CHUYÊN ĐỀ 2
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE
CỦA NGƯỜI DÂN ĐÔ THỊ
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐẶT VẤN ĐỀ
Quá trình đô thị hóa đã và đang xảy ra với tốc độ đáng kể ở hầu hết các quốc
gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Vào thời điểm hiện tại thì có
số lượng người dân đang sống tại các khu vực đô thị đã vượt quá số lượng những
người dân sống ở các khu vực nông thôn [1]. Theo dự đoán của Tổ chức Y tế Thể
giới (WHO), xét trên phạm vi toàn cầu, gần như tất cả sự tăng trưởng dân số trong
30 năm tới sẽ nằm trong khu vực đô thị, sự tăng trưởng mạnh mẽ nhất sẽ xảy ra ở
các quốc gia châu Á và và Châu Phi [1]. Việt Nam cũng đã và đang có trải qua quá
trình đô thị hóa với tốc độ đáng kể. Số lượng các khu vực đô thị ở Việt Nam đã
tăng từ 500 khu vực năm 1990 lên thành 753 khu vực trong năm 2009. Tỷ lệ dân số
đô thị đã tăng từ 23,7% vào năm 1999 lên 29,6% vào năm 2009 (25,4 triệu dân cư
ở đô thị trong số 85,8 triệu người trong dân số cả nước) [2].
Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu so sánh tình hình sức khỏe của người
dân sống ở khu vực đô thị và của người dân sống ở khu vực nông thôn. Bên cạnh
đó, cũng có một số báo cáo, nghiên cứu nói đến thực trạng di cư và tình trạng sức
khỏe của nhóm người di cư này. Tuy nhiên, ở Việt Nam còn thiếu những nghiên
cứu sâu về tình trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở người dân thuộc một số
khu vực đô thị.
Bài tổng quan được thực hiện với các mục tiêu sau:
2.
(CSSK) cho cộng đồng, cho con người mà kết quả là tạo ra các sản phẩm hàng hóa
không tồn tại dưới dạng hình thái vật chất cụ thể, nhằm thỏa mãn kịp thời thuận
tiện và có hiệu quả hơn các nhu cầu ngày càng tăng của cộng đồng và con người về
CSSK [4], [5], [6].
DVYT là một trong bốn dịch vụ xã hội cơ bản - hệ thống cung cấp dịch vụ
nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người và được xã hội thừa nhận.
DVYT là một dịch vụ khá đặc biệt, bao gồm các hoạt động được thực hiện bởi
nhân viên y tế (NVYT) như: khám, chữa bệnh phục vụ bệnh nhân và gia đình,
trong đó người bệnh trực tiếp cũng chính là người tham gia sản xuất cũng như tiêu
thụ. DVYT là một loại hàng hóa mà người sử dụng (người bệnh) thường không thể
tự mình lựa chọn loại dịch vụ theo ý muốn mà phụ thuộc rất nhiều vào bên cung
ứng (cơ sở y tế) - trực tiếp ở đây là trạm y tế (TYT) xã[6].
1.3. Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe là nhu cầu của người dân nhằm bảo vệ và
nâng cao sức khỏe của họ. Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe có thể cho mục
đích phòng bệnh hoặc điều trị bệnh. Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe có thể chỉ
là việc tự điều trị, mua thuốc tại các hiệu thuốc, khám, điều trị hoặc sử dụng các
dịch vụ y tế khác tại các cơ sở y tế công hoặc tư tại các tuyến cơ sở y tế [7].
Sử dụng DVYT có thể được phân chia theo loại dịch vụ, vị trí, mục đích sử
dụng và thời gian sử dụng.
-
Cơ sở DVYT được sử dụng: TYT, bệnh viện, hiệu thuốc, thầy thuốc tư
-
nhân...
Cấu trúc xã hội
Nguồn lực
Cộng đồng
Tình trạng sức khỏe do
người cung cấp DVYT
đánh giá
Sử dụng
DVYT
Lòng tin vào y tế
Hình 1 - Mô hình sử dụng DVYT ở Mỹ năm 1968.
Ngoài ra, Andersen and Newman cũng đưa ra khung sử dụng DVYT trong
mối liên quan với môi trường, đặc điểm dân số, hành vi sức khỏe và kết quả sử
dụng DVYT [10]:
Hình2- Khung sử dụng DVYT
Năm 1981, Fiedler đã sửa lại mô hình sử dụng DVYT của Anderson và Rosentock.
Tuy vậy, cho đến nay thì mô hình này vẫn thường được sử dụng để thiết kế nghiên
cứu về sử dụng DVYT[11], [12].
1.4.
Các loại hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe
2. Đô thị và đô thị hóa
2.1. Khái niệm về đô thị
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội
thị, khu vực xây dựng tập trung) phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao
o
o
động
Đạt được các yêu cầu về hệ thống công trình hạ tầng đô thị (gồm hạ tầng xã
hội và hạ tầng kỹ thuật)
Đạt được các yêu cầu về kiến trúc, cảnh quan đô thị
Hiện nay, tại Việt Nam có 6 loại hình đô thị chính: loại đặc biệt, loại I, II, III,
IV và V, bao gồm:
o Đô thị loại đặc biệt (2 thành phố): Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh
o Đô thị loại I (11 thành phố): Hải Phòng; Đà Nẵng; Cần Thơ; Huế; Vinh; Đà
o
Lạt; Nha Trang; Quy Nhơn; Buôn Mê Thuột; Thái Nguyên; Nam Định
Đô thị loại II (12 thành phố): Hạ Long; Biên Hòa; Vũng Tàu; Việt Trì; Hải
Dương; Thanh Hóa; Mỹ Tho; Long Xuyên; Pleiku; Phan Thiết; Cà Mau; Vị
o
Thanh
Đô thị loại III (47 thành phố, thị xã): Các TP còn lại, các thị xã: Sơn Tây
o
o
hóa vẫn còn nằm trong khuôn khổ của quá trình đô thị hóa theo bề rộng.
2.2.2.
Thực trạng đô thị hóa trên thế giới và Việt Nam
Cuối thế kỷ 18, sau cuộc cách mạng công nghiệp, dân số đô thị tăng lên
nhanh chóng, đô thị hóa diễn ra trong suốt thế kỷ 19, thông qua di cư từ nông thôn
và mở rộng về nhân khẩu học . Ở Anh , dân số đô thị tăng từ 17% năm 1801 lên
72% vào năm 1891 (đối với Pháp, Đức, Mỹ, con số này lần lượt là 37%, 41% và
28%)[16]. Đô thị hóa nhanh chóng lan rộng khắp thế giới, đặc biệt ở phương Tây,
từ những năm 1950, nó đã bắt đầu diễn ra tại các nước đang phát triển. Vào đầu thế
kỷ 20, chỉ 15% dân số thế giới sống ở các thành phố [17], năm 2007 chứng kiến
bước ngoặt lớn lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại khi tỷ lệ dân số thế giới sống tại
các thành phố là hơn 50% [16]. Ngày càng có nhiều người rởi bỏ làng quê và các
nông trại tới sống ở thành phố, kết quả là quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ. Sự
phát triển nhanh chóng của các thành phố như Chicago trong những năm cuối thế
kỷ 19, Tokyo và Delhi trong thế kỷ 20 phần lớn do di cư từ nông thôn ra thành
thị.Theo báo cáo Triển vọng đô thị hóa thế giới của Liên Hợp Quốc bản sửa đổi
năm 2005, tỷ lệ dân số đô thị trên thế giới đã tăng đáng kể từ 13% (220 triệu USD)
trong năm 1900, tới 29% (732 triệu USD) trong năm 1950, lên 49% (3,2 tỷ USD)
trong năm 2005. Các báo cáo dự đoán rằng con số này có thể sẽ tăng lên 60% (4,9
tỷ USD) vào năm 2030[18]. Trong báo cáo Dân số thế giới năm 2007 của Liên
Hợp Quốc, xu hướng trong tương lai, ước tính 93% đô thị hóa sẽ xảy ra tại các
quốc gia đang phát triển, với 80% xảy ra ở châu Á và châu Phi [19, 20].
Tốc độ đô thị hóa khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới. Theo Giáo sư
Lu Dadao,Chủ tịch của Hiệp hội địa lý của Trung Quốc (GSC), Trung Quốc mất 22
năm để tăng tỉ lệ đô thị hóa từ 17,9% lên 39,1% trong khi Anh mất 120 năm, Mỹ
cần 80 năm, và Nhật Bản tốn hơn 30 năm để thực hiện điều này[21].
điện, nước sạch, giao thông, bệnh viện và trường học không đáp ứng được nhu cầu
của cư dân[23]
Số liệu củaTổng điều tra dân số cho thấy, các tỉnh phía Bắc Việt Nam có tỷ
lệ dân số đô thị thấp hơn nhiều so với các tỉnh phía Nam. Ở vùng Đông Nam Bộ, tỷ
lệ dân số đô thị chiếm gần 60%, cao hơn nhiều so với các vùng khác. Ngoài ra,
dân số đô thị ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chiếm khoảng một phần ba tổng
dân số đô thị toàn quốc. Với tốc độ phát triển kinh tế-xã hội nhanh chóng ở vùng
Đông Nam Bộ hiện nay, đồng thời nếu tính đến tác động của biến đổi khí hậu trong
tương lai tới khu vực ven biển, các vùng trũng thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu
Long, rất có thể sẽ dẫn tới việc tập trung một số lượng lớn dân cư ở khu vực Đông
Nam Bộ và điều đó có thể tạo nên những thách thức cho sự phát triển của khu vực
này trong tương lai[23].
3.
Đo lường sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân
Việc đo lường tình trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe từ khía cạnh của
người dân, hay của bệnh nhân chủ yếu dựa vào sự tự khai báo của bản thân họ
[24], bằng cách hỏi tần suất sử dụng dịch vụ y tế của họ trong một khoảng thời
gian nhất định. Tuy nhiên, việc này có thể dẫn đến các sai sót [25] do nhiều yếu tố
bên trong và bên ngoài, do đó các biện pháp sau được đề xuất để tăng độ tin cậy
của số liệu được thu thập bao gồm: độ tuổi và khả năng nhận thức, thời gian sử
dụng, tần suất và loại dịch vụ được hỏi, thiết kế bộ câu hỏi, cách thức thu thập số
liệu và các biện pháp thăm dò và hỗ trợ trí nhớ.
Vấn đề
Tình trạng nhận
thức và độ tuổi
Thời gian nhớ lại,
tần suất và loại dịch
vụ y tế được sử
hưởng rất nhiều (HIV, Lao, STDs)
Trong khi hỏi, có thể gợi ý cho đối tượng những dịp đặc
biệt gắn liền với sử dụng dịch vụ y tế để đối tượng dễ nhớ
hơn
Khảo sát nhiều lần có thể làm giảm sự thiếu chính xác
trong việc khai báo
Phương pháp đo lường 2 lần có thể được áp dụng: yêu cầu
nhà điều tra cần thu thập trong thời gian dài (có thể 6
tháng), nhưng thời gian để hỏi đối tượng sẽ ngắn hơn (vd:
chỉ cần hỏi trong 2 tháng trở lại đây, không cần hỏi trong 12
tháng trở lại đây)
Ngoài ra, sử dụng dịch vụ y tế có thể được đánh giá bằng các chỉ số như số
bệnh nhân nội trú hàng năm hoặc số lần khám ngoại trú, mức sử dụng giường bệnh
nội trú, phạm vi tiêm chủng, phạm vi sử dụng các biện pháp tránh thai, số khám
trước sinh trung bình cho một sản phụ, tỉ lệ sinh ở các cơ sở có sự giám sát của các
nhân viên y tế chuyên khoa ... Một phương pháp đơn giản thường được dùng cho
đánh giá tổng quát là số lần đến các cơ sở y tế trung bình hàng năm trên đầu người.
Hiển nhiên là con số này phụ thuộc vào sự phân bố về tuổi và giới cũng như gánh
nặng bệnh tật nói chung. Số lần tới cơ sở y tế là từ 3-4 lần được coi là đủ cho công
tác CSSK cơ bản [26].
4.
Tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người dân đô thị và các
nghiên cứu liên quan trên thế giới
4.1. Bất bình đẳng/bất công bằng trong sử dụng dịch vụ y tế
4.1.1. Bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị
hơn [30].
Nghiên cứu của Chuma và cộng sự (2007) tại Kenya về gánh nặng chi phí cho
chăm sóc sức khỏe của người dân ở vùng nông thôn và thành thị. Kết quả nghiên
cứu cho thấy, chi phí trung bình cho chăm sóc y tế trong 1 tháng của người dân đô
thị cao hơn rất nhiều so với người dân nông thôn. Đối với các bệnh cấp tính, người
dân ở đô thị chi trả trung bình cao gấp gần 4 lần so với nông thôn (12,8 USD so
với 3,8 USD); trong khi đối với các bệnh mạn tính là 3 lần (7,0 USD so với 2,2
USD) và đối với chi phí nhập viện, người dân thành thị chi trả trung bình một
tháng cao gấp 4,5 lần so với người dân vùng nông thôn (8,2 USD so với 1,8 USD).
Điều này các tác giả giải thích do việc người dân vùng đô thị sử dụng các dịch vụ y
tế tốt hơn với giá tiền đắt hơn so với nông thôn [31].
4.1.2.
Bất bình đẳng giữa các nhóm trong thành thị.
Theo kết quả nghiên cứu của nhóm các tác giả David Vlahov, Jo Ivey
Boufford và cộng sự (2007) thì số lượng cư dân nghèo ở các khu v ực đô th ị
(thường sống ở các khu “nghèo”, khu dân cư bất hợp pháp, hay d ựng lều ở v ỉa
hẻ) đang ngày càng gia tăng nhanh chóng và khoảng cách về điều kiện sống
và xã hội giữa người giàu và người nghèo đang ngày càng rộng ra trong khi
những người nghèo không được tiếp cận nhiều dịch vụ thiết yếu cho một lối
sống khỏe mạnh do bị cản trở cả về tài chính và th ể chất[32, 33]. Chính vì
thế, gánh nặng dịch bệnh đang ngày càng tập trung ở những khu người nghèo
ở đô thị. Sức khỏe kém hiển nhiên sẽ lại càng làm trầm trọng thêm đói nghèo
và bất bình đẳng
Mao Y và cộng sự trong một nghiên cứu vào năm 2013 trên người dân thành thị
ở Trung Quốc đã kết luận: chênh lệch thu nhập và các loại bảo hiểm y tế có ảnh
hưởng tới sự công bằng cảu việc sử dụng các dịch vụ y tế[34].
Luo và cộng sự (2009) qua điều tra trên 4441 người trên 60 tuổi ở 3 đô thị
phía Tây Bắc Trung Quốc nhận thấy một sự bất bình đẳng đáng kể về quyền sử
dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. 7,6% đối tượng nghiên cứu đã tới
gặp bác sĩ trong 4 tuần; 10,1% sử dụng dịch vụ chăm sóc bệnh nhân nội trú và
7,6% không sử dụng dịch vụ này dù được bác sĩ cho nhập viện trong vòng 1 năm
trở lại. Những người có thu nhập bình quân đầu người theo hộ gia đình thấp, trình
độ học vấn thấp và không có bảo hiểm y tế có tỉ lệ sử dụng dịch vụ y tế nội trú thấp
hơn rõ rệt. Phụ nữ có xu hướng sử dụng dịch vụ ngoại trú nhiều hơn và ít tiêu tốn
thời gian tiền bạc trong bệnh viện hơn nam giới[38].
Cũng ở Trung Quốc, hơn 16 000 hộ gia đình và 54 000 cá nhân trong các
khu vực đô thị đã được lựa chọn ngẫu nhiên để thu thập thông tin về nhu cầu nhận
thức và nhu cầu chăm sóc sức khỏe và chi phí cho các dịch vụ trong nghiên cứu
của Gao và cộng sự (2001). Trong số những người có bệnh mà không được nhận
bất cứ hình thức chữa trị nào, gần 70% (so với 38% vào năm 1993) khẳng định khó
khăn về tài chính là nguyên nhân chính trong năm 1998. Việc sử dụng các dịch vụ
giảm đáng kể từ 4,5% năm 1993 xuống còn 3,0% trong năm 1998. Tỷ lệ bệnh nhân
được yêu cầu nhập viện nhưng không nhập viện có một mối quan hệ tiêu cực với
mức thu nhập. Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra một trong những mối quan tâm cấp
bách nhất là khả năng được sử dụng dịch vụ y tế ngày càng khó khăn của những
người thất nghiệp. Như vậy, rõ ràng có sự bất công trong việc được hưởng dịch vụ
chăm sóc sức khỏe giữa các nhóm dân có thu nhập khác nhau[39].
Tiến hành đánh giá sự bất bình đẳng xã hội trong việc sử dụng các dịch vụ
chăm sóc sức khỏe sau 8 năm cải cách, Habicht và cộng sự (2009) thực hiện những
so sánh giữa 3 nước Baltic. Trong cả ba nước, có sự bất bình đẳng xã hội lớn đối
với bệnh nhân ngoại trú chăm sóc chuyên khoa, và không có hoặc ít bất công hơn
trong hoạt động chăm sóc chính hay nhập viện. Có sự không công bằng lớn nhưng
phù hợp trong mối quan hệ với mức thu nhập hộ gia đình và trong quan hệ giữa sử
dụng dịch vụ y tế với mức độ giáo dục sự bất công này nhỏ hơn[40].
Nghiên cứu của Liu, Zhang và cộng sự (2007) tại Trung Quốc cho thấy, gần
một nửa người dân đô thị (47,0%) tự điều trị khi bị ốm đau, 32,9% đến gặp bác sĩ
tư nhân khi ốm, 10,1% vừa tự điều trị, vừa đến khám bác sĩ tư nhân và 10,0%
người dân không điều trị gì khi ốm đau. Kết quả cũng cho thấy, tỷ lệ người dân đô
thị nhập viện trong 1 năm là 11,1% [43].
Nghiên cứu về tình hình sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người sống ở
khu ổ chuột thành thị ở Dhaka (Bangladesh) của Khan và cộng sự (2012) cho thấy
hai loại hình sử dụng dịch vụ y tế được các đối tượng sử dụng phổ biến là các hiệu
thuốc (42,6%) để tự điều trị cũng như phòng khám/ bệnh viện của nhà nước
(13,5%) [44].
Nghiên cứu tại Hàn Quốc trên đối tượng vô gia cư tại các khu đô thị do
Changgyo Young và cộng sự (2011) thực hiện cho thấy, trong 6 tháng qua, phần
lớn những người vô gia cư sống ở đường phố không sử dụng dịch vụ y tế nào
(43,9%) hoặc đến các phòng khám cho người vô gia cư (34,1%), trong khi những
người vô gia cư không sống ở đường phố thường chọn các phòng khám cho người
vô gia cư (34,7%) và các bệnh viện công (31,3%) [45].
Nghiên cứu của Nimbalkar và cộng sự trên các bà mẹ tại các khu ổ chuột ở đô
thị tại Gujarat, Ấn Độ về sử dụng dịch vụ y tế cho chăm sóc trước, trong và sau
sinh. Kết quả cho thấy, có 79,9% bà mẹ nhận dịch vụ chăm sóc trước sinh, trong đó
chủ yếu là tại bệnh viện tư (78,8%); 17,5% bà mẹ sinh con tại nhà. Đối với các bà
mẹ sinh con tại bệnh viện, chủ yếu (77,2%) sinh con tại bệnh viện tư [46].
Zaidi và cộng sự (2006) nghiên cứu về việc sử dụng dịch vụ y tế của người
dân ở 4 khu ổ chuột vùng Karachi, Pakistan trong việc điều trị tiêu chảy và cảm
cúm. Nghiên cứu cho thấy, phần lớn các trường hợp đều đi khám bác sĩ tư (>50%).
Có 31% người dân tự điều trị tại nhà trong khi chỉ có 11% và 13% điều trị tại các
bệnh viện và trạm y tế xã phường [47].
Nghiên cứu của Ahmed và cộng sự (2001) trên 413 người nghèo ở Mỹ xác
định những rào cản trực tiếp tới việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại
tỷ lệ người dân đô thị sử dụng dịch vụ y tế qua các năm luôn cao hơn so với người
dân ở khu vực nông thôn, cụ thể được thể hiện ở hình 1 [50]:
Hình 1: Tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế của người dân, giai đoạn 2002-2010
Theo cuộc điều tra đánh giá hộ nghèo ở đô thị do Tổng cục Thống kê thực
hiện tại 2 thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh năm 2009 cho thấy, 99,2% người dân
ở 2 thành phố này có sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh trong 12 tháng qua, bao
gồm 62,7% đi khám bác sĩ và 36,5% tự điều trị bằng cách tự mua thuốc. Chỉ có
0,8% người dân không đi khám hay tự điều trị do bệnh nhẹ hoặc không có tiền
[51].
Báo cáo này cũng chỉ ra tại Hà Nội, có 61,6% người dân đến khám bác sĩ khi
có bệnh tật hay thương tích, trong đó 16,7% đến thường xuyên và 41,9% thi thoảng
mới đến. Mặt khác, có tới 37,5% người dân tự điều trị tại nhà khi có bệnh tật hay
thương tích.
Xu hướng tương tự cũng được nhìn nhận ở thành phố Hồ Chí Minh, khi có
63,4% người dân đến khám bác sĩ khi có bệnh tật hoặc thương tích. Tỷ lệ người
đến khám bác sĩ thường xuyên ở thành phố Hồ Chí Minh (24,1%) cao hơn Hà Nội
và tỷ lệ người dân tự điều trị thấp hơn (36,0%).
Theo nghiên cứu này, tỷ lệ nữ giới ở hai thành phố có hành vi tìm kiếm sử
dụng dịch vụ y tế cao hơn nam giới (66,7% so với 59,1%). Tỷ lệ trẻ em từ 0-4 tuổi
và người già trên 60 tuổi sử dụng dịch vụ cũng cao hơn so với các nhóm tuổi khác;
thấp nhất là nhóm tuổi 15 đến 19 tuổi. Người dân thường trú ở hai thành phố có tỷ
lệ đi khám sức khỏe gấp đôi những người di cư từ các vùng khác (23,4% so với
11,4%).
Có 58% những người thuộc hộ nghèo đi khám chữa bệnh khi bị ốm đau, trong
đó có 16,2% thường xuyên đi khám, thấp hơn so với những người thuộc hộ giàu
(24,9%). Đáng chú ý là, những người thuộc hộ nghèo có tỷ lệ tự mua thuốc để điều
trị cao hơn so với những hộ giàu (41,5% so với 30,1%) [51].
Cũng theo nghiên cứu này, nhìn chung người dân ở hai thành phố này thường
người bị bệnh khớp có số lần điều trị ngoại trú cao nhất (trung bình 10,2 lần) và số
lần tự điều trị cao nhất (trung bình 12,6 lần) [54].
Nghiên cứu của Kaljee và cộng sự về việc sử dụng dịch vụ y tế của bà mẹ tại
Việt Nam trong việc điều trị bệnh viêm phổi và các triệu chứng liên quan cho trẻ
em dưới 6 tuổi cho thấy, các bà mẹ ở thành thị trong tất cả các trường hợp bệnh và
triệu chứng (như viêm phổi, sốt > 38 độ, ho nhiều, khó thở,...) đều chủ yếu cho tự
điều trị ở nhà (>40%) hoặc đến phòng khám tư nhân (>30%). Rất ít người đến trạm
y tế xã/phường để khám (
22.
23.
24.
25.
Chan, M., Remarks at press briefing, World Health Day 2010: Urban health matters. 2010. p. 1019.
Office, G.S., Migration and urbanization in Vietnam: Patterns, Trends and Differentials. 2011,
Vietnam General Statistics Office: Hanoi.
Organization, W.H., Preamble to the Constitution of the World Health Organization as adopted
by the International Health Conference, New York, 19-22 June, 1946; signed on 22 July 1946 by
the representatives of 61 States (Official Records of the World Health Organization, no. 2, p. 100)
and entered into force on 7 April 1948. 1948.
Nam, Q.H.V. Luật quy hoạch đô thị của Quốc Hội khóa XII, kỳ họp thứ 5, 30/2009/QH12. 2009
[cited 2013 13-2]; Available from: http://www.vietlaw.gov.vn/LAWNET/docView.do?
docid=23498.
giới, B.Y.t.-T.c.y.t.t., ed. Quản lý y tế. 2001, Nhà xuất bản y học Nội: Hà Nội.
Lý, T.T.K., Nghiên cứu tình hình sử dụng các dịch vụ khám chữa bệnh của người dân tại xã
Iakhươi, xã IaPhi, xã Hịa Phú, huyện Chưpah tỉnh Gia Lai, in Luận văn chuyên khoa cấp I. 2008,
Đại học Y dược Huế: Huế.
MF, D., et al., Methods for the Economic Evaluation of Health Care Programmes. 2005, Oxford:
Oxford University Press.
Andrew, C., Health sector reform key issues in less developed countries of international
development. 1995. p. 247.
Dicker, A.D., Patiennt-views of priority setting in health care interview survey in one practice.
BMJ, 1995. 28: p. 1139.
JF, A.R.a.N., Societal and Individual determinants of medical care utilization in the United States.
Milbank Memorial Fund Quarterly-Health and Society, 1973.
R.M, A., Behavior model of families use of health services the University of Chicago cetre of
health Adminitration stadies, in Research 25. 1968, Chicago.
P.E, B., Polite, practical logic and primary health care in rural Haiti. Med-An thropological, 1997.