhất
định. Cái chung là bộ phận của cái riêng, cái riêng không ra nhập hết vào
cái chung, bất cú cái riêng nào cũng còn chứa đựng những cái chỉ vốn có
nhau. Nhung cùng một kết quả có thể tạo nên tù nhiều nguyên nhân khác
nhau. Kết quả lại tác động ngược trở lại nguyên nhân theo hướng thúc đẩy
hoặc cản trở sự hoạt động của nguyên nhân. Trong sự phát triển, nguyên
nhân và kết quả có thể đổi vai trò cho nhau.
Trong hoạt động nhận thức thì phải nhận thức đúng và đầy đủ
nguyên nhân của sự vật, hiện tượng thì mới có thể nhận thức đúng sự vật,
hiện tượng đó. Trong hoạt động thực tiễn, cần tìm hiểu và phân loại
nguyên nhân để có những biện pháp thich hợp tạo điều kiện cho nguyên
nhân tác động tích cực tới hoạt động, hạn chế những tác động tiêu cực của
nguyên nhân. Nếu muốn xoả bỏ sự vật thì phải xoá bỏ từ nguyên nhân của
sự vật đó.
3. Tất nhiên và ngẫu nhiên.
Tât nhiên là cái xuất phát nguyên nhân bên trong của sự vật và
trong những điều kiện nhất định nó phải xảy ra và xảy ra như thế. Ngẫu
nhiên xảy ra từ sự ngẫu hợp nhiều hiện tượng bên ngoài vì vậy nó có thể
không xảy ra, xảy ra như thế này hoặc thế khác.
Mối liên hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên tồn tại khách quan, độc
lập với ý thức của con người và đều có vị trí nhất định đối với sự phát
triển của sự vật. Tất nhiên và ngẫu nhiên không tồn tại biệt lập dưới dạng
thuần tuý, cũng như không có cái ngẫu nhiên thuần tuý. Tất nhiên biểu
hiện qua ngẫu nhiên, mỗi ngẫu nhiên lại mang một phần tât nhiên. Trong
sự phát triển của sự vật, tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hoá cho
nhau.
Trong nhận thức, muốn nhận thức được cái tất nhiên thì phải chỉ ra
được nguyên nhân bên trong của sự vật. Còn muốn nhận thức được cái
ngẫu nhiên thì phải từ nguyên nhân bên ngoài. Trong hoạt động thực tiễn
thì phải chủ yếu dụa vào cái tất nhiên, nhưng không vì thế mà bỏ qua cái
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngẫu nhiên. Cần có cái dự phòng cho trường hợp cái ngẫu nhiên xuất hiện
các hiện tượng nhưng đồng thời phải phân loại, đánh giá các hiện tượng
đó.
6. Khả năng và hiện thực.
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Hiện thực là phạm trù chỉ mọi cái hiện đang tồn tại trong tự nhiên,
xã hội và tư duy. Khả năng là phạm trù dùng để chỉ xu hướng, những yếu
tố đang tồn tại hiện thực mà trong sự vận động của chúng sẽ dẫn đến sự ra
đời của một sự vật mới, khi có điều kiện tương ứng.
Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, không thể tách rơi nhau, chúng chuyển hoá lẫn nhau. Hiện thực bao
giờ cũng chứa đựng khả năng, khả năng bao giờ cũng xảy ra trong lòng
hiện thực Cùng một hiện thực có thể chứa đựng nhiều khả năng. Từ khả
năng để trở thành hiện thực cần phải có một tập hợp các điều kiện cần và
đủ.
Trong hoạt động thực tiễn cần căn cứ vào hiện thực, vì hiện thực là
cái tồn tại thực sự, còn khả năng là cái tồn tại dưới dạng xu hướng. Chúng
ta cần chú ý tới những khả năng tốt và tạo điều kiện cho nó trở thành hiện
thực.
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Thực tiễn chứng minh rằng, trải qua những bước khac nhau trong
mọi hoàn cảnh, phép biện chứng duy vật luôn tỏ ra là đỉnh cao của trí tuệ
loài người, luôn có ý nghĩa thực tiễn hết sức to lớn, và đã thực sự trở
thành một khoa học.
Phép biện chứng duy vật đã, đang và tiếp tục cung cấp cho chúng
ta hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận phổ biến, thực sự khoa học
và có hiệu quả trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.
Ngày nay, việc bảo vệ phép biện chứng duy vật dưới sự xuyên tạc