ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT MIỀN ĐỒNG BẰNG TỈNH QUẢNG TRỊ PHỤC VỤ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỞNG BỀN VỮNG - Pdf 15

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Thu Hiền

ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT
MIỀN ĐỒNG BẰNG TỈNH QUẢNG TRỊ
PHỤC VỤ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH
TẾ XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỞNG BỀN VỮNG
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Ngọc Anh Hà Nội -2009

1.2.5. Y tế - Giáo dục 10

1.2.6. Mạng lưới giao thông 11

1.3.Tổng quan về nghiên cứu tài nguyên nước dưới đất tỉnh Quảng Trị 11

CHƯƠNG 2 14

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT VÀ ĐỊA CHẤT THUỶ VĂN MIỀN ĐỒNG BẰNG
TỈNH QUẢNG TRỊ 14

2.1. Đặc điểm địa chất 14

2.1.1. Địa tầng 14

2.1.2. Magma xâm nhập 26

2.1.3.Cấu trúc- Kiến tạo 28

2.2. Đặc điểm địa chất thuỷ văn 33

2.2.1. Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích bở rời đa nguồn gốc Holocen34

2.2.2. Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích nguồn gốc sông Pleistocen 36

2.2.3. Tầng chứa nước lỗ hổng - khe nứt, các thành tạo phun trào Bazan
Neogen - Đệ Tứ 40
3.3.6. Tính toán trữ lượng khai thác tiềm năng 67
3.3.7. Tính toán mô đun dòng chảy ngầm ………………………………………….67
3.4. Đánh giá chất lượng nước dưới đất miền đồng bằng tỉnh Quảng Trị 69

3.4.1. Chất lượng môi trường nước dưới đất tầng chứa nước thứ nhất miền
đồng bằng tỉnh Quảng Trị 70

3.4.2. Chất lượng môi trường nước dưới đất tầng chứa nước thứ hai miền
đồng bằng tỉnh Quảng Trị 73

3.5. Nhận xét chung 77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78 4MỞ ĐẦU

Nước là một tài nguyên rất quý giá đối với đời sống con người. Để phục vụ
cho việc quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và môi trường bền vững của cả nước
nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng, việc đánh giá tài nguyên nước là một vấn đề
vô cùng quan trọng và cấp thiết. Nó sẽ giúp cho các nhà quản lý đưa ra những quyết
định quy hoạch đúng đắn để khai thác hợp lý nhất nguồn tài nguyên này. Trong số
các nguồn tài nguyên nước thì tài nguyên nước dưới đất ở Việt Nam nói chung
thường có chất lượng tốt, được xem là nguồn dự trữ cho các nhu cầu sử dụng đặc

Tỉnh Quảng Trị được giới hạn bởi toạ độ địa lý: 16
0
18

đến 17
0
10

vĩ Bắc và
106
0
32

đến 107
0
07’ kinh độ Đông; phía Bắc giáp huyện Lệ Thuỷ của tỉnh Quảng
Bình, phía Nam giáp huyện A Lưới và huyện Phong Điền của tỉnh Thừa Thiên -
Huế, phía Tây giáp tỉnh Xavanakhet và Xaravan của nước Cộng hoà dân chủ nhân
dân Lào. Phía Đông đuợc bao bọc bởi biển Đông và đường bờ kéo dài 75 km. Đảo
Cồn Cỏ là một đảo duy nhất thuộc tỉnh Quảng Trị có diện tích 4 km
2
[4]. Hình 1.1 Giới hạn miền đồng bằng tỉnh Quảng Trị
6


- Tiểu vùng đất nhiễm mặn ở cửa Tùng : được tạo thành dưới tác động của
thuỷ triều, phân bố ở địa hình thấp.
1.1.3. Khí hậu [8, 13]
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa tương đối
7

điển hình. Trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa. Mùa khô từ tháng
XII tới tháng VIII, mùa mưa từ tháng IX tới tháng XI. Từ tháng III đến tháng VIII
chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô và nóng. Từ tháng IX đến tháng II năm sau
chịu ảnh hưởng của gió Đông Bắc đi liền với mưa phùn và rét đậm.
 Mưa
Mưa trong vùng phụ thuộc vào yếu tố địa hình trên từng lưu vực. Lượng mưa
hàng năm nằm trong khoảng 2.000 - 2.700 mm, cao hơn mức trung bình của cả
nước. Lượng mưa 3 tháng mùa mưa chiếm tới 68  70% lượng mưa năm. Tổng
lượng mưa 9 tháng mùa khô chỉ chiếm 30% tổng lượng mưa năm. Trong các tháng
mùa khô từ tháng XII đến tháng IV thường có những trận mưa rào nhẹ cách nhau từ
7 đến 8 ngày với lượng mưa trần từ 20  30mm, Giữa 2 mùa khô có 1 thời kỳ mưa
lớn là tháng V và tháng VI gọi là mưa tiểu mãn. Lượng mưa trong năm của Quảng
Trị phân bố không đều cả về không gian lẫn thời gian. Theo thống kê lượng mưa
bình quân nhiều năm của các trạm thể hiện trên bảng 1.1:
Bảng 1.1. Mưa bình quân nhiều năm (mm)
Trạm I II III IV V VI VII VIII

IX X XI XII Năm
Vĩnh Linh 129.9

83.3

509.7

695.9

456.4

188.0

2536.3
Đông Hà 48.2 34.1

30.8

60.7

119.3

83.0 65.7 163.2

388.9

683.9

429.0

175.2

2291.8
Thạch Hãn 84.3 60.7



574.3

415.7

219.6

2187.8
Hướng Hoá 83.6 61.7

47.8

97.8

191.5

171.7

148.9

219.1

585.8

778.0

227.7

95.7
2779.9

156.8

74.2 173.1

473.4

762.0

411.8

227.8

2794.3
 Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ không khí thay đổi theo mùa trong năm. Nhiệt độ bình quân nhiều
8

năm vào khoảng 24,3
o
C. Chênh lệch nhiệt độ trong ngày từ 7 tới 10
o
C. Tháng có
nhiệt độ cao nhất là tháng V và VII, khoảng 35 – 40
0
C. Tháng thấp nhất là tháng I
và II, khoảng 18
0


9

và sông Ô Lâu (Mỹ Chánh). Đặc điểm chung của các hệ thống sông là ngắn, hướng
chảy chính là Tây - Đông, độ dốc trung bình khoảng 13 – 25 m/km. Ở phần thượng
nguồn các sông phân nhánh thành các chi lưu, phụ lưu, lòng sông thu hẹp, nhiều
ghềnh thác.
+ Hệ thống sông Bến Hải: Sông Bến Hải dài 65 km, diện tích lưu vực
khoảng 809 km
2
. Sông bắt nguồn từ Động Châu có độ cao 1257 m. Các phụ lưu ở
thượng nguồn gồm có sông Sa Lung và sông Rào Thanh . Lưu lượng trung bình
năm 43,4 m
3
/s
+ Hệ thống sông Thạch Hãn: Có quy mô lớn nhất với chiều dài 155 km, diện
tích lưu vực 2660 km
2
, lưu lượng dòng chảy trung bình năm 130 m
3
/s. Hệ thống
sông Thạch Hãn có hai chi nhánh lớn là sông Hiếu (còn gọi là sông Cam Lộ) ở phía
Bắc và sông Thạch Hãn ở phía Nam, chúng gặp nhau tại ngã ba Gia Độ, đổ ra biển
qua Cửa Việt. Nhánh Thạch Hãn ở phía nam có quy mô lớn hơn bắt nguồn từ các
dãy núi lớn Động Sa Mù, Động Voi Mẹp và Động Ba Lê, Động Dang.
+ Hệ thống sông Ô Lâu: Được hợp bởi hai nhánh sông chính là Ô Lâu ở phía
Nam và sông Mỹ Chánh ở phía Bắc. Tổng diện tích lưu vực của hai sông khoảng
900km
2
, chiều dài 65 km. Sông đổ vào phá Tam Giang thuộc địa phận Thừa Thiên

, Hướng Hoá có mật độ dân là 58
người/km
2
. Dân cư trong vùng chủ yếu là người Kinh, sống tập trung ở dải đồng
bằng ven biển, các thị trấn vùng núi. Tỷ lệ người Kinh chiếm 84%, người Vân Kiều,
Pacô chiếm 10% còn lại là các dân tộc ít người khác.
1.2.2. Cơ cấu kinh tế của tỉnh
Cơ cấu kinh tế của tỉnh Quảng Trị như sau: nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
chiếm 36%, dịch vụ 38,4%, công nghiệp và xây dựng 25,6% [4].
1.2.3. Nông – lâm nghiệp
a. Trồng trọt

Theo niên giám thống kê năm 2005 của tỉnh Quảng Trị, diện tích canh tác
hiện nay trong toàn vùng là 95.792,2 ha, trong đó 73.347,6 dùng cho cây hàng năm
và 22444,6 ha dùng cho cây lâu năm
b. Chăn nuôi
Chăn nuôi trong vùng chưa phát triển, chủ yếu còn ở mức độ chăn nuôi tự
phát ở mức độ hộ gia đình. Nghành chăn nuôi mới chiếm tỷ trọng 15 – 18 % thu
nhập cho các hộ nông dân
c. Lâm nghiệp
Diện tích che phủ của thảm rừng tự nhiên hiện nay chỉ còn khoảng 40%.
Rừng nguyên thuỷ bị huỷ diệt do các lý do như: tập quán canh tác du canh du cư
của đồng bào dân tộc miền núi, chất độc da cam, nạn khai thác gỗ bừa bãi
1.2.4. Công nghiệp
Công nghiệp trong vùng còn chưa phát triển. Cơ cấu công nghiệp chủ yếu là
vật liệu xây dựng và chế biến nông lâm sản. Trong vùng có 2 nhà máy sản xuất xi
măng lò đứng.
Nguồn điện trong vùng còn hạn chế. Lưới điện quốc gia đã phát triển tới các
trung tâm huyện. Điện lưới đã tới được các xã, tuy nhiên ở miền núi các xã vùng
sâu vùng xa còn hạn chế.

đến một vài các công trình nghiên cứu nước dưới đất tiêu biểu trên địa bàn tỉnh
Quảng Trị như sau:
Trong khoảng thời gian sau chiến tranh đến giữa thập kỷ 80, Liên đoàn Địa
chất thuỷ văn và Địa chất công trình miền Trung đã triển khai một số đề án tìm
kiếm nước dưới đất chủ yếu tập trung ở vùng thị xã Đông Hà và tại Gio Linh, Hồ
Xá và các vùng phụ cận.
Năm 1982, chương trình nước tỉnh Bình Trị Thiên (khi chưa tách tỉnh) được
thành lập và bước đầu sử dụng nguồn nước dưới đất cho một số chương trình cấp
nước. Quảng Trị xây dựng được 284 giếng khoan bơm tay, cải tạo 10 giếng đào. Từ
năm 1989 đến năm 1995, Quảng Trị xây dựng được 2098 giếng khoan, 218 giếng
12

đào mới và 5 hệ cấp nước tập trung. Từ năm 1995 đến 2000, chương trình nước tỉnh
Quảng Trị đã thi công được 563 giếng khoan, 301 giếng đào và 9 chương trình cấp
nước tập trung [2,3,6,7,8].
Tuy nhiên, nhìn chung các nghiên cứu đó mới chỉ tập trung vào tìm kiếm các
nguồn nước phục vụ cấp nước sinh hoạt và một số nhà máy, xưởng công nghiệp có
quy mô nhỏ. Mặt khác, các nghiên cứu đó mới chỉ mang tính cục bộ, và chưa thể
hiện được các tiềm năng nước dưới đất trên địa bàn tỉnh mặc dầu các kết quả đo
đạc, quan trắc là những tài liệu quý giá cho các nghiên cứu sau này. Tại Quảng Trị
đã có một số dự án thăm dò nước dưới đất được thống kê dưới bảng sau [2]:

Bảng 1.3: Một số dự án điều tra nước dưới đất tại Quảng Trị
Tên các báo cáo
Mức độ nghiên
cứu
Diện tích

8. Thăm dò kết hợp khai thác vùng Cửa Tùng công
suất 500 m
3
/ng
Thăm dò khai
thác
2003

Từ những năm 2000 trở về gần đây, có những đề án nghiên cứu về nước dưới
đất có quy mô trong đó đáng kể là :
+ Nghiên cứu «Quy hoạch tổng thể cấp nước sạch và vệ sinh môi trường
nông thôn tỉnh Quảng Trị» do Nguyễn Văn Lâm thực hiện vào năm 2000 [6]. Trong
nghiên cứu này, Nguyễn Văn Lâm đã kế thừa các số liệu quan trắc trước đây, sơ bộ
đánh giá các nguồn nước sạch trên các khu vực nông thôn tỉnh Quảng Trị, từ đó đề
13

xuất quy hoạch khai thác nước phục vụ chủ yếu nhu cầu sinh hoạt và vệ sinh môi
trường nông thôn tỉnh Quảng Trị. Trong nghiên cứu này, do vậy, chưa chú trọng
nhiều đến việc tính toán tiềm năng nước dưới đất một cách có hệ thống, do vậy
chưa là cơ sở để xây dựng các quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi
trường bền vững.
+ Năm 2002, Đoàn Văn Cánh và Lê Tiến Dũng đã hoàn thành công trình
«Tài nguyên nước dưới đất tỉnh Quảng Trị», trong đó đóp góp đáng kể nhất là đã
xây dựng được bản đồ địa chất thủy văn tỉnh Quảng Trị tỷ lệ 1:100.000, đã sơ bộ
tiến hành phân vùng để đánh giá chung về mức độ dồi dào cho từng tiểu vùng. Tuy
nhiên, việc phân vùng đó dựa theo ranh giới hành chính các xã, chưa chú trọng và
gắn liền với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn, do vậy cần có các

1
kđ )
Hệ tầng Núi Vú ( PR
3
- €
1
nv )
Hệ tầng Núi Vú lộ ra ở khu vực xã A Bung, Hồng Thuỷ. Các diện lộ này
được các nhà địa chất đo vẽ bản đồ địa chất tỷ lệ 1:50 000 phát hiện và xác lập năm
1994, 1997. Trên bình đồ diện lộ của hệ tầng được khống chế bởi các hệ thống đứt
gãy phương Tây Bắc – Đông Nam, bị các trầm tích trẻ hơn của hệ tầng A Ngo và hệ
tầng Đakrông phủ bất chỉnh hợp, đặc biệt bị xuyên cắt bởi các đá granit trẻ hơn tuổi
Paleozoi. Tổng diện tích lộ trên bình đồ khoảng hơn 100 km
2

Thành phần thạch học của các mặt cắt của hệ tầng Núi Vú bao gồm một khối
lượng rất lớn các đá xẫm màu ( phiến lục, đá phiến amphibol, đá amphibolit ) đi
cùng với đá phiến thạch anh, đá phiến kết tinh, đá phiến sericit và quarsit.
Hệ tầng Tiên An (PR
3
- €
1
ta)
Hệ tầng Tiên An hiện diện ở hai diện lộ chính và hàng loạt diện lộ nhỏ khác
ở phía nam đứt gãy Động Phượng – Làng Miệt – Tà Long.
Mặc dù bị ngăn cắt và phá huỷ bởi các thành tạo địa chất trẻ hơn vẫn thấy được
một quy luật chung về thành phần vật chất, thành phần thạch học và kiểu biến chất. Về
thành phần thạch học chúng bao gồm một tập hợp các đá biến chất tiêu biểu: đá phiến kết
diorite porphyrit.
Phân hệ tầng trên (€
2
- O
1
av
2
) bao gồm các đá phiến thạch anh – sericit xen
các lớp đá phiến thạch anh – felspat – hai mica, các lớp đá phiến có granat, lớp đá
hoa phlogopit nguồn gốc từ các trầm tích carbonat chính là tiêu chí để nhận dạng
địa tầng đang xem xét. Cũng như các diện lộ ở A Vương thuộc phân hệ tầng dưới,
các đá phiến lục được mô tả ở Làng Vây thuộc phân hệ tầng trên rất hạn chế về quy
mô kích thước.
Hệ Ordovic – Silur
Hệ tầng Long Đại (O
1
- S
1
lđ)
Hệ tầng Long Đại được xác lập trên cơ sở mặt cắt theo dòng sông Long Đại
thuộc tỉnh Quảng Bình với sưu tập hoá thạch Bút Đá tuổi Ordovic – Silur sớm (A.E.
Dovjicov và nnk – 1965). Hệ tầng có diện phân bố rất rộng rãi, ở phạm vi phía Bắc
đứt gãy Động Phượng – Làng Miệt – Tà Long. Phía Nam đứt gãy này, địa tầng hoàn
16

toàn vắng mặt. Theo các đặc điểm cấu trúc tướng đá có thể phân thành:
Phân hệ tầng dưới (O

Đầu Mẫu. Tuy nhiên không phải tại diện lộ nào cũng tìm thấy các đá carbonat đánh
dấu.
Phân hệ tầng trên (O
1
- S
1

4
) phân bố với diện lộ không lớn. Thành phần bao
gồm đá phiến thạch anh – sericit – clorit màu xám lục xen kẽ các lớp cát bột kết
phân lớp dày.
Nhìn chung các thành tạo thuộc hệ tầng Long Đại có cấu trúc phân nhịp khá
rõ, bao gồm các trầm tích lục nguyên xen kẽ với các trầm tích sét, rất ít carbonat,
vắng mặt đá phun trào. Chúng bị biến chất không đều trong phạm vi tướng phiến
argilit hoặc phần đầu của tướng phiến lục.
Hệ Silur, thống thượng
Hệ tầng Đại Giang (S
2
đg)
Hệ tầng Đại Giang do A.M.Mareixep xác lập năm 1965 với tuổi Silur. Ông
cho rằng hệ tầng Đại Giang có quan hệ chuyển tiếp trên thành tạo flysơ hệ tầng
Long Đại. Tuy nhiên các tài liệu gần đây của các nhà địa chất Cục địa chất và
khoáng sản Việt Nam lại cho thấy hệ tầng Đại Giang có quan hệ phủ bất chỉnh hợp
lên trên hệ tầng Long Đại (Vũ Mạnh Điển 1998).
17

Trên bản đồ, hệ tầng Đại Giang được phân làm hai phân hệ tầng với quan hệ

1
). Mặt cắt rõ nhất ở Tà Phương trên đường đi từ Tà
Rùng đến thôn A Xốc. Tại đây thấy các lớp cuội dăm kết phân bố rộng rãi với chiều
dài 100m. Đá có màu đỏ, màu gạch cua hoặc cặn rươi vàng. Chuyển lên trên là các
đá cát kết, bột kết màu xám tím, chiều dày 100 – 300m
Phân hệ tầng trên (D
1
tl
2
). Mặt cắt rõ nhất được quan sát dọc suối Ta Loau.
Đoạn mặt cắt này bị kẹp giữa hai đứt gãy lớn thuộc hệ thống đứt gãy ĐakRông – A
Lưới phương Tây Bắc – Đông Nam. Toàn bộ mặt cắt quan sát thấy các đá cát bột
kết màu đỏ, tím có xen các lớp sét mỏng cùng màu tím. Chiều dày của mặt cắt vừa
mô tả khoảng 1000-1200m. Chúng có quan hệ hệ kiến tạo với các đá sét bột kết
màu xám đen của hệ tầng Long Đại ở phía bắc và các đá phiến sericit, quarsit của
hệ tầng A Vương ở phía nam.
Hệ Devon, thống trung - thượng
18

Hệ tầng Cù Bai (D
2 – 3
cb)
Hệ tầng Cù Bai do Nguyễn Xuân Dương xác lập năm 1971 để chỉ cho các đá
carbonat mà A.E.Dovjicov và các đồng nghiệp (1965) đã mô tả là trầm tích Giveti –
Frasini. Ở Quảng Trị, hệ tầng Cù Bai bao gồm các loại đá vôi, dolomit dolomit vôi
có quan hệ chỉnh hợp với hệ tầng Tân Lâm. Hệ tầng Cù Bai bị các đá cuội kết và sắt
cấu tạo trứng cá của hệ tầng Cam Lộ phủ bất chỉnh hợp. Các diện lộ tiêu biểu được

19

Tập 6: Cát bột kết xen sét kết, dày 50m
Tập 7: Sét vôi màu xám tro, dày 40m
Tập 8: Sét kết màu xám tro, dày 40m
Chiều dày tổng thể 400-450m
Giới Mezôzoi
Hệ Triat, thống trung
Hệ tầng Động Hà (T
2
đh)
Trên bình đồ và mặt cắt, các đá của hệ tầng Động Hà cắm dốc nghiêng về
phía Bắc với góc dốc 50 – 70
0
, gồm các đá trầm tích lục nguyên, ít đá phiến sét và
có mặt các đá phun trào acit dưới dạng các đai mạch hoặc thấu kính. Theo thành
phần có thể phân thành hai phân hệ tầng dưới và trên có quan hệ chuyển tiếp. Phần
dưới chủ yếu gồm các đá hạt thô đến trung, phần trên phong phú các đá hạt mịn đi
cùng phun trào acit.
Hệ Jura, thống hạ-trung
Hệ tầng A Ngo (J
1-2
an)
Hệ tầng A Ngo có diện phân bố rộng trong phạm vi các tờ Hương Hoá, Pa
Nang. Theo các đặc điểm thạch học, hệ tầng A Ngo được phân làm 3 phân hệ tầng
với quan hệ chuyển tiếp.
Phân hệ tầng dưới (J

3
- K
1
đr)
Trong phạm vi hệ tầng chỉ có thành phần các đá phun trào và tuf. Tất cả các
trầm tích lục nguyên màu đỏ đều được liên hệ với hệ tầng A Ngo có tuổi cổ hơn.
Diện lộ lớn nhất của hệ tầng chỉ còn lại ở khu Xi Pa, các diện tích khác như La
Sam, ngọn Đakrông diện lộ hẹp dưới dạng các thấu kính nhỏ. Thành phần thạch học
của hệ tầng bao gồm các đá phun trào andesit dacit, các đá silic núi lửa.
Hệ Kreta
Hệ tầng Mụ Gia (K mg )
Thuộc phạm vi tỉnh Quảng Trị, hệ tầng Mụ Gia có mặt hai diện tích hẹp ở
đoạn làng Miệt. Tổng diện tích lộ trên bình đồ khoảng 7-10km
2
.
Thành phần thạch học bao gồm cuội kết cơ sở màu hồng nhạt, cát kết hạt lớn,
cát sạn kết xám tím. Tổng chiều dày trung bình của hệ tầng Mụ gia trong khu vực
Quảng Trị khoảng 180m đến 250m.
Giới Kainozoi
Hệ Neogen
Hệ tầng Gio Việt ( N gv )
Hệ tầng Gio Việt phân bố trong đồng bằng Quảng Trị, bị phủ dưới các trầm
tích Đệ Tứ. Bề dày trầm tích tăng dần từ rìa đồng bằng ra biển, dao động từ 8m đến
132,2m. Rất có thể, những diện lộ trầm tích sét có màu đỏ ở vùng Hồ Xá hiện nay
lộ trên bề mặt địa hình với quy mô khá lớn là một bộ phận của hệ tầng Gio Việt.
Mặt cắt đầy đủ gồm hai nhịp trầm tích. Nhịp dưới gồm cát kết chứa cuội, cát kết
màu xám chuyển lên sét kết màu xám tro, bị phong hoá thành màu nâu, đỏ gạch,
dày 20-40m. Nhịp trên cũng được bắt đầu bởi các lớp hạt thô như cát kết chứa cuội
sỏi màu xám vàng, xám trắng loang lổ, chuyển lên sét bột kết màu xám đen, xám
vàng loang lổ lẫn nhiều vật chất hữu cơ hoá than. Trầm tích hệ tầng Gio Việt có cấu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status