Thực trạng áp dụng phác đồ điện châm điều trị hỗ trợ cai nghiện ma túy và các yếu tố ảnh hưởng tại 6 tỉnh phía Bắc - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN TRỌNG QUỲNH

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁC ĐỒ ĐIỆN CHÂM ĐIỀU TRỊ
HỖ TRỢ CAI NGHIỆN MA TÚY VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH
HƯỞNG TẠI 6 TỈNH PHÍA BẮC

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

HÀ NỘI – NĂM 2014

BỘ Y TẾ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN TRỌNG QUỲNH

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI, TÍNH HIỆU QUẢ
CỦA PHÁC ĐỒ CHÂM CỨU ĐIỆN CHÂM TRONG HỖ TRỢ
ĐIỀU TRỊ CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI 6 TỈNH PHÍA BẮC


phương
Bảng 4: Tình hình triển khai công tác cai nghiện tại địa phương
Bảng 5: Tình hình triển khai phác đồ điện châm
Bảng 6. Đánh giá mức độ sẵn sàng của các trung tâm cai nghiện ma túy

38
39
40

( Nhận lực)
Biểu 7. Đánh giá mức độ sẵn sàng của các trung tâm cai nghiện ma túy

41

(Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và vệ sinh môi trường)
Bảng 8. Đánh giá mức độ sẵn sàng của các trung tâm cai nghiện ma túy 41
(Thực hiện việc chấp hành nội quy chung)
Bảng 9. Đánh giá mức độ sẵn sàng của các trung tâm cai nghiện ma túy

42

(Quy định về cấp cứu
Bảng 10. Thông tin chung về bệnh nhân nghiện.
Bảng 11. Hành vi sử dụng ma túy của BN
Bảng 12: Các biểu hiện của bệnh nhân liên quan đến sử dụng ma túy
Bảng 13: Ý thức của bệnh nhân trong việc đi cai
Bảng 14: Kiến thức về PP cai nghiện của bệnh nhân (nhiều lựa chọn)
Bảng 15: Nhu cầu cầu BN đang điều trị cai nghiện
Bảng 16: Kết quả của bệnh nhân sau cai bằng PP điện châm


UBND
YDCT
YHHĐ
WHO

Bộ Y tế
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
Bộ Công An
Bệnh nhân
Cán bộ y tế
Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền
Chuyên khoa I
Chuyên khoa II
Ministry of Health (Bộ Y tế)
Phương pháp
Quyết định
Khám chữa bệnh
Kỹ thuật viên
Sử dụng ma túy
Sở Y tế
Thạc sỹ
Tiến sy
Cơ quan phòng chống Ma túy và tội phạm liên hợp quốc
Ủy Ban nhân dân
Y dược cổ truyền
Y Học hiện đại
Tổ chức y tế thế giới

5


tổng hợp, khi được đưa vào cở thể (bằng cách: tiêm, chích, hút, hít, nhai,nuốt...) nó
sẽ làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý người đó. Nếu lạm dụng ma tuý, con
người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương thực thể và tinh thần, gây nguy hại
cho người sử dụng, cho gia đình và cộng đồng.
- Theo định nghĩa của tổ chức Y tế Thế giới đã được Tổ chức Văn hoá giáo
dục của liên hiệp quốc công nhận thì “Ma tuý là chất khi đưa vào cơ thể sẽ làm thay
đổi chức năng của cơ thể”
- Tổ chức Y tế Thế giới (1982) đã phát triển định nghĩa sau: “Ma tuý theo
nghĩa rộng nhất là mọi thực thể hoá học hoặc là những thực thể hỗn hợp, khác với
tất cả những cái được đòi hỏi để duy trì một sức khoẻ bình thường, việc sử dụng
những cái đó sẽ làm biến đổi chức năng sinh học và có thể cả cấu trúc của vật”.
Trong cách hiểu đơn giản, điều đó có nghĩa là mọi vật chất khi đưa vào trong cơ thể
người sẽ thay đổi chức năng sinh lý học hoặc tâm lý học
- Luật phòng, chống ma tuý của Việt Nam [2] tại điều 2 đã đưa ra một số
định nghĩa về ma tuý hoặc có liên quan đến khái niện ma tuý như sau:
1. Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong
các danh mục do Chính phủ ban hành.
2. Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng
nghiện đối với người sử dụng.
3. Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu
sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
4. Tiền chất là các hoá chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế,
sản xuất chất ma tuý, được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành.

8


5. Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được quy
định trong các danh mục do Bộ Y tế ban hành, có chứa các chất quy định tại khoản
2 và khoản 3 Điều này.

5) Mê-tha-qua-lôn (Methaqualone) và những loại gây nghiện (narcotics) mua
không có toa bác sĩ.
6) Các loại amphetamine bất hợp pháp như: methamphetamine, crystal
methamphetamine....
1.1.2.2. Phân loại theo tác dụng
Phân loại theo tác dụng, ma túy được chia thành ba nhóm chính: kích thích,
ức chế thần kinh và gây ảo giác:
1.1.2.2.1. Chất kích thích: Thuốc kích thích là thuốc có tác dụng làm tăng nhanh
hoạt động của hệ thống thần kinh và nhiều bộ phận trong cơ thệ. Các loại thuốc
kích thích bao gồm:
1) Ni-cô-tin (nicotine) trong thuốc lá
2) Cà-phê-in (caffeine) trong trà, cà phê, các loại nước tăng lực (energy
drinks), sô-cô-la (chocolate), nước cô-ca cô-la (coke)
3) Am-phê-ta-min và những loại thuốc cùng họ hoặc có công thức hoá học
rất gần như Dexamphetamine, Metamphetamine, Methylenedioxymethamphetamine
(MDMA), Methylpheniate...
4) Cô-ken – Cocaine
1.1.2.2.2. Chất ức chế: Ức chế là ngăn cản hoặc làm suy giảm hoạt động. Thuốc ức
chế thần kinh có tác dụng làm suy giảm, làm chậm lại hoạt động của hệ thống thần
kinh. Dưới đây là một số loại thuốc ức chế thần kinh có tác dụng gây nghiện:
1) Thuốc có tác dụng an thần, gây ngủ
a) Rượu(ethanol): Bia, rượu chát, rượu mạnh...
b) Benzô-đai-zê-pin (Benzodiazepines) là những thứ thuốc an thần loại nhẹ
hoặc thuốc ngủ. Những loại Ben-zô thông dụng như Librium, Antenax, Valium,
Propam, Mogadon, Dormicum, Nitepam, Alepam, Murelax, Serapax, Benzotran,
Rivotril, Euhypnos, Normison, Temaze, Rohypnol...
2) Thuốc giảm đau thuộc nhóm á phiện: Thuốc phiện (opium), morphine,
pethidine, codein, bạch phiến (heroin), methadone, buprenorphine...
3) Cần sa ở liều lượng nhẹ
4) Những ma túy dạng bốc hơi hoặc dạng hít: Xăng, thuốc chùi sơn, keo,

o

Từ lá, hoa, quả cây cần sa (còn gọi là bồ đà, cây gai dầu) được trồng ở
một số tỉnh giáp ranh biên giới Việt Nam – Campuchia và ở Tây
Nguyên

o

Từ lá cây cô ca, chế ra chất cathinon, có nhiều ở Nam Mỹ.

1.1.2.3.2. Ma túy bán tổng hợp: Ví dụ như hêroin
1.1.2.3.3. Ma túy tổng hợp:
Ví dụ như estasy ,đá (hay là crystal meth)), Morphine.
- Nguồn gốc:
o

Các loại ma túy tổng hợp từ hóa chất độc hại thuốc nhóm
amphetamin, ketamin, methaphetamin…
11


Các chất ma túy tổng hợp thường độc hại hơn thuốc phiện 500 lần.
1.2. Định nghĩa nghiện ma túy, cách chẩn đoán và phân loại
1.2.1. Định nghĩa nghiện ma túy:
- Sổ tay chẩn đoán của hiệp hội Tâm thần mỹ (APA) định nghĩa nghiện như
sau: Các triệu chứng bao gồm hiện tượng dung nạp (Cần phải tăng liều lượng sử
dụng để đạt được khoái cảm), sử dụng ma tuý để giảm triệu chứng cai, không thể
giảm liều sử dụng thuốc hay ngưng sử dụng và tiếp tục sử dụng dù biết nó có hại
cho bản thân hay những người khác.
- Theo tổ chức y tế thê giới (WHO) thì nghiện ma tuý là tình trạng lệ thuộc

+ Thèm chất ma tuý
+ Dị cảm
+ Đau mỏi khớp
+ Mạch nhanh
+ Mất ngủ
+ Tăng thân nhiệt
+ Chảy nước mắt, nước mũi
+ Dãn đồng tử
Bệnh nhân có 4/12 triệu chứng được đánh giá là hội chứng cai dương tính.
1.2.2.2. Phân loại mức độ nghiện: có 3 mức nặng, trung bình, nhẹ dựa vào bảng
điểm Himmelbach, bằng cách lượng hoá điểm các triệu chứng cai của Hội chứng
cai như sau:
STT
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.


1 điểm
2 điểm
2 điểm
3 điểm
3 điểm
3 điểm
3 điểm
30 điểm

- Trên 10 điểm : Thuộc loại trung bình
- Trên 20 điểm : Thuộc loại nặng
Thể trạng người nghiện: cơ thể gầy ốm
Toàn thân: Có các dấu sẹo chính dọc theo tĩnh mạch chi trên dưới, cổ có khi
ở cả tĩnh mạch dương vật.
1.3. Tình hình nghiện ma túy trên thế giới và trong nước

13


1.3.1. Ngoài nước: Theo số liệu thống kê năm 2007, tổng số người nghiện ma tuý
trên Thế giới hiện khoảng trên 200 triệu người tương đương với 5 % dân số trong
độ tuổi từ 15 đến 64.
Về số người sử dụng ma tuý, báo cáo của UNDOC cho hay toàn cầu có từ
172 đến 250 triệu người từng sử dụng ma tuý trái phép ít nhất một lần trong năm.
Trong đó, khoảng 143 đến 190 triệu người sử dụng cần sa; khoảng từ 15 đến 21
triệu người sử dụng ma tuý có nguồn gốc từ thuốc phiện; 16 đến 21 triệu người sử
dụng cocaine; 16 đến 51 triệu người sử dụng dược chất ma tuý thuộc nhóm
amphetamin; 12 đến 24 triệu người sử dụng ma tuý tổng hợp estasy. Những con số
trên đây là tính cả những người từng một lần thử qua ma tuý (có thể chưa nghiện).
Còn về số người nghiện ma tuý kinh niên, UNODC ước tính vào khoảng 18 đến 38

Trào lưu “đập đá” - tiếng lóng chỉ việc sử dụng loại ma túy tổng hợp cực
mạnh - đang là cơn lốc ngầm khủng khiếp tàn phá một bộ phận giới trẻ các đô thị ,
nó luôn gắn liền với các cuộc ăn chơi thâu đêm suốt sáng, kể cả sinh viên, trong đó
độ tuổi của những người sử dụng có xu hướng trẻ hóa, cá biệt có cả học sinh cấp cơ
sở.

Toàn quốc

Tổng hợp số liệu của các địa phương về số người nghiện có hồ sơ quản lý
2002

2003

2004

2005

2006

115918

1271699

130249

128,602

138518

2007

cộng đồng, sói mòn đạo đức, giảm sút về kinh tế. Hàng năm các quốc gia phải chi
hàng trăm tỷ đồng phòng chống tệ nạn ma tuý., lây nhiễm bệnh do ma tuý, chữa
bệnh do ma tuý ...
15


(4) Đối với sức khoẻ người nghiện:
+ Nghiện ma tuý kéo dài dẫn tới sự thay đổi về tâm thần như: thờ ơ, cáu gắt,
kích thích, khó làm chủ, đồng thời gây ra những rối loạn về thể chất như: suy kiệt,
mệt mỏi, suy nhược thần kinh ...
+ Dễ mắc bệnh HIV và các bệnh truyền nhiễm khác.
Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra các PP cai nghiện ma túy là rất cần thiết
nhằm giảm hậu quả cho người nghiện, gia đình người nghiện và toàn xã hội.
1.4. Các PP, mô hình cai nghiện trên thế giới và tại Việt Nam:
1.4.1. Các PP cai nghiện trên thế giới và tại Việt Nam
1.4.1.1. Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam có các loại thuốc và PP hỗ
trợ điều trị hội chứng cai ma túy phổ biến sau:
(1) PP cai khô: Cai khô còn gọi là cai chay được áp dụng tại Mỹ năm 1938,
bằng cách cô lập bệnh nhân, không cho tiếp xúc với môi trường bên ngoài, ngừng
hoàn toàn việc sử dụng các chất ma túy mặc cho người nghiện lên cơn vật vã, kêu
la. Cơn nghiện sẽ giảm dần sau 7-10 ngày nhưng người nghiện mệt mỏi, mất ngủ,
đau nhức cơ xương kéo dài hàng tháng. PP này hiện nay được một số nước châu Á
như Indonesia, Malaysia, Brunei sử dụng thành công.
(2) PP giảm dần: Còn gọi là PP cai dần hay giảm liều, bằng cách giảm liều
lượng ma túy mỗi ngày một ít trong thời gian từ 13-30 ngày, đồng thời tăng cường
thuốc bổ và thuốc an thần. PP này có ưu điểm là người nghiện thích nghi dần, cơn
nghiện giảm từ từ, không vật vã như PP cai khô, nhược điểm là đòi hỏi phải dùng
chất ma túy, thời gian cắt cơn kéo dài.
(3) PP phẫu thuật thùy trán: Phẫu thuật nhằm phá hủy một số điểm ở thùy
trán của não quan hệ đến sự thèm muốn ma túy làm cho người nghiện không còn

thận, có thể gây sốc thuốc khi bệnh nhân vẫn sử dụng chất ma túy.
(7) PP điều trị bằng chất thay thế: Trên thế giới, các chất để điều trị thay thế
các chất dạng thuốc phiện như methadone, buprenophine, LAAM... Trong đó
methadone là loại thuốc chính được sử dụng trong PP điều trị cai nghiện thay thế
các chất dạng thuốc phiện. Liệu pháp methadone từ năm 1985 đã được chính phủ
Mỹ công nhận là liệu pháp có hiệu lực, chương trình methadone được xem là một
quốc sách và được triển khai trong cả nước [6].
Nhằm đánh giá tầm quan trọng và hiệu quả của việc điều trị thay thế bằng
methadone, đầu năm 2005, WHO đã bổ sung methadone vào danh mục các loại
thuốc thiết yếu của WHO.

17


(8) Liệu pháp tâm lý: Có thể dùng liệu pháp tâm lý đơn thuần hay liệu pháp
tâm lý kết hợp với thuốc hướng thần. Ở Nga đó là liệu pháp tâm lý theo học thuyết
Paplov đang được áp dụng rất thành công tại Viện hành vi Nga. Tại Mỹ đó là PP
cộng đồng trị liệu (TC). PP này có ưu điểm là chỉ bằng lời nói, không tốn kém
nhưng đòi hỏi phải có bác sĩ chuyên khoa tâm thần hoặc các chuyên gia tâm lý được
đào tạo nắm vững kỹ năng điều trị tâm lý (thuyết phục, ám thị...) vì vậy khó thực
hiện ở các tuyến cơ sở.
Tóm lại các thuốc và PP y học cũng chỉ dừng ở mức độ điều trị cắt cơn
nghiện, mà việc cắt cơn chỉ là một giai đoạn đầu của quá trình cai nghiện, hiện nay
trên thế giới cũng như ở Việt Nam chưa có một loại thuốc hay một PP tối ưu nào có
thể đáp ứng được mong mỏi của xã hội về cai nghiện và chống tái nghiện ma túy.
Nghị lực của người nghiện và sự chia sẻ, tình thương, sự hỗ trợ của gia đình và
cộng đồng vẫn là một yếu tố quyết định để cai nghiện thành công. Tuy nhiên tỷ lệ
tái nghiện hiên này đang còn cao (trên 90%).
1.4.1.2. Tại Việt Nam:
Từ năm 1995, Bộ Y tế đã thông qua và cho phép sử dụng một số PP điều trị

được Bộ Y tế cho phép sủ dụng để điều trị duy trì chống tái nghiện các chất dạng
thuôc phiện đó là: thuốc danapha-natrex 50 và thuốc albernil.
(5) PP điện châm điều trị hỗ trợ cai nghiện ma tuý. PP điện châm, dùng điện
châm, ngày châm nhiều hay ít lần tùy thuộc vào trạng thái đói thuốc của bệnh nhân.
PP này không chỉ cắt cơn nghiện cho bệnh nhân mà hiệu quả điều trị còn kéo dài.
Điện châm có ưu điểm căt cơn nhanh, ít tốn kém, dễ thực hiện tại tuyến cơ sở và
cộng đồng [1].
Về mặt thực tiễn, tuy chưa được Bộ Y tế ban hành áp dụng toàn quốc trong
các cơ sở khám, chữa bệnh và tại công đồng, tuy nhiên các phương pháp Tâm lý,
Thụy miên, cai Giảm liều, cai Khô... vẫn được áp dụng không chính thống tại một
số cơ sở KCB.
Theo đánh giá của tổ chức WHO, ở Việt Nam có đặc thù riêng trong công tác
cai nghiện ma túy, đó là sử dụng đông y trong việc hỗ trợ cắt cơn, đây là phương
pháp được tổ chức WHO đánh giá rất cao do tính hiệu quả, an toàn và giá thành phù
hợp với các nước đang phát triển, kinh phí chi cho y tế nói chung và công tác cai
nghiện nói riêng còn thấp. Phương pháp Đông y (Y học cổ truyền) tham gia vào
công tác cai nghiện gồm có thuốc YDCT như: Bông sen, cedimex, kamat... và
phương pháp không dùng thuốc, đó là phương pháp điện châm của GS Nguyễn Tài
Thu, đây là công trình nghiên cứu khoa học nghiên cứu khoa học cấp nhà nước
được nghiệm thu và đưa vào ứng dụng rộng rãi, dựa trên hiệu quả của phương pháp,
năm 2003 bộ y tế đã ban hành dưới dạng Quyết định số 5467/2003/QĐ-BYT của
19


Bộ trưởng Bộ y tế về việc “Hướng dẫn áp dụng phương pháp điện châm điều
trị hỗ trợ cai nghiện ma túy” đây là thành tựu to lớn của lĩnh vực châm cứu Việt
Nam nói chung và của tác giả nói riêng. Đây là một trong phương pháp cai nghiên
nhóm Opiat hiệu quả, đối với phương pháp này có 5 thể (Thể can đởm, thể tỳ vị,
Tâm – Tâm bào – Tiểu trường – Tam tiêu, thể thận bàng quang, thể phế đại trường,
trong đó hay gặp ở bệnh nhân là thể Can – Đởm, thể Tỳ - Vị). Ở hai thể hay gặp đã

nghiện tại nhà, tại cơ sở của xã, phường, các trung tâm quận, huyện, trung tâm của
các tổ chức xã hội và công trường 06 phù hợp với đặc điểm và điều kiện cụ thể của
từng địa phương, hoàn cảnh của từng đối tượng.
1.4.2.4. Mô hình cai cắt cơn giải độc thuần túy
Với mô hình này, đối tượng tập trung tại một địa điểm của xã, phường và
tiến hành cắt cơn, giải độc 10 đến 15 ngày, kết hợp giáo dục, tuyên truyền rồi các
đối tượng trở về gia đình. Do hiệu quả mô hình này rất thấp (hầu hết tái nghiện lại
90-100% sau thời gian ngắn trở về gia đình) nên các địa phương dần dần bỏ cách
làm này.
1.4.2.5. Mô hình cai cắt cơn giải độc gắn với quản lý, giáo dục, hỗ trợ vốn, dạy
nghề, tạo việc làm, giám sát lâu dài dựa vào cộng đồng
Đây là mô hình được tiến hành dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, chỉ đạo, quản lý
của chính quyền, sự tham gia của cơ quan chuyên môn và các đoàn thể xã hội.
Thực tế đã chứng minh đây là mô hình phù hợp với nhiều địa phương và đạt
kết quả, hiệu quả đáng khích lệ. Một số tỉnh làm tốt như Cao Bằng, Hà Giang,
Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Hà Tây, Ninh Bình, Nghệ An, Lạng
Sơn... và cũng thành công ở một số địa bàn đô thị như Hà Nội, Bà Rịa -Vũng Tàu,
Đà Nẵng.
1.4.2.6. Mô hình cai nghiện tại Trung tâm 06
Hình thức này được áp dụng với biện pháp cai nghiện kết hợp trị liệu phục
hồi thông qua lao động, sản xuất ở công trường tập trung do các địa phương quản
lý. Thời gian lao động từ 6 tháng đến 1 năm (sau khi cắt cơn giải độc, phục hồi sức
khoẻ từ 15 đến 30 ngày). Kết thúc thời gian lao động tập trung, người nghiện trở về
địa phương dưới sự giám sát, quản lý lâu dài dựa vào cộng đồng. Tuy nhiên, hiện
nay mô hình này chưa được áp dụng rộng rãi ở các địa phương, đặc biệt là các tỉnh,
thành phố gặp nhiều khó khăn về điều kiện tổ chức công trường lao động.
1.4.3. Quy trình điều trị nghiện ma túy
Dù là hình thức cai nghiện nào cũng đều phải tuân thủ theo quy trình điều trị
nghiện ma túy đã được quy định tại Thông tư Liên tịch 31/1999/TTLT/BLĐTBXHBYT ngày 20/12/1999 của Liên tịch Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Bộ Y


trợ cắt cơn và PP điều trị mới trong hoạt động cai nghiện, phục hồi…
Đặc biệt, giao cho bộ y tế khẩn trưởng tìm ra các biện pháp, PP tôi ưu để điều trị
cho bệnh nhận nghiện ma túy, đặc biệt là ma túy tổng hợp [7].

22


1.5. Một số thuật ngữ thường dùng khác
- Phòng, chống ma tuý là phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma
tuý và kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý.
- Tệ nạn ma tuý là tình trạng nghiện ma tuý, tội phạm về ma tuý và các hành
vi trái phép khác về ma tuý.
- Các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý bao gồm các hoạt động
nghiên cứu, giám định, sản xuất, vận chuyển, bảo quản, tàng trữ, mua bán, phân
phối, sử dụng, xử lý, trao đổi, nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh các chất quy định tại
các khoản 1, 4 và 5 Điều này, được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho
phép theo quy định của pháp luật.
- Kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý là việc cho phép,
theo dõi, kiểm tra, giám sát các hoạt động quy định tại khoản 9 Điều này và phòng
ngừa, ngăn chặn việc lợi dụng các hoạt động đó vào mục đích khác.

23


24


Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status