Tài liệu Điều kiện kinh tế xã hội tác động đến tình hình chăm sóc sức khỏe của người dân thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng - Pdf 10

Điều kiện kinh tế xã hội tác động đến tình hình chăm sóc sức khỏe của người dân
thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội Việt Nam thời hiện đại đang từng bước chuyển mình bước sang công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, đang từng bước đưa những vùng nông thôn phát triển
theo tiêu chí chung của quốc gia.
Khi xã hội biến đổi, đòi hỏi nhu cầu về đời sống của con người cũng thay đổi, kể
cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần, ngay cả nhu cầu về khám chữa bệnh,
chăm sóc sức khỏe cũng thay đổi theo thời gian. Thị trấn Nam Ban, huyện Lâm
Hà, Tỉnh Lâm Đồng là một vùng kinh tế còn phát triển khá chậm, trình độ dân trí
chưa cao, đời sống tình thần còn nhiều mặt hạn chế, trong đó vấn đề chăm sóc sức
khỏe cộng đồng cũng chưa chú trọng, quan tâm nhiều. Được thành lập từ những
năm 1981, Nam Ban là một vùng đất còn khá mới mẻ, chính quyền địa phương
còn thiếu thốn nhiều chính sách trong việc chăm lo đời sống người dân, bên cạnh
đó hệ thống các trang thiết bị y tế chưa được quan tâm đúng mức, chưa có sự đồng
bộ trong cách thức tổ chức và quản lý xã hội đã hình thành nên những bất cập.
Một trong những vấn đề đó có liên quan đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe và khám
chữa bệnh của người dân, đây cũng chính là lý do mà đề tài này được khảo sát. Có
khá nhiều nghiên cứu về điều kiện kinh tế xã hội, cũng có nhiều nghiên cứu về
phát triển nông thôn bền vững nhưng vẫn còn một vài khe hở nhỏ mà các nghiên
cứu trên ít đề cập đến đó là vấn đề trong lĩnh vực y tế, khám chữa bệnh cho người
dân. Do đó, đề tài “Điều kiện kinh tế xã hội tác động đến tình hình chăm sóc sức
khỏe của người dân thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng” được khảo
sát nhằm góp phần đưa ra một vài giải pháp giải quyết một vài vấn nạn trong công
tác phòng và khám chữa bệnh của người dân cũng như công tác tổ chức và quản lý
trong y tế của thị trấn Nam Ban nói riêng và toàn xã hội Việt Nam nói chung.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1. Giao thông nông thôn là một trong các yếu tố có ảnh hưởng lớn đến đời
sống người dân vùng, đề tài nghiên cứu về “quản lý hệ thống đường giao
thông nông thôn huyện Gia Lâm thành phố Hà nội” chỉ ra tầm quan trọng

Trong bài viết này thì nhóm tác giả đã sử dụng số liệu của chương trình
“Những vấn đề cơ bản của sự phát triển bền vững Tây Nam Bộ” (do viện phát
triển bền vững vùng Nam Bộ thực hiện) nhằm đề cập đến một số tiêu chí về
điều kiện sống, về ý kiến về đời sống gia đình và xã hội qua đó rút ra một số
nhận xét : Về điều kiện vật chất của cư dân Tây Nam Bộ còn hạn chế, ảnh
hưởng đến sức khỏe và cơ sở vật chất cho một nền tảng văn hóa nhất định, so
với đô thị thì điều kiện vật chất của người dân nông thôn kém hơn đáng kể, đặc
biệt là nhà vệ sinh và xử lý rác thải.
Người dân Tây Nam Bộ cò điều kiện khá tốt trong việc tiếp cận với các
phương tiện truyền thông hiện đại, tivi thay thế dần cho radio, người dân ở đây
cũng có mối quan hệ xã hội khá tốt với mọi người trong họ hàng và địa
phương. Đại đa số người dân đồng ý rằng điều kiện vật chất và tinh thần ngày
càng được cải thiện, điều kiện học tập cũng được nâng lên. Tuy nhiên đa số
cho rằng đạo đức xã hội và tê nạn xã hội đang có nhiều vấn đề đáng lo ngại,
điều này cho thấy có sự suy yếu trong văn hóa xã hội, những hành vi lệch
chuẩn tăng lên ở Tây Nam Bộ.
2.3. Bài báo: Để phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên bền vững được
đăng trên báo Công An Nhân Dân ngày 14/04/2011
Bài báo đã cho thấy sau hơn 36 năm đất nước hoàn toàn giải phóng và 25 năm
đổi mới, đời sống, kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên đã có bước đổi thay, phát
triển đáng kể. Đó là nhờ sự đầu tư của Nhà nước, sự cố gắng vươn lên trong
3
đời sống lao động, sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội của bà con đồng bào các
dân tộc anh em ở Tây Nguyên. Nhưng nhìn chung, đời sống đồng bào dân tộc
thiểu số ở Tây Nguyên vẫn còn nhiều khó khăn và chưa có những bước phát
triển ổn định, vững chắc… Vậy làm như thế nào để vực dậy được vùng kinh tế
nông thôn miền núi, giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ,
nhằm duy trì ổn định bền vững an ninh chính trị, trật tự xã hội ở địa bàn Tây
Nguyên. Bài báo tuy ngắn nhưng đã nêu lên được thực trạng và những giải
pháp cho sự phát triển bền vững về lâu dài cho cuộc sống của người dân ở Tây

lực và điều kiện thuận lợi cho quá trình công nghiệp hóa , đô thị hóa . Ngược
lại, nông thôn sẽ trở thành gánh nặng của quá trình cất cánh, tăng trưởng kinh
tế, thậm chí các mâu thuẫn do khoảng cách khác biệt về thu nhập, mức sống có
thể trở thành khủng hoảng chính trị, thảm họa môi trường , phá vỡ sự bền vững
của quá trình phát triển.
Tác phẩm là sự đúc kết và thu thập những số liệu từ tình hình nông nghiệp ở
các nước trên thế giới như: Nhật Bản, Đài Loan, Hà Lan, Pháp, Anh… Tác
phẩm cũng nhấn mạnh đến vai trò của Nhà nước trong việc đưa ra các chính
sách phù hợp làm sao để làm cho nông nghiệp phát triển nhờ thế mạnh vốn có
của nó. Chương “ Chia nhỏ đất cho nông dân để đảm bảo công bằng hay tập
trung hóa đất đai để tăng hiệu quả? ” thì tác giả cũng đưa ra một số cách làm
tiêu biểu của một số nước có nền nông nghiệp phát triển như nông nghiệp Anh
đã tập hợp được những mảnh ruộng nhỏ thành những mảnh lớn để hình thành
những trang trại sản xuất lớn cho một số ít chủ trại có khả năng sản xuất và
cho hiệu quả cao hơn, ở Pháp thì duy trì hai hình thức nông hộ nhỏ và trang
trại lớn , duy trì lối sống truyền thống và quan hệ làng xã, nhưng phần lớn sản
lượng nông nghiệp là do trang trại sản xuất lớn đóng góp. Nhờ đó tốc độ đẩy
lao động ra đô thị chậm lại, xã hội công bằng hơn và thu nhập của nông dân
cũng tăng lên đáng kể nhờ hoạt động đó, đời sống người dân được nâng cao
theo hướng hiện đại.
5
2.5.Bài viết của tác giả Hữu Quan, “Nâng cao thu nhập cho nông dân ở xã
nông thôn mới”, báo Kinhtenongthon số ra ngày14/04/2011.
Cho rằng: mục đích cuối cùng của việc xây dựng xã nông thôn mới suy cho
cùng chỉ làm sao tạo cho nông dân có thu nhập cao, làm cho nông thôn phát
triển, đời sống vật chất tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện.
Sau hơn 2 năm thí điểm xây dựng nông thôn mới ở 11 xã trong cả nước, việc
phát triển sản xuất đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao thu
nhập cải thiện đời sống nhân dân nhiều địa phương đã có cách làm hay để phát
triển sản xuất, tăng thu nhập cho nông dân từ 20 đến 30% so với trước. Tuy

pháp tiếp cận hệ thống đa ngành đa lĩnh vực trong phát triển, nhằm nâng cao năng
lực cá nhân về nghiên cứu và đào tạo PTNT ở các trường đại học và viện nghiên
cứu ở Việt Nam.
Đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra những kinh nghiệm nghiên cứu đa ngành và liên
kết giữa khoa học tự nhiên và xã hội trong quá trình tìm hiểu hệ thống nông thôn
bền vững. Đồng thời, phát huy kinh nghiệm tiếp cận chính diện trong nghiên cứu
như phân tích sinh kế và tư duy hệ thống và phát huy tính liên tục trong nghiên
cứu đối với chính sách và thực thi chính sách về PTNT và tình hình sinh kế ở nông
thôn.
2.8.Nghiên cứu phát triển nông thôn bền vững tại xã Phong Mỹ miền Trung
Việt Nam của trường Đại học khoa học và đời sống Praha – Czech
Nghiên cứu này được thực hiện ở xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền – tỉnh Thừa
Thiên Huế, đề tài này nghiên cứu về lĩnh vực nông nghiệp phát triển nông thôn,
bảo tồn đa dạng sinh học. Đặc biệt đi sâu vào nghiên cứu tìm hiểu phương thức
sinh kế của người dân, phân tích các nguồn vốn về con người, và nguồn vốn tự
nhiên, các khả năng sử dụng nguồn đất sẵn có và những nguồn tài nguyên khác
như: tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tác động đến hoạt động sinh kế của người
dân. Ngoài ra, đề tài cũng vẽ nên một bức tranh về cuộc sống của người dân qua
7
các chỉ báo về thu nhập, cơ cấu chi tiêu, tình hình giáo dục y tế, tình hình kinh tế -
xã hội tại địa phương.
2.9. Trần Thị Nam Trân, “Sự chuyển đổi cơ cấu nghề ngiệp trong quá trình
công nghiệp hóa,hiện đại hóa ở Huyện Bình Chánh thành phố Hồ Chí
Minh”, Luận văn Thạc sĩ khoa học Xã hội học, 1999.
Điểm nỗi bật của đề tài là kiểm định được các giả thuyết đặt ra, tác động của quá
trình CNH.HĐH và ĐTH dẩn đến biến đổi XHNN thành XH đô thị, đời sống
người dân được nâng cao nhưng không ổn định. Trình độ văn hóa, chuyên môn
của người lao động địa phương còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu của thị
trường LĐ.Tuy nhiên đề tài chưa phân tích rõ các yếu tố tác động đến sự chuyển
dịch cơ cấu nghề nghiệp ảnh hưởng đến việc làm của người dân. Từ đó, chưa đưa

ở khía cạnh điều kiện cơ sở vật chất (bao gồm:cơ sở hạ tầng, trang thiết bị y
tế, nguồn cung cấp nước sạch, …), thu nhập ảnh hưởng như thế nào đến
việc chăm sóc sức khỏe của người dân ( tình trạng sức khỏe chung, tình
trạng khám chữa bệnh, hiệu quả của việc sử dụng BHYT, …) của người
dân tại Nam Ban.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1.Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp duy vật biện chứng sẽ được sử dụng làm cơ sở lý luận cho đề tài.
Trong đề tài còn sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp,
phương pháp diễn dịch – quy nạp để tìm hiểu vấn đề cần nghiên cứu.
 Thu thập phân tích nguồn tư liệu sẵn có
Trong giai đoạn bắt đầu nghiên cứu, chúng tôi sẽ thu thập các tài liệu gồm các
công trình nghiên cứu trước, các báo cáo tổng hợp về vấn đề thu nhập, môi trường,
sức khỏe của người dân, về đời sống vật chất, văn hóa tinh thần… Các tài liệu này
được tổng hợp và đúc kết thành từng nhóm ý để phục vụ cho đề tài.
 Thu thập thông tin định tính
9
Để hiểu được hoàn cảnh sống, điều kiện kinh tế xã hội, những nhu cầu, tình cảm
của người dân ở thị trấn Nam Ban chúng tôi tiến hành phương pháp thu thập thông
tin định tính thông qua công cụ phỏng vấn sâu. Cụ thể: phỏng vấn 30 người dân ở
đủ độ tuổi đã sinh sống và lớn lên ở đây. Ngoài ra, để có cái nhìn toàn diện và
khách quan hơn từ nhiều phía tác giả cũng tiến hành phỏng vấn sâu ban lãnh đạo
của thị trấn
 Thu thập thông tin định lượng
Phỏng vấn dựa trên phiếu thu thập ý kiến. Phiếu điều tra gồm những câu hỏi đóng
và mở nhằm tìm hiểu đời sống kinh tế- xã hội của người dân về tất cả các mặt của
xã hội.
 Phương pháp quan sát
Nhóm sẽ tiến hành đi thực địa ở địa bàn nghiên cứu để quan sát về địa hình, đời
sống kinh tế, cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân ở đây.

chiếu khi phân tích, tổng hợp các thông tin từ bảng hỏi định lượng và thông tin
định tính từ phỏng vấn sâu.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài chỉ đi tìm hiểu xung quanh các nội dung chính
Nội dung 1: Tìm hiểu khái quát chung về điều kiện kinh tế xã hội của thị trấn Nam
Ban. Từ đó đi phân tích các yếu tố này tác động như thế nào đến đời sống người
dân (trong vấn đề chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh)
Nộ dung 2: Tìm hiểu những tác động của thu nhập, kinh tế gia đình đến quá trình
khám chữa bệnh của người dân. Từ đó, đưa ra những loại hình khám chữa bệnh
phù hợp cho mọi mức thu nhập.
Nội dung 3: Tìm hiểu xem về đánh giá của người dân đối với chất lượng cơ sở vật
chất phục vụ khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe và chất lượng nguồn nhân lực
của đội ngũ y, bác sỹ.
11
7. Giả thuyết nghiên cứu, khung phân tích
7.1.Giả thuyết
- Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế chưa tốt làm hạn
chế trong vấn đề chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh của
người dân tại thị trấn Nam Ban.
- Thiếu nguồn nhân lực, đội ngũ y, bác sỹ có trình độ chuyên
môn cao gây khó khăn trong công tác khám chữa bệnh của
người dân.
- Thu nhập là yếu tố có tác động khá cao đến tình hình chăm
sóc sức khỏe, khám chữa bệnh của người dân.
7.2.Khung phân tích
8. Bố cục bài báo cáo
Bài báo cáo gồm 3 phần chính.Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, phần Nội
dung bài báo cáo còn có những chương sau:
Phần nội dung
1. Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp luận

Mức sống của gia đình nhìn theo sự đánh giá của địa phương tác động đến việc
chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh của người dân
13
PHẦN NỘI DUNG
1. Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp luận
1.1. Các khái niệm liên quan
1.1.1. Đời sống kinh tế
 Đời sống.
-Nghĩa thứ nhất :Đời sống là cụm từ dùng để chỉ tình trạng tồn tại của sinh vật như
đời sống cây cỏ, đời sống của súc vật, đời sống của con người.
-Nghĩa thứ hai: Đời sống dùng để chỉ sự hoạt động của con người trong từng lĩnh
vực như đời sống vật chất đời sống tinh thần, đời sống văn hóa, đời sống nghệ
thuật.
-Ngoài ra cụm từ đời sống còn dùng để chỉ phương tiện sống, lối sống của cá nhân
hay tập thể.
 Đời sống kinh tế
Mỗi gia đình đều có các hoạt động kinh tế thỏa mãn nhu cầu và phúc lợi vật chất
cho các thành viên trong gia đình nhằm tái tạo sức lao động cũng như thỏa mãn
những nhu cầu văn hóa tinh thần của gia đình và chi phí sản xuất. Chúng ta có thể
nói rằng đời sống vật chất chính là đời sống kinh tế nếu chúng ta chia đời sống của
hộ gia đình thành hai lạo là đời sống vật chất và đời sống tinh thần.
Theo Bestuschev-Iada đã lập luận rằng: “Nếu lối sống được xem nhu phương thức
hoạt động sống của con người thì hợp lý hơn cả là phải chọn các lĩnh vực hoạt
động sống, quan trọng nhất là nền tảng do cơ cấu của lối. Những lĩnh vực đó là lao
động, sinh hoạt, hoạt động chính trị-xã hội-văn hóa, trong đó hoạt động lao động
và hoạt động sinh hoạt là hoạt động vật chất còn hoạt động chính trị xã hội và hoạt
động văn hóa xã hội là hoạt động tinh thần.
1.1.2. Đời sống xã hội
Đời sống xã hội là tổng thể các hiện tượng phát sinh do tác động lẫn nhau của các
chủ thể xã hội và cộng đồng, tồn tại trong những không gian và thời gian nhất

vực đời sống do Nhà nước hay các thể chế xã hội khác khởi xướng và kiểm soát.
Giữa đời sống riêng tư và đời sống công cộng có một số tính chất công cộng, chủ
yếu là những lĩnh vực đời sống do cá nhân tham gia hoàn toàn tự nguyện (thể thao,
câu lạc bộ…).Trong thực tế, khó phân biệt rành mạch đời sống riêng tư và đời
15
sống công cộng. Nhất là trong những xã hội mà con người bị đặt dưới sự thống trị
của những quyền lực tôn giáo hay chính trị trùm lên tất cả hoặc gần như tất cả các
lĩnh vực đời sống. Chẳng hạn, tín ngưỡng là một số điều hoàn toàn riêng tư, nhưng
đối với tín đồ, giáo hội can thiệp vào cả các lĩnh vực đời sống riêng tư, cho đến cả
tình yêu và hôn nhân. Trong những chế độ toàn trị cũng thế, bộ máy Nhà nước
hay nửa Nhà nước có quyền can thiệp vào mọi sinh hoạt riêng tư.
Phạm vi riêng tư mở rộng đến đâu, điều đó nói lên trình độ giải phóng của con
người với tư cách cá nhân. Đời sống riêng tư là một trong những nền tảng phát
triển cá nhân, một khi nó được kết hợp hài hòa với đời sống công cộng, một khi nó
có nội dung văn hóa ngày càng cao để các cá nhân tự mình tránh được những sai
lệch có hại cho chính bản thân và cho xã hội. .( Theo Từ điển XHH, Nguyễn Khắc
Viện, NXB Thế giới Hà Nội, năm 1994)
1.1.3. Thu nhập
Trong nền kinh tế thị trường thuần túy thu nhập được quy định bởi những nguồn
tài nguyên thanh toán mà các cá nhân và hộ gia đình nhận được trên thị trường các
nguồn tài nguyên. Mức lương, lãi suất, tiền thuê. được quy định bởi các nguồn tài
nguyên trên thị trường có nguồn tài nguyên và số lượng các tài nguyên được sở
hữu bởi cá nhân và hộ gia đình. Những hộ này cùng với những loại hàng hóa có
giá trị cao nhất nhận được mức tu nhập cao nhất. Số lượng đất đai vốn và nhân
lực(ở một mức độ nào đó) được quy định bởi thu nhập nhận được do các thế hệ
trong quá khứ của gia đình để lại.
1.1.4. Mức sống
Là một khái niệm liên quan đến sự phát triển và thỏa mãn nhu cầu của xã hội nói
chung và nhu cầu của con người nói riêng. Hiện nay tồn tại rất nhiều định nghĩa về
mức sống. Nhìn chung giữa các nhà nghiên cứu có hai cách tiếp cận đối với vấn đề

•Cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường
•Chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em trong đó có kế hoạch hóa gia đình
•Tiêm chủng phòng chống 6 bệnh nhiễm trùng phổ biến ở trẻ em
•Phòng chống các bệnh dịch lưu hành phổ biến tại địa phương
•Điều trị hợp lý các bệnh và các vết thương thông thường
•Cung cấp các loại thuốc thiết yếu
1.2. Lý thuyết tiếp cận
1.2.1. Lý thuyết cấu trúc chức năng
Lý thuyết này có nguồn gốc trong tư tưởng của H.Spencer - nhà xã hội học người
Anh thế kỷ XIX. Tuy nhiên người ảnh hưởng lớn nhất đối với sự ra đời của thuyết
này là E.Durkheim – người đã thực hiện phân tích lại những đề xuất của
H.Spencer. Trong thế kỷ XX, lý thuyết này được phát triển bởi T.Parsons và trở
nên phổ biến trong việc sử dụng làm cơ sở nghiên cứu xã hội học. Theo lý thuyết
này thì: “Xã hội được coi là một hệ thống bao gồm nhiều bộ phận khác nhau mà
mỗi bộ phận giữ một chức năng nhất định, liên kết chặt chẽ với nhau góp phần bảo
đảm sự tồn tại của chỉnh thể với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định và bền
vững” (theo Lịch sử và Lý thuyết Xã Hội Học, Lê Ngọc Hùng. NXB Đại học
Quốc gia Hà Nội). Đối với đề tài này thì đó là mối liên hệ giữa đội ngũ y, bác sỹ
có trình độ chuyên môn cao với nhu cầu khám chữa bệnh của người dân địa
phương, tính chuyên môn trong tay nghề của y, bác sỹ càng cao thì sẽ càng tỷ lệ
thuận với mức độ tin tưởng của người dân đối với vấn đề khám chữa bệnh cũng
tăng lên. Bên cạnh đó, một cơ sở y tế mà được tập trung nhiều y,bác sỹ, thầy thuốc
có kinh nghiệm hoặc có tay nghề cao thì hiệu quả việc chuẩn đoán các loại bệnh
cũng chính xác hơn, cùng với đó số lượng người đến cơ sở y tế đó khám chữa
bệnh cũng được nâng lên, uy tín của mọi thành viên trong cơ sở cũng từ đó mà
tăng lên.
Ngoài yếu tố nói trên, lý thuyết này còn cho rằng: “các xã hội có khuynh hướng
được xây dựng nội tại, hướng tới sự hài hòa tự điều chỉnh như tổ chức hay cơ thể
sinh học. Bởi vì trong một trạng thái xã hội luôn trong trạng thái cân bằng.” Vì thế
18

Theo thuyết tương tác,trong cấu trúc xã hội, sự tương tác giữa các các nhân thông
qua vai trò của mình tạo thành số phận của những con người khác nhau. Những
mối tương tác theo kiểu trao đổi nhiều chiều, nhiều mặt đã gắn kết các cá nhân
thành tổ chức, xã hội, nhóm nhỏ, nhóm lớn, tổng thể xã hội. Với các tác giả tiêu
biểu: G. Mead, C. Cooley, J. Watson, H. Blumer, Goffman…
Áp dụng vào đề tài ta thấy mối tương tác giữa các cá nhân với nhau, tương tác
giữa các cá nhân và xã hội, cá nhân và các cơ quan chính quyền ở khu vực thị trấn
Nam Ban. Khi đưa thuyết tương tác vào ta nhận biết được trình độ học vấn, nền
văn hoá của các hộ dân ở đây, cũng có thể xem xét chủ yếu ở các mặt liên quan
giữa mối liên hệ giữa cơ sở vật chất và nhu cầu khám chữa bệnh thiết yếu của
người dân, sự tác động kéo theo của thu nhập lên các vấn đề trong lúc khám chữa
bệnh (bao gồm: chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, nguồn thiết bị hiện đại, nơi
khám chữa bệnh thuận tiện, thoải mái…), xem xét ở sự tận tình thực hiện việc
khám chữa bệnh trách nhiệm cũng như tinh thần vì mọi người của đội ngũ của các
y, bác sỹ, cùng với tinh thần tự giác, ý thức của cộng đồng trong công tác phòng
và khám chữa bệnh hiệu quả. Trên cơ sở những điều phân tích trên, thuyết tương
tác giúp làm rõ mối quan hệ tác động qua lại giữa điều kiện kinh tế- xã hội và tình
hình chăm sóc sức khỏe của người dân tại thị trấn Nam Ban hiện nay.
1.3. Thuyết nhu cầu
Đối với thuyết này đề tài chỉ xem xét ở khía cạnh hai nhu cầu cơ bản nhất trong
tháp nhu cầu của nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970). Thứ nhất, nhu
cầu cơ bản đầu tiên bao gồm: nhu cầu cơ cơ thể hoặc của sinh lý như ăn, ngủ, hít
thở, tình dục…. Đối với nhu cầu này người dân mong muốn đời sống của họ được
đảm bảo và ổn định hơn, con người mong muốn được làm việc, được cống hiến và
được có cơ hội phát triển cuộc sống. Thứ hai, nhu cấu ở cấp độ cao hơn một chút,
nhu cầu về sự an toàn, họ mong mình được bảo hiểm về tính an toàn của cơ thể
khi làm việc, cũng như mong muốn bảo đảm an ninh. Nhu cầu thứ ba, được chấp
nhận và được tôn trọng: khi một cá nhân thỏa mãn được các yêu cầu trình độ học
20
vấn cao, có đử năng lực công tác hiệu quả họ sẽ tạo được cho bản thân mình có

khu dân cư nông thôn, khu sản xuất nông nghiệp, các khu vực tham quan du lịch
và các khu vực dự kiến phát triển đô thị. Chính quyền địa phương đang tiến hành
quy hoạch các khu vực phát triển kinh tế tại các địa phương vùng ven đô thị và
vùng nông thôn nhằm khuyến khích phát triển kinh tế theo định hướng Du lịch,
dịch vụ – Công nghiệp, xây dựng – Nông, lâm nghiệp .
Các chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn theo mục tiêu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá từng bước đã được triển khai. Cơ sở hạ tầng nông thôn được
quan tâm đầu tư về giao thông, thủy lợi, điện, trường học, y tế…. Kinh tế xã hội
tại một số khu vực nông nghiệp trọng điểm của thành phố được nâng lên đáng kể,
công tác ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất được triển khai
nhanh chóng và mang lại hiệu quả kinh tế thích đáng trên từng đơn vị diện tích.
Đời sống đại bộ phận dân cư được nâng lên, phúc lợi xã hội được quan tâm chăm
sóc, đời sống văn hoá phát triển.
Về phát triển kinh tế, ngành Du lịch, dịch vụ được xác định là ngành kinh tế động
lực của thành phố trong những năm qua và trong những năm tiếp theo. Tốc độ
tăng trưởng của ngành được duy trì và phát triển hàng năm, hiện nay đạt 65%
trong cơ cấu kinh tế toàn xã hội củ địa phương. Các hoạt động dịch vụ ngày càng
phát triển nhưng còn mang tính dàn trãi, hoạt động xuất khẩu chậm phát triển.
Ngành Công nghiệp, xây dựng đang trên lộ trình phát triển với định hướng hình
thành những khu công nghiệp vừa và nhỏ tại các địa phương nông nghiệp nông
thôn nhằm thu hút đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản phẩm để tham gia thị
trường tiêu dùng trong nước và từng bước tiến đến xuất khẩu. Thành phố đang chú
trọng đầu tư phát triển các ngành nghề thủ công mỹ nghệ, các ngành chế biến
nông sản.
Ngành Nông, lâm nghiệp trong những năm trước đây là ngành kinh tế quan trọng
của địa phương. Tuy nhiên, với định hướng phát triển kinh tế Du lịch, dịch vụ –
Công nghiệp, xây dựng – Nông, lâm nghiệp; ngành nông nghiệp đã và đang từng
bước thực hiện mục tiêu giảm dần tỷ trọng một cách hợp lý trong cơ cấu kinh tế
22
của thành phố. Hiện nay ngành nông nghiệp Đà Lạt vẫn còn thu hút 38,5% lao

Phía Nam giáp với xã Gia Lâm
Phía Bắc giáp với xã Mê Linh.
2.2.1.3. Địa hình, địa chất, khí hậu, thủy văn
Địa hình của Thị trấn Nam Ban nằm trên thềm chuyển tiếp giữa cao nguyên với
vùng bình nguyên lớn, ở độ cao trung bình từ 800m đến 1000 m so với mặt nước
biển, Địa hình đồi núi nhấp nhô, nhân dân sống tập trung hầu hết là ở giữa các khe
núi.
Về khí hậu mang đặc điểm khí hậu á nhiệt đới, cận ôn đới , nhiệt độ ôn hoà, dao
động chênh lệch trung bình cả năm từ 11 – 27
o
c; được chia thành 02 mùa rõ rệt là
mùa mưa và mùa khô .
Đất đai : phần lớn được cấu tạo đất Feratit phát triển trên nền đất đỏ Bazan, đất
đai màu mỡ, phù hợp với sự phát triển của các cây công nghiệp dài ngày như Cà
phê, chè và dâu tằm…, cũng như các loại cây ngắn ngày khác.
Thị trấn có suối Cam Ly bắt nguồn từ Đà Lạt chảy quanh và nhiều suối nhỏ khác ,
nước suối chảy quanh năm tạo nên Thác Voi( Thắng cảnh du lịch hấp dẫn ). Cũng
từ Suối Cam Ly đã xây dựng được hệ thống mương Cam Ly phục vụ cho việc
tưới cây công nghiệp và các loại cây trồng khác thuộc 05 khu phố :Từ Liêm 1, Từ
Liêm 2, Đông Anh 1 , Đông Anh 2 và Đông Anh 3.
Về hồ chứa nước : hiện tại thị trấn có 06 hồ lớn : Hồ Từ Liêm, Hồ Bãi công
thượng, hồ Bãi Công hạ, Hồ gốc dẻ, hồ vuông và hồ Tròn Ba Đình.
2.2.2. Tình hình kinh tế xã hội
Tình hình kinh tế xã hội 5 năm trở lại đây (từ 2007 - 2011)
Chỉ tiêu
Năm
2007
Năm
2008
Năm

Ha
Dân số
Dân số trung
bình
11,224
11,224 11,414 11,340 Người
Mật độ dân số
552.6
553 564.0 558
Người/
km2
Tỷ lệ tăng dân
số
1,52
1,52 1,56 1,07 %
Tỷ lệ tăng tự
nhiên
1,48
1,48 1,1 1,34 1,15 %
Số người trong
độ tuổi lao
động
6649
6649 6676 6680 Người
Chỉ tiêu kinh tế
Tốc độ tăng
trưởng
15,98 6,5 16,9 17 %
Lương thực
bình quân đầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status