Phương hướng giải quyết trên cơ sở vận dụng phép biện chứng duy vật - Pdf 11

Lời nói đầu
Trong quá trình đổi mới hiện nay, Đảng ta đã xác định:
Chủ nghĩa Mác - Lênin - phép biện chứng duy vật là khoa học và là một
trong những đỉnh cao của trí tuệ loài ngời. Không một ai có thể phủ nhận rằng
khi lý luận khoa học đó đợc quán triệt và vận dung đúng đắn thì nhân dân lao
động thế giới đã làm nên những biến cố lịch sử vĩ đại chủ nghĩa xã hội từ chỗ
còn là bóng ma đã biến thành hiện thực và tồn tại với t thế một hệ thống hùng
hậu trong hơn nửa thế kỉ. Ngày nay, cho dù chủ nghĩa xã hội có bị tổn thơng,
sụp đổ một mảng lớn, song nó vẫn chứa đựng những khả năng hồi phục, phát
triển và chiến thắng chủ nghĩa t bản cùng tất cả các chế độ có áp bức, bất công
trong tơng lai.
Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nớc ta hiện nay, Đảng ta
một lần nữa khẳng định những giá trị khoa học bền vững của phép biện chứng
duy vật - chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời lấy nó làm kim chỉ nam cho mọi
hành động cách mạng.
Sự vận dụng sáng tạo phép biện chứng duy vật vào công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở nớc ta cũng là nội dung nghiên cứu của tiểu luận này. Để
hoàn thành bài viết này, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy
giáo. Do trình độ có hạn, em mong rằng tiếp tục đợc thầy giúp đỡ và uốn nắn và
em hy vọng bài viết sẽ tiến bộ hơn ở các đề tài sau.
Xin kính cảm ơn thầy !
1
A-/ Giới thiệu đề tài
Ngày nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang tác động lên tất cả các quốc
gia. Có thể nói tất cả mọi quốc gia hoặc là đang ở trạng thái này, trình độ này
hoặc là ở trạng thái khác, trình độ khác của công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đối
với những nớc phát triển, công nghiệp hoá tiếp tục đào tạo ra và nâng cao hơn
nữa năng suất lao động, đẩy nhanh quá trình tăng trởng kinh tế và phát triển xã
hội. Đối với những nớc chậm và đang phát triển, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là
con đờng tất yếu để đa đất nớc thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, từng bớc hội nhập
vào tiến trình phát triển chung của nhân loại. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang

* Chủ nghĩa duy vật:
Là chủ nghĩa thừa nhận vật chất là cái có trớc so với ý thức, nó quyết định
và sinh ra ý thức, còn ý thức là cái phản ánh vật chất. Chủ nghĩa duy vật căn cứ
vào hai yếu tố cơ bản:
- Bản thể của thế giới.
- Thành tựu của khoa học.
* Phép biện chứng: ta phải có khái niệm biện chứng là gì?
Là phạm trù triết học dùng để chỉ tính chất gắn liền với sự tồn tại, vận
động của thế giới.
Phép biện chứng: là học thuyết hay lí luận nghiên cứu về tính biện chứng về thế giới.
* Phép biện chứng duy vật: Mác - Ănghen:
Đứng trên lập trờng duy vật, căn cứ vào các thành tựu khoa học và kỹ thuật
nên nó là đỉnh cao trong sự phát triển của phép biện chứng.
* Lực l ợng sản xuất xã hội :
Lực lợng sản xuất phản ánh trình độ chinh phục tự nhiên của con ngời nó thể
hiện năng lực thực tiễn của con ngời trong quá trình tạo ra của cải vật chất. Lực lợng
sản xuất bao gồm những t liệu sản xuất và ngời lao động với những kinh nghiệm sản
xuất, kĩ năng, kĩ xảo và những thói quen lao động của họ. Các yếu tố hợp thành lực l-
ợng lao động có quan hệ mật thiết với nhau. Sự phát triển của lực lợng sản xuất phụ
thuộc vào sự phát triển của các yếu tố hợp thành nó.
* Quan hệ sản xuất xã hội:
Là quan hệ kinh tế giữa ngời với ngời trong quá trình sản xuất và tái sản xuất
xã hội. Nó bao gồm: quan hệ kinh tế - xã hội và quan hệ kinh tế - tổ chức.
* Nhân tố khách quan:
Là tổng hợp những điều kiện, những quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội và
tinh thần của đời sống xã hội. Tất cả những điều kiện và quan hệ ấy tồn tại
3
không phụ thuộc vào ý thức, ý chí của chủ thể và đợc bộc lộ ra trong hoạt động
của chủ thể.
* Nhân tố chủ quan:

chỉ ra - đều nhằm theo đuổi những nhu cầu và lợi ích nhất định. Trong đó những
nhu cầu của con ngời là không có giới hạn. Mặt khác, trong xã hội nớc ta hiện
nay, việc đáp ứng nhu cầu một cách đầy đủ cho mọi tầng lớp nhân dân ở mọi
vùng, mọi địa phơng là rất khác nhau nếu không muốn nói là rất chênh lệch,
nếu không muốn so sánh với các nớc trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy
chúng ta phải nhận rõ tầm quan trọng và bớc thiết yếu của công cuộc công
nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay đợc để đề ra những chính sách phải thật thận
trọng và đúng đắn.
Lợi ích chiếm vị trí quan trọng nhất trong hệ thống tổng lực thúc đẩy hoạt
động của con ngời. Trong xã hội ta hiện nay đang tồn tại nhiều giai cấp và tầng
lớp khác nhau với những lợi ích không hoàn toàn nh nhau. Sự hoà hợp thống
nhất ý chí, nỗ lực chung của cả quốc gia, dân tộc, các tầng lớp xã hội là một
trong những điều kiện quan trọng. Thiếu nó, tiến trình hiện đại hoá sẽ phải trả
giá đắt, thậm chí bị đến thất bại. Nếu trớc đây, hiện đại hoá ở các nớc Châu Âu
đã diễn ra trong sự phân chia xã hội thành những cực đối kháng nhau kịch liệt,
thì ngày nay, hiện đại hoá tăng tốc, đòi hỏi sự thống nhất của đa dạng và khác
biệt trên tất cả các phơng tiện của đời sống xã hội. ý chí phát triển kinh tế, công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc trở thành ý chí chung của toàn dân và là động
lực tinh thần, t tởng của toàn xã hội. Thực tế cho thấy ở các quốc gia có tốc độ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhanh đều giữ đợc sự hoà hợp, thống nhất đoàn
kết các lực lợng các thành phần sở hữu, các khu vực kinh tế, các đảng phái, các
vùng lãnh thổ trong một ý chí và mục tiêu chung, dân giầu, nớc mạnh, quốc gia
phát triển nhanh để kịp các nớc đã phát triển cao. Bằng cách đó, nớc ta có thể
phát huy tiềm lực, sự sáng tạo, tính năng động của tất cả các thành phần, các
khu vực kinh tế, các lực lợng lao động xã hội, tạo thành sức mạnh tổng hợp đẩy
nhanh quá trình phát triển kinh tế, hiện đại hoá đất nớc.
Việc thực hiện và giải quyết có hiệu quả những khác biệt vốn có trong hệ
thống động lực ấy là điều kiện tiên quyết để đa quá trình công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nớc tới thành công.
b-/ Phép biện chứng duy vật giúp cho giai cấp vô sản cách mạng giải quyết

mở đờng lối đi vào thị trờng khu vực và thị trờng thế giới,... để khai thác có hiệu
quả những lợi thế so sánh trong từng thời kỳ phát triển.
c-/ Phép biện chứng duy vật cho phép nhận định rõ ràng ranh giới giữa tính
nguyên tắc với chủ nghĩa giáo điều, bệnh dập khuôn máy móc, giữa tính linh
hoạt mang tính cách mạng với chủ nghĩa cơ hội, xét lại.
6
ở mọi nớc, công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc đều nhằm chuyển lao
động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với
công nghệ, phơng tiện và phơng pháp sản xuất tiên tiến, hiện đại, tạo ra năng
suất lao động xã hội cao. Để đạt đợc mục tiêu đó, bên cạnh những vấn đề có
tính quy luật chung, tuỳ thuộc những thời kì lịch sử khác nhau. Công nghiệp
hoá trong thời kì ra đời và phát triển của chủ nghĩa t bản đợc tiến hành bằng
những biện pháp phi nhân tính, thấm đầy máu và nớc mắt của quần chúng nhân
dân lao động. Hiện đại hoá trong chủ nghĩa t bản hiện đại đôi khi cũng đợc thực
hiện bằng việc đẩy những ngành sản xuất cần nhiều lao động nặng nhọc hay
gây ô nhiễm môi trờng nặng nề sang các nớc thế giới thứ ba, khai thác tối đa
nguồn nhân công rẻ mạt và nguồn tài nguyên phong phú của các nớc đó,... Phải
thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện cha có tiền lệ trong lịch
sử, phần lớn các nớc t bản chủ nghĩa phải trải qua quá trình tìm tòi, thử nghiệm
lâu dài và trên đờng đạt tới đích mới phải trả những giá không rẻ.
Chúng ta thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá để nâng cao mức sống
vật chất và tinh thần cho nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã
hội công bằng, văn minh. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đợc xem là một trong
những con đờng để giải phóng con ngời. Trớc hết là ngời lao động. Mục tiêu
nhân bản đó không thể đạt đợc bằng những phơng tiện phi nhân tính. Chúng ta
không phủ nhận rằng có những tính quy luật chung của quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Nhng ngay cả với những vấn đề đó, khi vận dụng, chúng ta
phải chú ý tới hoàn cảnh đặc thù của thời đại và của đất nớc cũng nh định hớng
chính trị xã hội chủ nghĩa của việc vận dụng những tính quy luật chung. Cái
chung chỉ tồn tại trong cái riêng và thông qua cái riêng. Khi đó, cái chung sẽ

và chủ quan; giữa khoa học và cách mạng. Mối quan hệ đó phải trở thành cơ sở
phơng pháp luận đầu tiên để xây dựng và tổ chức thực hiện chủ trơng công
nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Mối quan hệ biện chứng giữa nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan
luôn là cơ sở cho hoạt động của con ngời. Trong quá trình hoạt động muốn đạt
đợc hiệu quả cao nhất thì tất yếu phải tôn trọng nguyên tắc khách quan trong
việc xem xét và giải quyết vấn đề, đồng thời phát huy cao độ tính tích cực của
nhân tố chủ quan. Hơn nữa, đối với nớc ta, đây là vấn đề vừa có ý nghĩa lí luận,
vừa có ý nghĩa thực tiễn. Trớc thời kì đổi mới, do không nhận thức đợc đầy đủ
mối quan hệ biện chứng giữa nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan, chúng ta
đã mắc phải căn bệnh chủ quan duy ý chí, thiếu tôn trọng quy luật khách quan,
thậm chí có lúc còn hành động không theo quy luật khách quan. Điều đó đã gây
ảnh hởng lớn đến tình hình kinh tế, xã hội trong nớc và đã để lại những hậu quả
8
nghiêm trọng. Trong những năm tiến hành đổi mới đất nớc, căn bệnh đó đã đợc
khắc phục về căn bản. Chúng ta đã đạt đợc những thành tựu đáng kể trong nhiều
lĩnh vực của đời sống xã hội nhờ nhận rõ và vận dụng đúng đắn mối quan hệ
biện chứng giữa nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan và ngay cả trong bối
cảnh đó, những thắng lợi đã giành đợc chỉ trở nên bền vững trên cơ sở tiếp tục
nhận thức và vận dụng đúng quy luật khách quan của sự phát triển xã hội (đặc
biệt là các quy luật kinh tế) có thể ta mới nắm vững đợc quy luật để vận dụng
quy luật vào công cuộc xây dựng đất nớc hiện nay, đồng thời phát huy cao độ
của nhân tố chủ quan. Điều đó cho thấy chính thực tiễn của công cuộc đổi mới
đang đòi hỏi chúng ta phải nhận rõ mối quan hệ giữa nhân tố khách quan và
nhân tố chủ quan, giữa khoa học và cách mạng, làm rõ tính tích cực của nhân
tố chủ quan và tìm ra những biện pháp hữu hiệu để phát huy tính tích cực đó.
Chủ trơng đó biểu hiện ý chí của Đảng và nhân dân trong việc thay đổi tự
nhiên và xã hội. Việc tổ chức thực hiện nó biểu hiện ý chí khả năng của các cấp
lãnh đạo hiện thực hoá chủ trơng đó trong thực tiễn cuộc sống. Tất cả những cái
đó thuộc phạm trù nhân tố chủ quan của quá trình lãnh đạo cách mạng. Song sự

chủ thể - nhân dân lao động, quần chúng cách mạng là con đờng ngắn nhất để
đa đất nớc đi lên.
Trong số những cơ sở khách quan để đề ra quyết sách chính trị cũng nh
phơng thức tổ chức thực hiện, Lênin làm nổi bật vai trò hàng đầu của mối quan
hệ giai cấp. Ông cho rằng, chỉ có nghiên cứu một cách khách quan toàn bộ
những mối quan hệ qua lại giữa các giai cấp trong một xã hội nhất định, không
trừ một giai cấp nào và do đó, liên kết đợc trình độ phát triển chung của xã hội
ấy và mối liên hệ qua lại giữa xã hội ấy với các xã hội khác thì mới có cơ sở cho
một sách lợc đúng đắn của giai cấp tiên phong đợc. Bởi vì đứng trên quan điểm
duy vật biện chứng một cuộc cách mạng thực sự Macxit phải là cuộc đấu tranh
giữa các lực lợng xã hội sinh động, những lực lợng ấy đợc đặt trong những điều
kiện khách quan nhất định.
Chủ trơng công nghiệp, hiện đại hoá đất nớc ta đợc đặt trong hoàn cảnh gấp
rút trên phạm vi quốc gia, giai cấp cách mạng đứng ở thế áp đảo toàn diện - từ
kinh tế đến chính trị, t tởng - tinh thần; nhng trên quy mô quốc té lại cha hoàn
toàn nh vậy. Sức mạnh kinh tế, tiềm năng khoa học và công nghệ đang tập trung
trong tay giai cấp t sản động quyền. Hoàn cảnh khách quan đó đòi hỏi chúng ta
phải có chính sách mềm dẻo đủ mức cần thiết để chuyển những nhân tố ngoại
sinh đó thành yếu tố nội sinh cho việc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nớc. Khi chuyển sang chính sách tô nhợng và khôi phục thành
phần kinh tế t bản t nhân, Lênin đã nói rằng giờ đây giai cấp vô sản phải biết sử
dụng bàn tay của giai cấp t sản để bắt nó cày trên miếng đất mà trên đó chủ nghĩa
t bản không thể nảy sinh và tồn tại đợc. Trong hoàn cảnh cụ thể ở nớc ta hiện
10
nay, việc thực hiện có hiệu quả di huấn đó của Lênin đã trở thành một đòi hỏi
bức bách để đa quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá để thắng lợi hoàn toàn.
Muốn vậy, chủ thể của quá trình cách mạng Đảng và nhân dân lao động nớc ta -
phải có sự trởng thành vợt bậc về năng lực trí tuệ để luôn ở thế chủ động, làm chủ
đợc quá trình sử dụng sức mạnh của chủ nghĩa t bản, của thành phần t bản t nhân.
Vì lợi ích của công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hớng xã hội chủ nghĩa.

hình cụ thể của đất nớc trong không gian - thời gian nhất định, biết đề ra những
hình thức và bớc đi đúng đắn của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Trong đó, một mặt, bảo đảm sự chi phối của những vấn đề có tính quy luật
chung, mặt khác, thể hiện đợc tính đặc thù của đất nớc. Nh vậy, bản chất sáng
tạo rất xa lạ với chủ nghĩa giáo điều (bao gồm giáo điều lí luận lẫn giáo điều về
kinh nghiệm). Sự sáng tạo chân chính không loại trừ, mà còn đòi hỏi phải thận
trọng và sử dụng có hiệu quả những luận điểm lí luận chung, những kinh
nghiệm quý báu do lịch sử để lại nh là một trong những cơ sở quan trọng để xây
dựng và tổ chức thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Một quan niệm khá phổ biến trớc đây cho rằng để hiện đại hoá đất nớc thì
công nghiệp nặng phải u tiên phát triển và phải đi trớc một bớc. Nhng trong tình
hình cụ thể của nớc ta hiện nay với nền kinh tế non trẻ và đang phát triển thì
việc dồn hết lực vào công nghiệp nặng là phơng án không tối u. Bởi vì công
nghiệp nặng đòi hỏi nhiều vốn, đội ngũ công nhân lành nghề, cán bộ khoa học,
kĩ thuật bậc cao... mà những cái mà nớc ta hiện nay còn rất thiếu. Do vậy, nớc ta
nên bắt đầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá bằng các ngành công nghiệp nhẹ và
ngành sản xuất hàng xuất khẩu rồi sau đó mới phát triển công nghiệp nặng.
Định hớng đó phù hợp với tiềm lực và khả năng của nền kinh tế, với trình độ
khoa học kĩ thuật, trình độ quản lý và kinh doanh của nớc ta hiện nay. Nếu nh
ngày từ đầu tập trung vào công nghiệp nặng thì nền kinh tế sẽ không đủ sức
nuôi dỡng chúng và bản thân chúng cũng không thể phát triển đợc. Lựa chọn
định hớng phát triển u tiên công nghiệp nhẹ và sản xuất cho xuất khẩu, nớc ta
có thể từng bớc nâng cao trình độ công nghệ cả cứng lẫn mềm (Đặc biệt là
công nghệ mềm, thứ mà nớc ta đang rất thiếu và rất cần, trong những chừng
mực nhất định còn cần hơn cả vốn, vì thiếu nó nh thực tế đã chỉ ra, vốn nhiều
cũng sẽ bị tiêu phí không hiệu quả), có khả năng thu hút, tiếp nhận và lựa chọn
các công nghệ sản xuất phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của đất nớc, có thể
tận dụng đợc nguồn lực nguyên vật liệu,... để sản xuất hàng xuất khẩu, tạo
nguồn luỹ vốn.
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status