Vận dụng phép biện chứng duy vật vào thực tiễn quản lý tại viễn thông đồng nai - Pdf 13

GVHD: TS. LÊ THI KIM CHI NHÓM 3
ĐẾ TÀI 1: VẬN DỤNG PBCDV VÀO THỰC TIỄN QUẢN LÝ TẠI VIỄN THÔNG ĐỒNG N AI Trang
1
Tiểu luận Vận dụng phép biện chứng duy vật vào
thực tiễn quản lý tại Viễn thông Đồng Nai
GVHD: TS. LÊ THI KIM CHI NHÓM 3
ĐẾ TÀI 1: VẬN DỤNG PBCDV VÀO THỰC TIỄN QUẢN LÝ TẠI VIỄN THÔNG ĐỒNG N AI Trang
2

LỜI CẢM Ơ N
Để hoàn thành được đề tài này, Lời đầu
tiên Nhóm 3 xin chân thành gửi lời cảm ơn
sâu sắc đến cô Tiến sỹ : Lê Thị Kim Chi đã có
công dạy dỗ tận tâm, tận lực và đầy tâm huyết
cho môn triết học. Đặc biệt là sự hướng dẫn
tận tình trong đề tài : “Vận dụng phép biện

Giáo viên hướng dẫn

TS Lê Thị Kim Chi LỜI MỞ ĐẦU

NỘI DUNG ĐỀ TÀI

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG
GVHD: TS. LÊ THI KIM CHI NHÓM 3
ĐẾ TÀI 1: VẬN DỤNG PBCDV VÀO THỰC TIỄN QUẢN LÝ TẠI VIỄN THÔNG ĐỒNG N AI Trang
5

DUY VẬT

1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN C ỦA PHÉP BIỆN
CHỨNG DUY VẬT
Phép biện chứng duy vật là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thế giới quan và
phương pháp luận triết học của chủ nghĩa M ác – Lênin; là “khoa học về mối liên hệ p hổ biến”
và cũng là “khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự
nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”. “Theo quan niệm của Mác, cũng như của Hêghen
thì phép biện chứn g bao gồm cái mà ngày nay người ta gọi là lý luận nhận thức hay nhận thức
luận”.
1.1. Phép biện chứng và các hình thức cơ bản của phép biện chứng
1.1.1. Khái niệm biện chứng, phép biện chứng:
Trong chủ nghĩa Mác – Lênin, khái niệm biện chứng dùn g để chỉ những mối liên hệ,
tương tác, chuy ển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá
trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
Biện chứng bao gồm biện chứng kh ách quan và biện chứng chủ quan. Biện chứn g
khách quan là biện chứng của thế giới vật chất, còn biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện

vong”.
Tuy nhiên, những tư tưởng biện chứn g đó về căn bản vẫn còn mang tính chất ngây thơ,
chất p hác. Ph.Ăngghen nhận xét: “trong triết học này, tư duy biện chứng xuất hiện với tính
chất thuần phác tự nhiên chưa bị khuấy đục bởi những trở ngại đáng yêu… Chính vì n gười Hy
Lạp chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích giới tự nhiên, cho nên họ hãy còn quan niệm giới tự
nhiên là một chỉnh thể và đứng về mặt toàn bộ mà xét chỉnh thể ấy. M ối liên hệ phổ biến giữa
các hiện tượng tự nhiên chưa được chứng minh về chi tiết; đối với họ, mối liên hệ đó là kết quả
của sự quan sát trực tiếp”. Phép biện chứng chất phác cổ đại nhận thức đúng về tính biện
chứng của thế giới nhưng bằng trực kiến thiên tài, bằng trực quan chất phác, ngây thơ, còn
thiếu sự chứng minh bởi nhữn g thành tựu phát triển của khoa học tự nhiên.
Từ nữa cuố i thế kỷ XV, khoa họ c tự nhiên bắt đầu p hát triển mạnh, đi sâu vào phân
tích, nghiên cứu từng yếu tố riêng biệt của thế giới tự nhiên, dẫn tới sự ra đời của phương pháp
siêu hình. Đến thế kỷ XVIII, phương pháp siêu hình trở thành phương pháp thống trị trong tu
duy triết học và nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, khi khoa học tự nhiên chuyển từ việc nghiên
cứu đối tượng riêng biệt sang nghiên cứu quá trình thống nhất của các đối tượng đó trong mối
liên hệ, thì phương pháp tư duy siêu hình không còn phù hợp mà phải chuyển sang một hình
thức tư duy mới cao hơn là tư duy biện chứng.
H
 Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ Cantơ và hoàn thiện ở
Hêghen. Theo Ph.Ăngghen: “hình thức thứ hai của p hép biện chứng, hình thức quen thuộc nhất
với các nhà khoa học tự nhiên Đức, là triết học cổ điển Đức, từ Cantơ đến Hêghen”.
Các nhà triết học cổ điển Đức đã trình bày những tư tưởng cơ bản nhất của phép biện
chứng duy tâm một cách có hệ thống. Tính ch ất duy tâm trong triết học

Hêghen biểu hiện ở
chổ ông coi biện chứn g là quá trình phát triển khởi đầu của “ý niệm tuyệt đối”, coi biện chứn g
chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan. Theo Hêghen, “ý niệm tuyệt đối” là điểm đầu
khởi điểm của tồn tại, tự “tha hóa” thành giới tự nhiên và trở về với bản thân nó trong tồn tại
tinh thần. “…tinh thần, tư tưởng, ý niệm là cái có trước, còn thế giới hiện thực chỉ là một bản
sao chép của ý niệm”. C ác nhà triết học duy tâm Đức, mà đỉnh cao nhất là Hêghen, đã xây

thuyết xề sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học
thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này không phản ánh vật chất
luôn luôn phát triển không ngừng”,v.v
1.2.2. Những đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin có hai đặc trưng cơ bản sau đây:
Một là, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin là phép biện chứng được
xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa họ c. Với đặc trưng này, phép biện chứng
duy vật không chỉ có sự khác biệt căn bản với p hép biện ch ứng duy tâm cổ điển Đức, đặc biệt
là với phép biện chứng của Heeghen (là phép biện chứng được xác lập trên nền tảng thế giới
quan duy tâm), mà còn có sự khác biệt về trình độ p hát triển so với nhiều tư tưởng biện chứn g
đã từng có trong lịch sử triết học từ thời cổ đại (là phép biện chứng về căn bản được xây dựng
trên lập trường của chủ nghĩa duy vật nhưng sau đó là chủ nghĩa duy vật còn ở trình độ trực
quan, ngây thơ và chất phác).
Hai là, trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin có sự thống nhất giữa
nội dung thế giới quan (duy vật biện chứng) và phương pháp luận (biện chứn g duy vật), do đó
nó không dừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn là công cụ để nhận thức thế giới và cải tạo
thế giới.
GVHD: TS. LÊ THI KIM CHI NHÓM 3
ĐẾ TÀI 1: VẬN DỤNG PBCDV VÀO THỰC TIỄN QUẢN LÝ TẠI VIỄN THÔNG ĐỒNG N AI Trang
8

Mỗi nguyên lý, quy luật trong phép biện chứn g duy vật của chư nghĩa Mác – Lênin
không chỉ là sự giải thích đúng đắn về tính biện chứn g của thế giới mà còn là phương pháp
luận khoa học của việc nhận thức và cải tạo thế giới. Trên cơ sở khái quát các mối liên h ệ phổ
biến và sự phát triển, những quy luật phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của tất
thảy mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, p hép biện chứng duy vật của chủ
nghĩa Mác – Lênin cung cấp những nguyên tắc p hương pháp luận chung nhất cho quá trình
nhận thức thế giới và cải tạo thế giới, đó không chỉ là nguyên tắc phương pháp luận khách
quan mà còn là phương pháp luận toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể, phương pháp luận phân
tích mâu thuẫn nhằm tìm ra nguồn gốc, động lực cơ bản của các quá trình vận động, phát

đoạn phát triển của một sự vật, hiện tượng.
Các mối quan hệ mang tính khách qu an, phổ biến và đa dạng, chúng giữ những vai trò
khác nhau quy định sự vận động, phát triển của sự vật hiện tượng. Trong hoạt động nhận thức
và hoạt độn g thực tiễn, không nên tuyệt đối hóa mối liên hệ nào và cũng không nên tách rời
GVHD: TS. LÊ THI KIM CHI NHÓM 3
ĐẾ TÀI 1: VẬN DỤNG PBCDV VÀO THỰC TIỄN QUẢN LÝ TẠI VIỄN THÔNG ĐỒNG N AI Trang
9

mối quan hệ này với mội quan h ệ khác bởi trên thực tế, các mội quan hệ còn phải được n ghiên
cứu cụ thể trong sự biến đổi và phát triển của chúng.
Nguyên lý về mối quan hệ phổ biến khái quát bức tranh toàn cảnh về thế giới trong
những mối quan hệ chằng chịt giữa các sự vật hiện tượng của nó.
Từ nguyên lý về mối quan hệ phổ biến con người rút ra nhữn g quan điểm nguyên tắc
chỉ đạo hoạt động nhận thức và ho ạt động thực tiễn.
2.1.2. Nguyên lý về sự phát triển
Phát triển dùng để khái quát quá trình vận động đi lên từ thấp đến cáo từ đơn giản đền
phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Quá trình này vừa diễn ra dần dần, vừa nhảy
vọt làm cho sự vật hiện tượng cũ mất đi, sự vật hiện tượng mới về chất ra đời. Sự phát triển
không theo đường thẳng mà theo dạng “xoắn ốc”, cái mới dườn g như lặp lại một số đặc trưng,
đặc tính của cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn, thể hiện tính quanh co, phức tạp, có thể có những
bước thụt lùi trong sự phát triển.
Phát triển có tính khách quan, phổ biến đa dạng. Từ nguyên tắc này con người rút ra
được những quan điểm, n guyên tắc chỉ đạo hoạt độn g nhận thức và hoạt động thực tiễn.
2.2. Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
Bên cạnh các cặp phạm trù, phép biện chứng duy vật còn bao h àm ba quy luật phổ biến
về sự vận động phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Đó là quy luật

chuyển hóa

những sự

Sự vận động, biến đổi của sự vật hiện tượng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng, lượn g biến
đổi trong phạm vi “ độ” chưa làm chất thay đổi nhưng khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất
định thì sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất. Giới hạn đó chính là điểm n út. Sự thay đổi về lượng khi
đạt tới điểm nút, với những điều kiện xác định tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới. Sự
thay đổi về chất gọi là bước nhảy.
Quá trình chuyển hóa từ những sự thay đổi về chất thành những sự thay đổi
về lượng:
Khi chất mới ra đời, sẽ tác động trở lại lượng mới. Chất mới tác độn g tới lượng mới
làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động, p hát triển của sự vật. Như
vậy, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt chất và
lượng. Sự thay đổi về lượng tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất thông qu a b ước nhảy.
Chất mới ra đời sẽ tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới. Quá trình đó liên t ục diễn ra, tạo
thành phương thức phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng trong
tự nhiên, xã hội, tư duy.
2.2.2. Quy luật mâu thuẫn:
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là quy luật ở vị trí “hạt nhân” của
phép biện chứng duy vật, quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi
quá trình vận động và phát triển.
a) Khái niệm mâu thuẫn
Quan điểm siêu hình coi mâu thuẫn là cái đối lập phản logic, không có sự thống nhất,
không có sự chuyển hóa biện chứng giữa các mặt đối lập. Ngược lại, p hép biện chứng duy vật
quan niệm mâu thuẫn để chỉ mối liên hệ thống nhất và đấu tranh, chuyển hóa giữa các mặt đối
lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
b) Quá trình vận động của mâu thuẫn
Sự thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập
Thống nhất của các mặt đối lập dùng để chỉ sự liên hệ, ràng buộc, khôn g tách rời nhau,
quy định lẫn nhau của các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại. Xét về phương
GVHD: TS. LÊ THI KIM CHI NHÓM 3
ĐẾ TÀI 1: VẬN DỤNG PBCDV VÀO THỰC TIỄN QUẢN LÝ TẠI VIỄN THÔNG ĐỒNG N AI Trang
11

thành lỗi thời và b ị thay thế bởi sự vật mới tiến bộ hơn. Sự vật mới này đến lượt nó cũng sẽ trở
thành lỗi thời và b ị thay thế bởi sự vật mới khác. Sự phát triển là quá trình vô tận và không có
sự phủ định cuối cùng. Qua mỗi lần phủ định, sự vật loại bỏ được nh ững yếu tố lạc hậu, lỗi
thời, tích lũy những yếu tố mới, tiến bộ hơn. Do đó, sự phát triển thông qua phủ định biện
chứng là quá trình đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến
hoàn thiện
.
GVHD: TS. LÊ THI KIM CHI NHÓM 3
ĐẾ TÀI 1: VẬN DỤNG PBCDV VÀO THỰC TIỄN QUẢN LÝ TẠI VIỄN THÔNG ĐỒNG N AI Trang
12Hình thức “phủ định của phủ định” của các quá trình vận động, phát triển.
Tính chất chu kỳ của các quá trình phát triẻn thường diễn ra theo hình thức “xoáy ốc”, đó cũng
là tính chất phủ định của p hủ định. Theo tính chất này, mỗi chu kỳ phát triển của sự vật thường
trải qua ít nhất hai lần phủ định cơ bản với ba hình thái tồn tại chủ yếu của nó, trong đó hình
thái cuối mỗi chu kỳ lặp lại những đặc trưng cơ bản của hình thái ban đầu nhưng trên cơ sở
mới cao hơn về trình độ phát triển nhờ kế thừa được nh ững nhân tố tích cực và loại bỏ được
những nhân tố tiêu cực qua hai lần phủ định. Quy luật p hủ định của phủ định khái quát tính
chất chung, p hổ biến của sự phát triển, đó không phải là sự phát triển theo đường thẳng mà
theo hình thức “xoáy ốc”, thể hiện tính chất biện chứng của sự phát triển, đó là tính kế thừa,
tính lặp lại và tính tiến lên.
Tóm lại, nội dung cơ bản của quy luật phủ định của phủ định trong phép biện chứng
duy vật phản ánh mối quan hệ biện chứn g giữa cái p hủ định và cái khẳng định

trong quá

trình
phát triển của sự vật. Phủ định biện chứng là điều kiện cho sự phát triển, cái mới ra đời là kết
quả của sự kế thừa những nội dun g tích cực từ trong sự vật cũ, phát huy nó trong sự vật mới và

chung chỉ tồn tại trong cái riêng, biểu hiện thông qua cái riêng; ngược lại, cái riêng chỉ tồn tại
trong mối liên hệ với cái chun g, bao hàm cái chung; cái riêng là cái toàn bộ, phong p hú hơn cái
chung, cái chun g cà cái bộ p hận nhưng sâu sắc hơn cái riêng; cái đơn nhất và cái riêng có thể
chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình vận độn g, phát triển của sự vật. V.I Lenin viết: “Cái riêng
chỉ tồn tại trong mối liên hệ đến cái

chung. C ái chun g chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái
riêng. Bất cứ cái riêng nào cũng là cái chung, bất cứ cái chung nào cũng bao quát một cách đại
khái tất cả cái riêng. Bất cứ cái riêng nào cũng không gia nhập
đầy đủ vào cái
chung…. Bất
cứ cái riêng nào cũng thông qua hàng nghìn sự chuyển hóa mà liên hệ với những cái riêng
thuộc loại khác.”
2.3.2 Nguyên nhân và kết quả:
Nhận thức về sự qua lại giữa các mặt, các yếu tố, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với
nhau dẫn đến sự xuất hiện các sự vật, hiện tượng mới và do vậy phát sinh ra mối liên hệ nhân
quả. Nguyên nhân là do sự tương tác qua lại giữa các mặt trong cùng một sự vật, hiện tượng
hoặc giữa các sự vât, hiện tượng với nhau gây nên những biến đổi nhất định. Kết quả là những
biến đổi xuất hiện do s ự tương tác qua lại giữa các mặt trong cùng một sự vật, hiện tượng hoặc
giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
Giữa n guyên nhân và kết quả có mối liên hệ qua lại quy định lẫn nhau. Nguyên nhân là
cái sinh ra kết quả nên luôn có trước cái kết quả, sau khi xuất hiện, kết quả ảnh hưởng tích cực
trở lại đối với n guy ên nhân. Sự phân biệt nguyên nhân - kết quả lúc này có tính tương đối. Một
sự vật, hiện tượng ở trong mối quan hệ này là nguy ên nhân, nhưng lại là kết quả ở trong mối
quan hệ khác và n gược lại tạo nên chuỗi nhân - quả vô tận. Do vậy, nguyên nhân - kết quả bao
giờ cũng ở tron g mối quan hệ cụ thể.

2.3.3 Tất nhiên và ngẫu nhiên:
Trong khi phản ánh hiện thực khách quan, con người nhận thức được tính không một
nghĩa, không cùng một giá trị của các mối liên hệ khác nhau của cùng một sự vật, hiện tượng

dung phát triển, còn khi không phù h ợp, hình thức cản trở sự phát triển của nội dung. Cùn g một
nội dun g, trong quá trình phát triển, có thể thể hiện dưới nhiều hình thức và ngược lại, một
hình thức có thể phù hợp với nhiều nộ i dung.
2.3.5 Bản chất và hiện tượng:
Khi có được nhận thức đầy đủ về những mặt, những mối liên hệ tất yếu và những đặc
tính riêng của sự vật, thì nhận thức đó vẫn chưa vươn tới sự phản ánh đầy đủ về sự vật. Để
nhận thức đúng sự vật từ các hiện tượng phong p hú, nhiều vẻ, con người tiếp tục đi sâu n ghiên
cứu bản ch ất của sự vật. Bản chất là tổn g hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên
tương đối ổn định bên trong, quy định sự tồn tại vận động và phát triển của sự vật. Hiện tượng
là những biểu hiện bề n goài của sự vật.
Giữa bản chất và hiện tượng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Bản chất và h iện
tượng thống nhất với nhau. Sự thống nhất đó thể hiện ở chỗ: bản chất có thể thể hiện thong qua
hiện tượng, còn hiện tượng là sự thể hiện c ủa bản chất. T uy vậy, “nếu hình thái biểu hiện và
bản chất sự vật thể phù hợp trực tiếp với nhau, thì mọi khoa học sẽ trở nên thừa”. Hiện tượng
thể hiện bản chất trong hình thức đã cải biến, nhiều khi xuyên tạc nội dung thật sự của bản chất
bằng cách bổ sung vào bản chất một vài tính chất, yếu tố do hoàn cảnh cụ thể quy định, làm
hiện tượng phong phú hơn bản chất. Bản chất tương đối ổn định, ít biến đổi hơn, còn hiện
tượng thường xuyên biến đổi hơn.
2.3.6 Khả năng và hiện thực:
Khi đã nhận thức được bản chất và những mâu thuẫn vốn có của những sự vật, hiện
tượng, chúng ta có thể p hán đoán là sự vật, hiện tượng sẽ biến đổi theo hướng nào, nghĩa là
chúng ta có thể nhận thức được đồng thời cả hiện thực và khả năng biến đổi của sự vật, hiện
tượng. Khả năng là cái chưa xảy ra, nhưng sẽ xảy ra khi có các điều kiện thích hợp. Hiện thực
là cái đang có, cái tồn tại thực sự.
Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt ch ẽ với nhau trong quá trình vận
động, phát triển của sự vật. Trong hiện thực bao giờ cũng chứa đựng những khả năng nhất
định, ngược lại khả n ăng lại trong h iện thực và khi đủ điều kiện sẽ trở thành hiện thực mới.
Mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực diễn ra rất phức tạp. Trong từng giai đoạn phát triển
GVHD: TS. LÊ THI KIM CHI NHÓM 3
ĐẾ TÀI 1: VẬN DỤNG PBCDV VÀO THỰC TIỄN QUẢN LÝ TẠI VIỄN THÔNG ĐỒNG N AI Trang

Việt Nam, kinh doanh đa ngành nghề, đa lĩnh vực, đa sở hữu, trong đó Bưu chính - Viễn
thông - CNTT là nòng cốt.
Với hơn 90 nghìn cán bộ công nhân viên, hạ tầng công nghệ viễn thông tiên tiến,
mạng lưới dịch vụ phủ sóng toàn bộ 64 tỉnh thành trên cả nước, VNPT tự hào là nhà cung
cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông số 1 tại Việt Nam, phục vụ hơn 71 triệu thuê bao di
động, gần 12 triệu thuê bao điện thoại cố định và khoảng hàng chục triệu người sử dụng
Internet.
Ngày 24/6/2010, Công ty mẹ - Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam chuyển
đổi hoạt động sang mô hình Công ty trách nhiệm Hữu hạn một thành viên do Nhà nước
làm chủ sở hữu theo quyết định số 955/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Sứ mệnh: VNPT luôn nỗ lực trong việc ứng dụng có hiệu quả BC-VT-CNTT tiên
tiến để mang đến cho người tiêu dung, nhân dân Việt Nam những giá trị tươi đẹp cho
cuộc sống.
GVHD: TS. LÊ THI KIM CHI NHÓM 3
ĐẾ TÀI 1: VẬN DỤNG PBCDV VÀO THỰC TIỄN QUẢN LÝ TẠI VIỄN THÔNG ĐỒNG N AI Trang
16

Tầm nhìn: VNPT luôn là tập đoàn số 1 Việt Nam về phát triển Bưu chính – Viễn
thông và Công nghệ thông tin.
Viễn thông Đồng Nai (VNPT Đồng Nai) được thành lập trên cơ sở tách ra từ
Bưu điện tỉnh Đồng N ai cũ và chính thức đi vào hoạt động vào ngày 01/01/2008. Viễn
thông Đồng Nai là đơn vị trực thuộc, hạch toán phụ thuộc VNPT, có chức năng: tổ chức
xây dựng, quản lý, vận hành, lắp đặt, khai thác, bảo dưỡng sửa chữa mạng viễn thông;
cung cấp các dịch vụ viễn thông trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Thông tin giao dịch:
Tên đơn vị : VIỄN THÔNG ĐỒNG NAI
Tên viết tắt: VNPT Đồng Nai
Địa chỉ: 61 Nguyễn Văn Trị, P. Hoà Bình, TP.Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.
Điện thoại : 061 – 3842916. Fax : 061 – 3824840.
Website: www.vnptdongnai.vn

ĐẾ TÀI 1: VẬN DỤNG PBCDV VÀO THỰC TIỄN QUẢN LÝ TẠI VIỄN THÔNG ĐỒNG N AI Trang
17

- Dịch vụ truyền số liệu M etroNET: Với MetroNET, khách hàng có thể sử dụng
nhiều kiểu kết nối như: Điểm – Điểm (Point to Point), Điểm – Đa Điểm (P - mP)
và Đa Điểm – Đa Điểm (Multipoint – to - Multipoint), Cung cấp khả năng sử dụng
đồng thời ba loại dịch vụ: thoại (voice) – dữ liệu (data) – hình ảnh (video) như:
- Dịch vụ giải đáp thông tin 1080 : Tư vấn, giải đáp thông tin cho khách hàng
- Dịch vụ truyền hình theo yêu cầu M yTV: Là dịch vụ truyền hình đa phương tiện,
mang đến cho khách hàng hình thức giải trí khác biệt: TRUYỀN HÌNH THEO
YÊU CẦU.
- Dịch vụ VNPT SCHOOL: là một hệ thống các ứng dụng phần mềm phục vụ tác
nghiệp, điều hành và quản lý thông tin học sinh, giáo viên trong nhà trường; và là
kênh trao đổi thông tin giữa nhà trường và Gia đình thông qua môi trường mạng
Internet. Để cho dù là bất cứ nơi đâu và bất cứ thời điểm nào, Nhà trường cũng có
thể cập nhật thông tin, bảo đảm thông tin đó sẽ đến được với Học sinh và Phụ
huynh học sinh một cách thường xuyên và cụ thể.
- M ột số sản phẩm chính: điện thoại cố định, điện thoại di động, sim, thẻ điện thoại
di động,

3/ Cơ cấu tổ chức
Viễn thông Đồng Nai gồm có 8 phòng, ban và 8 trung tâm trực thuộc theo Sơ đồ tổ chức
đính kèm.

4/ Sơ lược chức năng – nhiệm vụ của các phòng chức năng và các đơn vị trực thuộc
a) Các phòng chức năng:
 Phòng Tổ chức Cán bộ – Lao động tiền lương:
 Có chức năng tham mưu, đầu mối giúp cho Ban Giám đốc trong việc điều hành, tổ
chức quản lý về công tác tổ chức cán bộ, lao động t iền lương : Sắp xếp bố trí lao động
hợp lý; Phân công bổ nhiệm, tuyển dụng định mức, định biên lao động đúng ngành nghề

Đoàn giao trên địa bàn tỉnh Đồng Nai;
 Phối hợp với các phòng ban chức năng trong việc xây dựng kế hoạch đầu tư Xây dựng
cơ bản. Lập các dự toán, thiết kế, kiểm tra, quản lý việc thực hiện các công trình.
 Phòng Kế toán – Thống kê – Tài chính:
 Có chức năng tham mưu, đầu mối giúp cho Ban Giám đốc trong công tác tổ chức,
quản lý, điều hành các hoạt động công tác chuyên môn nghiệp vụ kế toán – thống kê – tài
chánh trong mọi hoạt động Đầu tư – xây dựng phát triển mạng lưới, phát triển sản xuất –
kinh doanh của Viễn thông Đồng Nai; Đảm bảo công tác quản lý tài chính kế toán tại đơn
vị thực hiện một cách đầy đủ, kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để phục vụ đắc lực
cho công tác quản lý tại Đơn vị.
 Chịu trách nhiệm quản lý các loại vốn, đảm bảo an toàn và không ngừng phát triển
vốn kinh doanh. Xác định doanh thu, chi phí, phân phối thu nhập và nộp ngân sách, nộp
ngành, xác định lợi nhuận trích lập và quản lý các quỹ t ập trung của ngành.
 Cập nhật kịp thời chính xác tất cả các chứng từ nghiệp vụ kinh tế phát sinh, tổng hợp
và lập các báo biểu tái chính kế toán theo quy định của Nhà nước và của ngành.
 Chuyên viên trực tuyến Thanh tra – Thi đua truyền thống:
 Tham mưu cho Giám đốc đơn vị xây dựng kế hoạch, chương trình công tác thanh tra,
kiểm tra, giải quyết tố cáo, khiếu nại, tố cáo của công dân, cán bộ công nhân viên; Tuyên
truyền phổ biến pháp luật.
 Tổ chức xây dựng và quản lý theo dõi thực hiện Quy chế Bảo vệ Bí mật Nhà nước,
bí mật sản xuất kinh doanh của đơn vị và các đơn vị trực thuộc. Hướng dẫn các Đơn vị
trực thuộc xây dựng và thực hiện phương án bảo vệ an toàn mạng lưới và an ninh thông
tin trong hoạt động Viễn thông trên địa bàn Đồng Nai
 Phòng nghiên cứu và phát triển (R & D):
GVHD: TS. LÊ THI KIM CHI NHÓM 3
ĐẾ TÀI 1: VẬN DỤNG PBCDV VÀO THỰC TIỄN QUẢN LÝ TẠI VIỄN THÔNG ĐỒNG N AI Trang
19

 Tham mưu, giúp việc cho Giám đốc thực hiện chức năng t ổ chức, quản lý công tác
nghiên cứu khoa học và hợp tác phát triển các dịch vụ Viễn thông , nghiên cứu phát triển

đạt được doanh thu và lợi nhuận cao thứ 3 trong Tập đoàn (chỉ sau Viễn thông Hồ Chí
M inh và Viễn thông Hà Nội). Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì Viễn
thông Đồng Nai cũng không tránh khỏi những điều còn thiếu sót. Dưới đây, do giới hạn
về thời gian nghiên cứu và nội dung chỉ gói gọn trong bài báo cáo ngắn, chúng em xin
phép chủ yếu phân tích một số khía cạnh quản lý trong Viễn thông Đồng Nai, có phần
hơi thiên về khía cạnh chưa thành công đứng trên quan điểm của phép biện chứng duy
vật của Mác để chúng ta thấy rõ ý nghĩa và giá trị của phép biện chứng duy vật vận dụng
trong thực tiễn quản lý doanh nghiệp.
GVHD: TS. LÊ THI KIM CHI NHÓM 3
ĐẾ TÀI 1: VẬN DỤNG PBCDV VÀO THỰC TIỄN QUẢN LÝ TẠI VIỄN THÔNG ĐỒNG N AI Trang
201/ Thực trạng vận dụng phép biện chứng duy vật khi thực hiện chức năng họach
định
- Trong quá trình thực hiện chức năng hoạch định thì Viễn t hông Đồng Nai đã
chưa thấy rõ được vai trò của thực t iễn đối với nhận thức trong khi thực hiện chức năng
hoạch định như doanh nghiệp chưa tiến hành phân tích rõ những điểm mạnh, điểm yếu
của doanh nghiệp, chưa phân tích rõ những cơ hội và nguy cơ của môi trường vĩ mô, môi
trường vi mô tác động đến doanh nghiệp. Điều này cũng thể hiện rõ Viễn thông Đồng
Nai vẫn chưa vận dụng tốt nguyên tắc toàn diện trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt
động thực tiễn khi thực hiện chức năng hoạch định. Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi, muốn
nhận thức rõ được chức năng hoạch định thì Viễn thông Đồng Nai phải xem xét sự tồn tại
của doanh nghiệp trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, yếu tố, thuộc tính khác nhau
bên trong bản thân doanh nghiệp và trong mối quan hệ qua lại giữa doanh nghiệp mình
với các doanh nghiệp cạnh tranh khác, giữa doanh nghiệp mình với môi trường bên ngoài
doanh nghiệp như Nhà nước, khách hàng, nhà cung cấp, cộng đồng dân cư trên tỉnh Đồng
Nai,… Do chưa làm tốt việc phân tích thực tiễn này, nên Viễn thông Đồng Nai cũng chưa
xây dựng được tốt kế hoạch, chiến lược dài hạn cho mình.
Việc chưa xây dựng tốt kế hoạch, chiến lược dài hạn cho mình thể hiện các nhà

GVHD: TS. LÊ THI KIM CHI NHÓM 3
ĐẾ TÀI 1: VẬN DỤNG PBCDV VÀO THỰC TIỄN QUẢN LÝ TẠI VIỄN THÔNG ĐỒNG N AI Trang
21

trong nội bộ doanh nghiệp và đã có những biểu hiện không hăng say, nhiệt tình làm việc
ở một số cán bộ công nhân viên vì họ cho rằng có cố cỡ nào cũng không thể đạt được kế
hoạch được giao. Một số nơi thì bán phá thị trường để nhằm t ăng doanh thu cho đơn vị,
gây rối loạn thị trường, giảm hiệu quả cho đơn vị.
- Tiếp theo kế hoạch thì đứng giác độ phép biện chứng duy vật thì doanh nghiệp sẽ
phải xây dựng các biện pháp về kỹ thuật, biện pháp về kinh doanh, biện pháp về quản
lý,… để tổ chức thực hiện kế hoạch. Viễn thông Đồng Nai có đưa ra một số biện pháp để
thực hiện nhưng thực sự hoàn chỉnh. Cụ thể là các biện pháp mà Khối quản lý Viễn thông
Đồng Nai (cụ thể là do các phòng ban chức năng) và các trung tâm trực thuộc đưa ra chỉ
là một số nội dung phương hướng hoạt động. Những nội dung kế hoạch thực hiện này
chưa thể hiện mối quan hệ biện chứng với những kết quả mong muốn đạt được đó là
hoàn thành kế hoạch bao nhiêu phần trăm hoặc vượt bao nhiêu phần trăm lý do tại sao,…
Điều này cho thấy các nhà quản trị chưa tầm quan trọng của nguy ên tắc t oàn diện trong
hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của triết học M ác đối với thực tiễn quản lý
doanh nghiệp. Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta phải nắm được đâu là mối liên hệ chủ
yếu, bản chất quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng. Rõ ràng mối liên
hệ giữa các biện pháp thực hiện với chỉ tiêu kế hoạch phải là mối liên hệ chủ yếu ảnh
hưởng đến sự vận động, phát triển của doanh nghiệp. Nếu mối quan hệ này không được
thiết lập khoa học, lôgíc thì doanh nghiệp dễ rơi vào trạng thái hoạt động một cách mò
mẫm, ngẫu nhiên, dẫn đến lãng phí trong quản lý. M ặt khác, đây cũng một phần là biểu
hiện của tư tưởng duy tâm chủ quan, duy ý chí: đặt ra kế hoạch nhưng không hoàn chỉnh
biện pháp thực hiện thì có khác nào nó chỉ là ý muốn chủ quan, tách con người ra khỏi sự
vật, không thấy hết vai trò to lớn, tính năng động chủ quan của con người.
- Tại VTĐN, quy luật Lượng – Chất được vận dụng triệt để qua việc VTĐN đặc
biệt chú trọng và đặt nhiệm vụ nâng cao chất lượng dịch vụ lên hàng đầu. Có nhiều nội
quy, quy định về việc xử lý bảo dưỡng hạ tầng mạng Viễn thông như: thời gian xử lý

Internet cáp quang với giá rẻ, không quan t âm nhiều tới chất lượng đường truyền
vì cho rằng chất lượng đường truyền gần như tương đương giữa các đối thủ cạnh
tranh. Trong đó, các đại lý Internet là đặc biệt quan tâm tới chất lượng giá cả, thậm
chí sẵn sàng bỏ đối nhà cung cấp dịch để ký hợp đồng với nhà cung cấp dịch vụ
khác nếu thấy giá rẻ hơn.
 Đối với những doanh nghiệp vừa thì lại quan tâm tới chất lượng và không quan
tâm nhiều đến giá cả.
 Tại thành phố Biên Hòa thì tập trung nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhiều đại lý
Internet; tại huyện Nhơn Trạch, huyện Long Thành thì tập trung nhiều doanh
nghiệp vừa và nhỏ, ít đại lý Internet; tại một số huyện như Long Khánh, Định
Quán, Tân Phú thì có rất ít doanh nghiệp, ngược lại những nơi này lại có nhiều đại
lý Internet; t ại các huyện còn lại thì vừa có một ít doanh nghiệp vừa và nhỏ, vừa
có một số đại lý Internet.

Qua một số thông tin nói trên ta thấy:
 Thị trường đã có sự phân loại theo đối tượng khách hàng và theo khu vực khác
nhau.
 Các đối thủ cạnh tranh tuy chất lượng đường truyền không bằng Viễn thông Đồng
Nai nhưng đã biết linh hoạt ban hành chính sách giá với nhiều gói cước tùy khách
hàng lựa chọn.

Kết quả là tuy chất lượng đường truyền của các đối thủ cạnh tranh không bằng với
Viễn thông Đồng Nai nhưng họ đã chiếm được số lượng khách hàng đáng kể, trong khi
Viễn thông Đồng Nai rất chật vật trong việc kiếm được khách hàng mặc dù trong nội bộ
đã có nhiều chính sách thưởng cho tập thể, cá nhân khi kiếm được khách hàng mới. Điều
này cũng dễ hiểu, đứng giác độ kinh doanh t hì các đối thủ cạnh tranh đã đáp ứng được
phần lớn nhu cầu, thị hiếu thị trường dịch vụ viễn thông cho nên đã thu được khá lớn số
lượng khách hàng, còn Viễn thông Đồng Nai chỉ thu hút được phần lớn khách hàng có
quy mô vừa thôi. Đứng ở giác độ phép biện chứng duy vật của triết học M ác thì cho thấy
trong chính sách định giá nói trên thì Viễn thông Đồng Nai đã bị ảnh hưởng bởi tư tưởng

- Có một nguy ên t ắc trong quản trị khi tiến hành thực hiện chức năng tổ chức đó
là: mục tiêu nào thì cơ cấu nấy. Đứng ở giác độ phép biện chứng duy vật của triết học
M ác thì ta phải hiểu quan điểm biện chứng trong triết học Mác đó là mục tiêu của doanh
nghiệp có quan hệ biện chứng với việc xây dựng cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp. Và
nhiều nhà kinh tế trên thế giới cũng đồng ý rằng nếu ta xây dựng cơ cấu phù hợp với mục
tiêu thì doanh nghiệp mới có cơ hội thành công cao trong quản lý doanh nghiệp. Trái lại
thì sẽ gây lãng phí, thậm chí có thể thất bại. Thế nhưng từ khi chia tách giữa bưu chính và
viễn thông (năm 2008) đến nay, cơ cấu tổ chức của Viễn thông Đồng Nai vẫn không hề
thay đổi trong khi ai cũng thấy rất rõ ràng rằng 3 năm qua đã có rất nhiều thay đổi trong
ngành viễn thông, công nghệ mới ra đời (tạo ra dịch vụ mới cạnh tranh với dịch vụ cũ của
đơn vị), nhu cầu, thị hiếu của khách hàng đã thay đổi rất nhiều, dẫn đến mục tiêu kinh
doanh cũng đã thay đổi theo từng thời kỳ. Nhận thức được điều này, Viễn thông Hồ Chí
M inh đã thay đổi cơ cấu ngay từ năm 2009 do vậy Viễn thông Hồ Chí Minh đã có thể
hoạt động khá hiệu quả và cạnh tranh khá tốt với các đối thủ cạnh tranh như Viettel, FPT,
EVN,… tại thị trường thành phố Hồ Chí Minh. Điều đó cho thấy các nhà quản trị Viễn
thông Đồng Nai chưa nhận thức sâu sắc quan điểm biện chứng trong phép biện chứng
duy vật của triết học Mác. Họ đã bị rơi vào quan điểm siêu hình xem cơ cấu là bất biến,
là không thay đổi, họ cũng bị rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm, xem cái cũ là tốt nhất, là
hoàn hảo nhất cho nên không muốn thay đổi.
- Trong công t ác tổ chức, ban lãnh đạo đã thấy được sự thiếu nhân viên kinh doanh
nhưng lại thừa công nhân dây máy. Nhận biết được điều này là quan trọng, nhưng giải
quyết bài toán này như thế nào thì lại là một vấn đề không đơn giản. Trong thời gian qua,
do chưa hiểu rõ quan điểm biện chứng cũng như nguyên tắc toàn diện trong hoạt động
nhận thức và thực tiễn của triết học Mác đối với công tác tổ chức cho nên ban lãnh đạo
Viễn thông Đồng Nai đã thực hiện đơn giản là yêu cầu các trung tâm trực thuôc phải
bằng mọi cách cắt giảm 20% lực lượng công nhân dây máy chuyển thành nhân viên kinh
doanh. Điều này xét ở góc độ nhân sự thì cũng có cái hay, nhưng xét trên quan điểm biện
chứng, cũng như dựa trên nguyên tắc toàn diện trong triết học Mác thì chưa được hợp lý.
Dẫn đến hậu quả là một số nơi công nhân dây máy chưa quen với việc bán hàng cho nên
hiệu quả kinh doanh không cao mà đôi khi còn gây chán nản cho nhân viên, không hài

khiển
- Trong công tác tuyển dụng, các nhà quản trị Viễn thông Đồng Nai cũng chưa
phân tích hết các mặt thực tế trong doanh nghiệp như khi có nhu cầu về tuyển dụng lao
động cho vị trí hoặc công việc nào đó thì các nhà quản trị đã không thấy được rằng bên
cạnh việc đó, doanh nghiệp lại thừa người ở một số lĩnh vực khác cho nên dẫn đến việc
vừa thiếu người, vừa thừa người: thừa người ở bộ phận này, thiếu người ở bộ phận kia;
thừa người làm việc kém, thiếu người lao động chất lượng cao;… Qua đây cho thấy
nguyên tắc toàn diện trong triết học Mác rất quan trọng, nó giúp ta có cái nhìn mang tính
hệ thống trong toàn doanh nghiệp, không vì cứ thiếu là tuyển vào, gây lãng phí cho doanh
nghiệp.
- Trong công tác đào tạo, Viễn thông Đồng Nai đã xây dựng được quy trình đào
tạo khá tốt: xuất phát từ tình hình thực tế nhu cầu về công việc hoặc nhu cầu về bồi
dưỡng để tạo cán bộ nguồn theo quy hoạch thì từng phòng ban, trung tâm trực thuộc sẽ
lập đề xuất vào cuối năm trên cơ sở đó, Phòng Tổ chức cán bộ - Lao động tiền lương sẽ
tổng hợp thành kế hoạch đào tạo cho năm sau. Năm sau sẽ căn cứ vào kế hoạch đào tạo
đã xây dựng hoặc yêu cầu đào tạo đột xuất trong năm theo đề xuất của các phòng ban
hoặc các trung t âm trực thuộc, Phòng Tổ chức cán bộ - Lao động tiền lương sẽ tiến hành
tổ chức các buổi huấn luyện cho can bộ công nhân viên. Điều này cho thấy Viễn thông
Đồng Nai đã nhận thức rõ được nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật
của Mác. Theo quan điểm của nguyên lý về sự phát triển thì các nhà quản lý của Viễn
thông Đồng Nai đã xem sự vận động của doanh nghiệp là theo hướng đi lên, từ thấp tới
cao, từ đơn giản tới phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Cho nên các nhà
lãnh đạo đã tiến hành nghiên cứu từ yêu cầu thực tế để phát hiện ra những nhân tố tích
cực; những con người còn yếu cần bổ khuyết và tổ chức đào tạo, bồ dưỡng để đẩy nhanh
sự phát triển đi lên của doanh nghiệp. Phát triển nguồn nhân lực là vấn đề cốt lõi, là điều
kiện cơ bản để doanh nghiệp có thể phát huy được nội lực và phát triển bền vững. Tại
VTĐN hiện nay, số lượng nhân viên kỹ thuật chiếm 70%, đại đa số là công nhân lành
GVHD: TS. LÊ THI KIM CHI NHÓM 3
ĐẾ TÀI 1: VẬN DỤNG PBCDV VÀO THỰC TIỄN QUẢN LÝ TẠI VIỄN THÔNG ĐỒNG N AI Trang
25

Do Viễn thông Đồng Nai vẫn chưa xây dựng được bảng mô tả công việc cho từng
vị trí công việc, từng người cho nên việc kiểm tra hiệu quả thực hiện công việc của từng
người hiện nay rất khó, chủ yếu dựa vào bản đăng ký công việc của tháng trước của từng
chuyên viên hoặc từng phòng chức năng để đánh giá hiệu quả công việc của chuyên viên
đó hoặc của phòng đó. N goài ra Viễn thông Đồng Nai vẫn chưa tổ chức được việc kiểm
tra bao quát được hết tất cả các mặt trong quản lý như hiện nay hầu hết là tập trung kiểm
tra kế toán, kiểm tra công tác tổ chức và kiểm tra một số công tác khác theo yêu cầu của
Nhà nước như kiểm tra về công tác phòng chống cháy nổ, kiểm tra an toàn vệ sinh lao
động,… trong khi còn rất nhiều mặt khác, lĩnh vực khác vẫn chữa được kiểm tra như
kiểm tra hiệu quả của một dự án, chương trình nào đó. Điều này cho thấy doanh nghiệp
vẫn chưa nhận thức rõ được nguyên tắc toàn diện trong triết học Mác. Nguyên tắc này đòi
hỏi các nhà quản trị phải xem doanh nghiệp như là một hệ thống do đó khi tiến hành
kiểm tra thì phải đảm bảo kiểm tra được bao quát tất cả các mặt, tất cả các cán bộ công
nhân viên, của tất cả các phòng ban, bộ phận. Từ đó, các nhà quản trị phải rút ra được
mặt bản chất, mối liên hệ cơ bản trong quá trình thực hiện công việc của từng cán bộ
công nhân viên, từng bộ phận, phòng ban.

III/ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VẬN D ỤNG HIỆU QUẢ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY
VẬT TRONG QUẢN LÝ TẠI VIỄN THÔNG ĐỒNG NAI


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status