BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO CÁC ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ RỦI RO KHÍ HẬU - Pdf 27

VIỆN KHOA HỌC KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRUNG TÂM TƯ VẤN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG

NHIỆM VỤ “XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN
ĐỔI KHÍ HẬU CỦA TỈNH HÀ TĨNH”
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO
CÁC ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ RỦI RO KHÍ
HẬU
(CHUYÊN ĐỀ SỐ 24)
HÀ NỘI, THÁNG 12/2010
MỤC LỤC
2
DANH SÁCH CÁC BẢNG
3
DANH SÁCH CÁC HÌNH
4
MỞ ĐẦU
Biến đổi khí hậu đang được xem là vấn đề nóng bỏng nhất – yếu tố quan trọng, có tác
động toàn diện đến sự phát triển bền vững trên toàn thế giới. Do ảnh hưởng của biến đổi khí
hậu, thiên tai trên phạm vi toàn câu đã, đang và sẽ xảy ra với tần suất nhiều hơn, phức tạp
hơn, cường độ tăng mạnh hơn làm trầm trọng thêm mức độ ảnh hưởng của thiên tai. Ước
tính hàng triệu hecta đất bị ngập, hàng chục triệu người Việt Nam có thể bị mất nhà cửa nếu
nước biển dâng cao. Sản lượng lương thực có nguy cơ giảm sút lớn, đe dọa tới an ninh
lương thực của nước nhà.
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mừa, một trong năm ổ bão của khu vực Châu
Á – Thái Bình Dương, thường xuyên phải đối mặt với các loại hình thiên tai, hàng năm
nước ta chịu nhiều tác động bất lợi của thiên tai, làm thiệt hại về người và của vô cùng to
lớn. Đặc biệt trong những năm qua, thiên tai xảy ra ở khắp các khu vực trên cả nước, gây ra
nhiều tổn thất to lớn về người, tài sản, các cơ sở hạ tầng về kinh tế, văn hóa, xã hội, tác
động xấu đến môi trường. Trong 12 năm gần đây, các loại thiên tai như: bão, lũ, lũ quét, sạt

38’ vĩ độ Bắc, 105
0
11’- 106
0
36’ kinh độ Đông. Ranh giới phía Bắc giáp tỉnh
Nghệ An, phía Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía Tây giáp tỉnh Bôlikhămxay và
KhămMuộn của Lào (với 170 km biên giới Quốc gia) và phía Đông giáp Biển Đông với
chiều dài bờ biển hơn 137 km.
Hình 1.1.Bản đồ hành chính tỉnh Hà Tĩnh
Hà Tĩnh có vị trí đặc biệt quan trọng không chỉ với cả nước, mà còn với nước bạn
Lào và vùng Đông Bắc của Thái Lan. Trong tương lai, Hà Tĩnh có điều kiện trở thành
cầu nối của hai miền Nam, Bắc và là nút giao thông quan trọng trên trục hành lang Đông,
Tây của khu vực, với các tuyến giao thông huyết mạch đi qua: Quốc lộ 1A, đường sắt,
đường Hồ Chí Minh, đường biển (trục giao thông Bắc, Nam); Quốc lộ 8 với cửa khẩu
Quốc tế Cầu Treo và Quốc lộ 12 với cửa khẩu Cha Lo Quảng Bình (trục hành lang Đông
- Tây), nối với hệ thống cảng biển nước sâu Vũng Áng đã và đang đầu tư xây dựng.
Hà Tĩnh có 12 đơn vị hành chính cấp huyện với 262 phường xã, thị trấn, gồm 10
đơn vị huyện, 2 thị xã. Thị xã Hà Tĩnh là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hoá của tỉnh
nằm cách Hà Nội 341 km và cách thành phố Vinh 50 km về phía Nam theo Quốc lộ 1A.
Xét về vị trí địa lý cho thấy tỉnh Hà Tĩnh có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh
tế, giao lưu vận chuyển hàng hoá, vì có lợi thế nằm tiếp giáp với các đô thị lớn và cửa
khẩu Quốc tế quan trọng, có nhiều thế mạnh cả về giao thông đường thuỷ và đường bộ.
1.1.2. Đặc điểm địa hình, địa chất
- Vùng núi cao: Địa hình vùng núi cao thuộc phía Đông của dãy Trường Sơn bao
gồm các xã phía Tây của các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Kỳ Anh. Địa hình dốc bị
chia cắt mạnh, hình thành các thung lũng nhỏ hẹp chạy dọc theo các triền sông lớn của hệ
thống sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, Rào Trổ. Các thung lũng này cũng là vùng sinh sống
của cư dân các dân tộc. Sản xuất của dân cư trong vùng là hỗn hợp nông lâm nghiệp theo
phương thức khai thác tận dụng tự nhiên do vậy năng suất cây trồng và năng suất lao
động thấp. Mức thu nhập của dân thấp do chưa được đầu tư thích đáng, cơ sở vật chất

thuỷ sản.
1.2. ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU, THỦY VĂN
1.2.1. Điều kiện khí hậu
1.2.1.1. Chế độ nhiệt
Nhiệt độ trung bình năm đạt 23,8
0
C. Nhiệt độ trung bình tháng nhỏ nhất đạt 17
0
C.
Các tháng chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, nhiệt độ trung bình tháng đạt 28,7 ÷
29,8
0
C vào tháng VII.
Số giờ nắng đạt từ 1.400 ÷ 1.600 giờ.
Bảng 1.1.Nhiệt độ không khí trung bình (từ1981-2010)
Đv:
0
C
Trạm T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12
Hà Tĩnh 17.9 18.8 20.9 24.7 27.9 30.0 29.8 28.9 27.1 24.7 21.8 18.7
Kỳ Anh 18.1 19.0 21.6 24.8 28.0 30.1 30.1 29.0 27.1 24.8 22.0 18.9
Hương Khê 18.0 19.1 21.5 25.2 27.4 29.5 29.5 28.2 26.5 24.1 21.4 18.4
Hương Sơn 17.7 18.9 21.2 24.7 27.5 29.0 29.3 28.3 26.4 24.3 21.2 18.1
1.2.1.2. Độ ẩm tương đối
Độ ẩm tương đối trung bình năm đạt 85%. Độ ẩm thấp nhất xảy ra vào các tháng
có gió Tây khô nóng - tháng VII và đạt 70%. Độ ẩm cao nhất xảy ra vào các tháng cuối
mùa đông, khi có mưa phùn hoặc các tháng mùa mưa và đạt 90 ÷ 92%.
1.2.1.3. Bốc hơi
Bốc hơi Piche trung bình năm đạt 800mm. Lượng bốc hơi lớn xảy ra vào tháng
VII với lượng bốc hơi trung bình tháng đạt từ 180 ÷ 200mm. Tháng II có lượng bốc hơi

3
62.7 47.6 45.2 39.9
Hương Sơn 33.6 30.4 47.1 64.9
107.
2
177.
1
181.
7
125.
9
70.8 43.9 41.0 36.9
1.2.1.4. Tốc độ gió
Tốc độ gió trung bình năm 1,7 m/s- 2,3 m/s . Tốc độ gió lớn nhất khi có bão đạt
>40 m/s. Hướng gió mùa đông là hướng Đông Bắc, mùa hè thịnh hành gió Tây Nam hoặc
gió Đông Nam.
1.2.1.5. Chế độ mưa
Hà Tĩnh có lượng mưa năm khá phong phú, trung bình năm đạt từ 2.300 ÷
3.000mm. Những vùng mưa lớn như Kỳ Lạc (Kỳ Anh) lượng mưa đạt 3.220mm. Những
tâm mưa lớn thượng nguồn sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, Rào Trổ, Hoành Sơn có năm
lượng mưa năm đạt 4.586 mm năm 1978 ở Bàu Nước, 4.386mm tại Kỳ Anh năm 1990,
4.450 mm năm 1990 tại Kỳ Lạc.
Mùa mưa bắt đầu từ tháng VIII tới tháng XI. Tuy nhiên tháng V, VI có mưa Tiểu
mãn gây ra lũ Tiểu mãn. Lượng mưa mùa mưa đạt 65 - 70% lượng mưa năm, còn lại là
mùa khô.
Bảng 1.3.Lượng mưa các trạm KTTV (từ 1981-2010)
Đv: mm
Trạm T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10 T11 T12
Hà Tĩnh 95.0
59.

0
89.6
247.
6
496.
1
817.
6
412.
8
203.
9
Hương
Khê
44.8
52.
4
64.
8
92.5
216.
8
166.
3
151.
6
303.
1
440.
7

Hà Tĩnh có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, nhưng có đặc điểm chung là chiều dài
ngắn, lưu vực nhỏ, dốc nên tốc độ dòng chảy lớn, nhất là về mùa mưa lũ.
Sự phân bố dòng chảy đối với các sông suối ở Hà Tĩnh theo mùa rõ rệt, hầu hết
các con sông chịu ảnh hưởng của mưa lũ ở thượng nguồn, những vùng thấp trũng ở hạ
lưu đất thường bị nhiễm mặn do chế độ thuỷ triều ảnh hưởng xấu đến sản xuất, tuy nhiên
có thể tận dụng đặc điểm này để quy hoạch phát triển vùng nuôi trồng thuỷ sản nước lợ.
Hà Tĩnh có nguồn nước mặt phong phú nhờ hệ thống sông suối hồ đập khá dày
đặc. Theo số liệu của chi cục Quản lý nước và Công trình thuỷ lợi: Hà Tĩnh có 266 hồ
chứa có dung tích trữ trên 600.10
6
m
3
, 282 trạm bơm có tổng lưu lượng 338.000m
3
/s, 15
đập dâng tổng lưu lượng cơ bản 6,9m
3
/s với trữ lượng này hiện tại Hà Tĩnh đã phục vụ
tưới được 47.737 ha/vụ. Tuy nhiên việc sử dụng nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
và sinh hoạt còn bị hạn chế do bị nhiễm mặn ở hạ lưu vào mùa khô và lũ lụt mùa mưa.
Nước ngầm ở Hà Tĩnh tuy chưa có số liệu điều tra toàn diện nhưng qua các số liệu
đã thu thập được cho thấy mức độ nông sâu thay đổi phụ thuộc địa hình và lượng mưa
trong mùa. Thông thường vùng đồng bằng ven biển có mực nước ngầm nông, miền trung
du và miền núi nước ngầm thường sâu và dễ bị cạn kiệt vào mùa khô, ảnh hưởng không
nhỏ đến sinh hoạt của nhân dân trong vùng. Về chất lượng nước ở Hà Tĩnh nhìn chung
khá tốt, thích hợp với sinh trưởng và phát triển của cây trồng cũng như sinh hoạt. Riêng
đối với vùng đồng bằng ven biển thường bị nhiễm mặn do thuỷ triều, gây khó khăn cho
sản xuất và đời sống nhân dân, vì vậy cần kiểm tra độ mặn nước sông trước khi bơm tưới
cho cây trồng. Đặc biệt, Hà Tĩnh có mỏ nước khoáng ở Sơn Kim huyện Hương Sơn, vị trí
thuận lợi cạnh đường Quốc lộ 8 và gần cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo rất có điều kiện để

(25%).
1.3.2. Kinh tế - xã hội
1.3.2.1. Tăng trưởng kinh tế
Trong giai đoạn 2000-2005, Hà Tĩnh đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức nhiều
chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra. Tốc độ
tăng GDP khá cao, nông nghiệp phát triển vững chắc. Cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo
hướng công nghiệp hóa, tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ. Văn hóa xã
hội phát triển mạnh, an ninh trật tự được giữ vững. Đời sống nhân dân được nâng cao cả
về vật chất lẫn tinh thần.
Năm 2005, GDP tính theo giá hiện hành đạt 5.990,7 tỷ đồng, bằng 0,72% GDP cả
nước. (Tính theo giá 94, GDP năm 2005 đạt 4.063,5 tỷ đồng). Tăng trưởng kinh tế ổn
định, giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước, cao hơn trung bình cả nước, nhưng còn thấp
hơn so với các tỉnh lân cận và vùng Bắc Trung bộ.
Nhịp độ tăng GDP nông nghiệp khá cao và ổn định ở mức 4-5%. Trong thời kỳ
2000-2005, tổng sản phẩm ngành nông lâm nghiệp thuỷ sản tăng, bình quân 4,70%/ năm,
cao hơn so với trung bình cả nước (4,0%).
Công nghiệp và xây dựng có nhịp độ tăng khá cao, đạt 14,74%/năm, nhưng do quy
mô của khu vực này còn nhỏ bé, nên đóng góp vào tăng GDP còn bị hạn chế.
Khu vực dịch vụ tăng khá ổn định, cao hơn trung bình vùng Bắc Trung bộ và cả
nước. Trong giai đoạn 2000-2005, nhịp độ tăng dịch vụ đạt 9,32%/năm.
1.3.2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trong suốt thời kỳ 2001 - 2005, cơ cấu kinh tế của tỉnh theo GDP có sự chuyển
dịch đúng hướng, phù hợp với xu thế chuyển đổi cơ cấu kinh tế chung của cả nước, theo
xu thế tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng khu
vực nông lâm thủy sản, được thể hiện như sau (bảng 2):
Bảng 1.4.Cơ cấu các ngành kinh tế qua một số năm
Chỉ tiêu
Đơn
vị tính
Năm

sống nhân dân trong tỉnh. Năm 2005, GDP nông nghiệp là 2032 tỷ đồng, chiếm 45,9%
tổng GDP cả tỉnh, gấp 2,32 lần năm 1995, nhưng còn thấp hơn so với chỉ tiêu này của cả
nước (3,11 lần)
Tăng sản lượng một số cây trồng vật nuôi chính:
Trong giai đoạn 2001-2005, sản lượng lương thực tăng trên 10%, do tăng diện tích
gieo trồng (tăng vụ) và tăng năng suất cây trồng. Trong đó tăng sản lượng xấp xỉ 5%.
Trong cùng thời kỳ, sản lượng cây công nghiệp tăng khá cao, nhưng chủ yếu do tăng diện
tích gieo trồng.
Để đảm bảo tăng giá trị sản xuất ổn định như thời gian qua, cần xây dựng một số
hồ chứa nước đa tác dụng, đồng thời cần áp dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật sinh học
vào trồng trọt và chăn nuôi trên diện rộng.
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp:
Năm 2005, nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi) chiếm 81,98%, lâm nghiệp:
7,14% và thuỷ sản chiếm 10,88% tổng giá trị sản xuất.
- Trồng trọt
Trong những năm qua ngành trồng trọt đã có những thành công căn bản, năng suất
cây trồng tăng cao, nhất là lúa. Cơ cấu cây trồng được bố trí hợp lý hơn, tỷ trọng cây lâu
năm tăng dần. Tỷ lệ các loại giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt được sử dụng
tăng dần. Tuy vậy, ứng dụng các loại giống cây mới vào sản xuất còn hạn chế, nhân ra
diện rộng còn chậm.
- Chăn nuôi
Quy mô và chất lượng đàn gia súc, gia cầm tăng dần, nhưng đóng góp của chăn
nuôi vào thu nhập của người dân tăng chậm.
Giá trị sản xuất chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất khu vực nông nghiệp có xu
hướng tăng, năm 2001 chiếm 29,73% tăng lên 31,38% năm 2005.
Tuy vậy, trong suốt thời kỳ 1996-2005, số trâu bò bình quân trên hộ nông nghiệp
hầu như không tăng, bình quân 1,1 con / hộ.
Tổng đàn lợn năm 2005 có 453 nghìn con, tốc độ tăng bình quân 1996-2005 là
3,73%. Hình thức chăn nuôi hộ gia đình có quy mô ngày càng lớn. Đàn lợn tăng khá
nhanh trong giai đoạn 2001-2005, do lương thực bình quân đầu người tăng, từ 264kg năm

mộc dân dụng. Các ngành này tăng trưởng chậm do thiếu nguyên liệu (nguồn nguyên liệu
chủ yếu là gỗ lậu).
• Diêm nghiệp
Diêm nghiệp là ngành truyền thống của tỉnh, nhưng hiệu quả sản xuất kinh doanh
thấp. Diêm nghiệp được tập trung sản xuất ở 4 huyện: Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh
và Nghi Xuân với sản lượng muối hàng năm đạt 26.000 tấn, trong đó muối i ốt 13.000
tấn. Có 4.000 hộ với hơn 8.000 lao động làm diêm nghiệp. Do làm muối thủ công năng
suất thấp, đời sống của người làm muối còn gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ đói nghèo của
vùng làm muối chiếm 17% (theo tiêu chuẩn cũ), cao hơn mức trung bình của tỉnh.
b. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của tỉnh có hai đặc điểm nổi bật:
(1) Công nghiệp và TTCN của tỉnh còn nhỏ bé đang trong giai đoạn bắt đầu phát
triển. Năm 2005, trên địa bàn của tỉnh có 12.122 cơ sở sản công nghiệp, giải quyết việc
làm thường xuyên cho 28,5 nghìn lao động, bằng 3,9% tổng số lao động đang làm việc
trong các ngành kinh tế cả tỉnh.
(2) Trong thời kỳ 1996-2005, giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
tăng khá cao, đạt 14,7%/năm theo xu hướng tăng dần.
Nhờ sự nỗ lực của ngành, trong những năm qua công nghiệp đã có nhiều khởi sắc,
là do:
Công nghiệp và TTCN của tỉnh phát triển đúng hướng, dựa trên các thế mạnh về
tài nguyên và lao động. Tỉnh đã khai thác quặng Titan, khai thác vàng, chế biến dăm gỗ,
sản xuất vật liệu xây dựng cho xuất khẩu và để sử dụng trong nước.
So với 10 năm trước, thiết bị và công nghệ được nâng cấp, trong đó thiết bị khai
thác quặng Titan được đánh giá vào loại hiện đại.
Một số cơ sở công nghiệp chế biến nông lâm sản có quy mô khá đã đi vào hoạt
động. Từ năm 1997 đến nay, trên địa bàn Hà Tĩnh đã có ba doanh nghiệp có quy mô khá
đi vào hoạt động là: nhà máy thủy sản đông lạnh, chế biến dăm gỗ xuất khẩu và chế biến
hoa quả,
Cơ cấu theo ngành: Công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất
CN-TTCN trên địa bàn Hà Tĩnh, nhưng có xu hướng giảm. Công nghiệp khai thác mới

sắc riêng, khả năng cạnh tranh còn yếu, chất lượng dịch vụ chưa tương xứng với giá cả;
Số lượng doanh nghiệp làm thương nghiệp tuy nhiều nhưng chủ yếu là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, vòng quay vốn còn thấp, hiệu quả kinh tế chưa cao.
• Du lịch
Trên địa bàn Hà Tĩnh đã hình thành một số điểm du lịch có ý nghĩa Quốc gia và
Quốc tế như khu lưu niệm Nguyễn Du, khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang và nhiều điểm
du lịch khác có ý nghĩa vùng và địa phương.
Cơ sở hạ tầng du lịch ngày càng được hoàn thiện, số nhà nghỉ, khách sạn, nhà
hàng ở các khu du lịch tăng về số lượng và chất lượng. Tuy vậy, công tác đảm bảo vệ
sinh môi trường, trật tự an toàn tại các khu du lịch còn nhiền bất cập. Đặc biệt là hệ thống
thu gom, chứa và xử lý sơ bộ chất thải tại các điểm du lịch còn chưa đảm bảo yêu cầu vệ
sinh sạch sẽ, nhiều nơi còn thiếu.
Hiện tại, chưa có những sản phẩm du lịch đặc trưng, hấp dẫn đối với khách du lịch
nên ngày lưu trú của khách còn thấp. Du lịch mang tính mùa vụ, khách du lịch đến Hà
Tĩnh chủ yếu vào các dịp lễ hội, kỳ nghỉ hè. Doanh thu du lịch từ khách Quốc tế chiếm tỷ
trọng nhỏ trong tổng số doanh thu. Trong hoạt động lữ hành, việc nối các tour du lịch với
các tỉnh và cả nước còn nhiều hạn chế. Hệ thống khách sạn có quy mô vừa và nhỏ, trang
thiết bị thiếu đồng bộ. Sử dụng nhà nghỉ, khách sạn tại các khu du lịch biển còn thấp, mới
đạt 25-30% tổng số buồng phòng. Tỷ lệ lao động và cán bộ có trình độ nghiệp vụ du lịch
còn thấp.
1.3.2.4. Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn
Thực trạng phát triển đô thị:
Hiện nay toàn tỉnh có 14 đô thị, trong đó 1 thị xã loại IV, TP. Hà Tĩnh đã được
công nhận là đô thị loại III, còn 12 thị trấn đô thị loại V. Hầu hết các đô thị là trung tâm
hành chính, y tế, giáo dục, quản lý nhà nước và thương mại. Dân số đô thị năm 2005
chiếm 10% tổng số dân. Dự báo đến 2020, dân đô thị chiếm 30% tổng số dân, gấp 3 lần
hiện nay. Điều kiện sống của người dân đô thị khá tốt. Bình quân đất ở đô thị từ 150-250
m
2
/hộ. Tầng cao bình quân của các công trình kiến trúc là 2,2 tầng.

1.3.3. Điều kiện xã hội
1.3.3.1. Giao thông
Đường bộ:
Hà Tĩnh có 4 đường Quốc lộ chạy qua và 27 tuyến đường tỉnh lộ với tổng chiều
dài 387 km. Nếu tính cả giao thông nông thôn, tổng chiều dài đường bộ trên địa bàn tỉnh
là 2.917 km.
Tuy đạt được những thành tựu nêu trên, nhưng hiện nay 80% đường bộ được đánh
giá vào loại xấu và rất xấu, nhiều đoạn đường bị ngập trong mùa mưa. Hệ thống cầu,
ngầm còn thiếu về số lượng và kém về chất lượng.
Đường sắt:
Đường sắt đi qua địa phận Hà Tĩnh dài 70 km (qua Đức Thọ, Vũ Quang, Hương
Khê). Trên tuyến đường sắt có 11 ga, trong đó cá hai ga hàng hóa là Hương Phố và Phúc
Trạch, góp phần trao đổi hàng hóa thuận lợi cho các điểm dân cư lân cận.
1.3.3.2. Thủy lợi
Các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp đã được chú trọng đầu tư
xây dựng, đang bước vào thời kỳ phát huy tác dụng. Tuy vậy, do điều kiện địa hình chia
cắt, đất dốc, thuỷ lợi chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước trong nông nghiệp, thiếu
nước khá trầm trọng vào các tháng gió Tây nam hoạt động mạnh ảnh hưởng đến năng
suất cây trồng.
1.3.3.3. Giáo dục và đào tạo
Hà Tĩnh là một trong các tỉnh có hệ thống giáo dục phổ thông phát triển nếu so với
cùng mặt bằng mức sống. Hệ thống giáo dục đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập
trong tỉnh. Đến năm 2005 tỉnh có 1 trường cao đẳng sư phạm, 4 trường trung học chuyên
nghiệp, 1 trường dân tộc nội trú.
Số học sinh trên 1 vạn dân tăng liên tiếp, năm sau cao hơn năm trước. Năm học
1994-1995, bình quân toàn tỉnh có 2.434 học sinh / vạn dân tăng lên 2.706 học sinh / vạn
dân năm học 2004-2005.
Ngành giáo dục đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ. Hà Tĩnh là tỉnh sớm đạt
tiêu chuẩn Quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ so với cả nước, ngay từ
năm 1999, hoàn thành phổ cập trung học cơ sở năm 2003.

(cấp một) giỏi của một số chuyên khoa thiếu như sản, chụp cắt lớp.
1.3.3.5. Văn hóa xã hội, thể dục thể thao
Công tác văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, xây dựng làng văn hóa được triển
khai trên diện rộng và đạt kết quả tốt. Phục vụ tốt, kịp thời các ngày lễ lớn của dân tộc và
lễ hội truyền thống ở các địa phương. Đến năm 2005 đã có 78% gia đình văn hóa, tăng
30% so với năm 2000.
Công tác tôn tạo, bảo quản và giữ gìn các di tích lịch sử, văn hoá được chú trọng,
các thiết chế văn hoá từ huyện đến cơ sở được tăng cường.
Lĩnh vực thông tin, phát thanh và truyền hình đã thực hiện tốt vai trò làm công cụ
tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đến nay 100% số
xã thị trấn được nghe phát thanh và xem truyền hình.
Tuy nhiên, cơ sở vật chất của ngành văn hóa còn thiếu về số lượng và kém về chất
lượng chưa tương xứng với tên gọi của nó. Hiện nay cả tỉnh có 1 trung tâm văn hóa cấp
tỉnh và 11 trung tâm văn hóa huyện, thị nhưng đã xuống cấp, một số trung tâm còn ở nhà
tạm. Vùng sâu, vùng xa đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân còn kém, thiếu thông
tin, hiểu biết về pháp luật còn hạn chế. Vì vậy để đem tri thức đến với dân, công tác văn
hoá, thông tin và thể dục thể thao cần được tiếp tục đẩy mạnh trong các năm tới.
1.3.3.6. Bưu chính viễn thông
Bưu chính viễn thông trong thời kỳ 1996-2005 đã có bước phát triển tích cực, tăng
cả về số lượng và chất lượng dịch vụ. Năm 2004 số máy điện thoại là 3,2 máy/100 dân,
cao hơn 10 lần so với năm 1995. Số bưu cục bình quân km2 là 1,1 cao hơn trung bình
toàn vùng. Đây là sự phát triển tích cực, tuy nhiên, mật độ sử dụng điện thoại trên toàn
tỉnh vẫn ở mức thấp so với trung bình toàn vùng Bắc Trung bộ và phân bố không đồng
đều.
Xây dựng cơ sở hạ tầng đã đạt được nhiều thành tựu, song còn bộc lộ một số hạn
chế chủ yếu như: Đầu tư xây dựng còn dàn trải. Huy động nội lực trong dân còn hạn chế
do thu nhập của nhân dân còn thấp. Với cơ chế đầu tư như hiện nay, tỉnh thiếu chủ động.
Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước còn thấp. Các dự án đầu tư nhỏ, thiếu các dự án đầu
tư lớn có đủ khả năng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
1.4. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN

Đợt hạn cuối 1997 đầu 1998, thiệt hại của các tỉnh miền Trung riêng về nông
nghiệp tới 1.400 tỷ đồng, chí phí cho phòng chống hạn hán lên tới gần 1.000 tỷ đồng.
Trong 5 năm gần đây, các tỉnh đồng bằng sông Hồng liên tục phải đối phó với tình trạng
hạn hán gay gắt trong vụ Đông Xuân do mực nước sông Hồng liên tục xuống thấp dưới
mức lịch sử trong vòng 100 năm qua.
Tổng thiệt hại do thiên tai (sạt lở đất, mưa to và bão lũ) ở 50 tỉnh, thành phố trong
năm 2007 ước tính lên tới trên 11.600 tỷ đồng (khoảng 1% GDP). Thiên tai đã làm 435
người chết, mất tích; làm ngập và hư hại 113.800 ha lúa; phá hủy trên 1.300 công trình
đập, cống, làm sạt lở cuốn trôi hơn 1.500 km đê và kênh mương; làm hơn 7.800 ngôi nhà
và phòng học bị sập đổ. Do ảnh hưởng của thiên tai, tình trạng thiếu đói vẫn xẩy ra: năm
2007, cả nước có 723.900 lượt hộ với 3.034.500 lượt nhân khẩu bị thiếu đói.
Dịch bệnh trên người, gia súc, gia cầm, cây trồng liên tục xẩy ra cũng có thể một
phần do biến đổi khí hậu.
2.1.2. Ảnh hưởng của BĐKH tới Việt Nam trong tương lai
Việt Nam sẽ là một trong 5 nước bị ảnh hưởng nhiều nhất của biến đổi khí hậu.
Tác động lớn nhất là do nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Biến đổi khí
hậu sẽ làm: thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng, tăng dòng chảy mùa lũ,
giảm dòng chảy mùa kiệt… Những thay đổi của môi trường tự nhiên sẽ ảnh hưởng đến
toàn bộ các lĩnh vực, ngành nghề của kinh tế - xã hội.
2.1.2.1. Tác động của BĐKH đến môi trường tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
a Thiên tai và các hoạt động thời tiết cực đoan gia tăng
Nóng lên toàn cầu gây ra những biến đổi hoàn lưu khí quyển và đại dương, đặc
biệt là hoàn lưu gió mùa và hoàn lưu nhiệt – muối dẫn đến những biến động về nhiệt độ,
lượng mưa và các hiện tượng thời tiết.
Tăng lượng bốc hơi trên lục địa và đại dương dẫn đến tăng hàm lượng ẩm trong
khí quyển và tăng hội tụ ẩm vận tải từ đại dương vào lục địa làm tăng khả năng mưa lớn
trên lục địa.
Tăng tính biến động, tính dị thường và cực đoan của các yếu tố khí hậu và hiện
tượng thời tiết như nắng, nóng, rét, bão, lũ, mưa lớn, hạn hán, lốc… đặc biệt là trong
những trường hợp liên quan đến hoạt động của El Nino, La Nina.

nhiệt của các hệ sinh thái lục địa về phái Bắc và lên cao hơn. Kết quả là các thực vật
nhiệt đới có thể phát triển xa hơn về phía Bắc và lên các độ cao hơn, trong khi các thực
vật ôn đới và á nhiệt đới bị thu hẹp lại hoặc bị mất đi nếu không thích nghi kịp.
Hệ sinh thái biển và ven biển bị thay đổi do mực nước biển dâng, nhiệt độ và độ
mặn thay đổi cùng với những thay đổi về dòng chảy, sóng, biên độ thủy triều, xâm nhập
mặn và xói lở bờ biển
Nhiệt độ tăng cùng với khô hạn có thể làm tăng các vụ cháy rừng vào mùa khô.
2.1.2.2. Tác động của BĐKH đến kinh tế - xã hội
a. Tác động đối với nông nghiệp
Nhiệt độ tăng có thể làm thay đổi cơ cấu mùa vụ và cơ cấu cây trồng ở một số nơi
do vụ mùa kéo dài hơn, trong khi vụ đông bị rút ngắn lại.
Sự gia tăng xân nhập mặn do nước biển dâng làm giảm đáng kể diện tích đất nông
nghiệp ở các vừng đồng bằng châu thổ và ven biển, nhất là đồng bằng sông Cửu Long và
đồng bằng sông Hồng – Thái Bình.
Thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan tăng lên, trong đó đáng chú ý nhất là
hạn hán, lũ lụt ở nhiều vùng, cùng với sâu bệnh, dịch bệnh phát triển.
b. Tác động đối với lâm nghiệp
Việt Nam có đa dạng sinh học (ĐDSH) cao, có các hệ sinh thái (HST) phong phú.
Tuy nhiên trong thời gian qua, do những nguyên nhân khác nhau, ĐDSH, các HST, đặc
biệt là HST rừng – HST có ĐDSH cao nhất bị suy thoái trầm trọng.
Nước biển dâng lên làm giảm diện tích rừng ngập mặn ven biển tác động xấu đến
hệ sinh thái rừng tràm và rừng trồng trên đất bị nhiễm phèn ở ĐBSCL. Trong những năm
gần đây, rừng tuy có tăng lên về diện tích, nhưng tỷ lệ rừng nguyên sinh vẫn chỉ khoảng
8% (so với 50% của các nước trong khu vực).
Nhiệt độ và lượng bốc hơi tăng cùng với hạn hán kéo dài sẽ làm thay đổi sự phân
bố và khả năng sinh trưởng của các loài thực vật và động vật rừng. Nhiều loài cây nhiệt
đới ưa sáng sẽ di cư lên các vĩ độ cao hơn và các loài cây á nhiệt đới sẽ mất dần. Số
lượng quần thể các loài động thực vật rừng quý hiếm sẽ ngày càng suuy kiệt và nguy cơ
tuyệt chủng tăng. Nhiệt độ tăng và hạn hán kéo dài sẽ làm tăng nguy cơ cháy rừng, nhất
là các rừng trên đất than bùn, vừa gây thiệt hại tài nguyên sinh vật, vừa tăng lượng phát

cảng biển, giao thông, dân dụng ở ven biển.
e. Tác động đối với sức khỏe, đời sống, nghỉ ngơi và du lịch
Hàng chục triệu người sẽ bị ảnh hưởng thường xuyên bởi ngập lụt hàng năm do
mực nước biển dang vào những năm 2080. Nguy cơ lớn nhất xẩy ra ở những vùng thấp
có mật độ dân cư cao và khả năng thích nghi kém, đặc biệt là đã và đang phải đối mặt với
những tác động khác như bão, nước dâng hoặc sụt lún địa phương.
Các cộng đồng nghèo khổ, đặc biệt là ở những vùng tập trung nhiều rủi ro sẽ bị
tổn thương nhiều nhất vì khả năng thích ứng kém và phục thuộc nhiều vào các tài nguyên
khí hậu nhạy cảm như nguồn nước và việc cung cấp thực phẩm.
Nhiệt độ tăng với những đợt nắng nóng kéo dài làm gia tăng áp lực về nhiệt đối
với cơ thể con người, làm tăng nguy cơ tử vong, nhất là đối với người già, trẻ em, những
người có bệnh tim mạch, thần kinh, những người làm việc trong hầm lò, xưởng đúc,
luyện kim …
f. Tác động của biến đổi khí hậu đến cơ sở hạ tầng kỹ thuật ven biển

Trích đoạn CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO CÁC ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ RỦI RO KHÍ HẬU
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status