Khai thác giá trị tri thức bản địa người thái phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội ở các khu tái định cư thuộc dự án thuỷ điện sơn la - Pdf 13


Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
WX
báo cáo tổng kết đề tài khoa học cấp bộ
năm 2007
M số: B07 - 25

Khai thác giá trị tri thức bản địa ngời Thái
phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - x hội
ở các khu tái định c
thuộc dự án thuỷ điện Sơn la

Cơ quan chủ trì: Học viện Chính trị khu vực I
Chủ nhiệm đề tài: Th/s. Nguyễn Thị Thanh Huyền
Th ký: Th/s. Nguyễn Việt Phơng
6810
17/4/2008

Hà Nội - 2007
Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
WX


cl
l


c
c
T
T
r
r
a
a
n
n
g
gM
M


1
:
:V
V

ịt
t
r
r
í
í
,
,

t
t


m
m



v
v
i
i


c
ck
k
h
h
a
a
i
it
t
h
h
á
á
c
c



c
cb
b


n

đ


a
an
n
g
g




i

y
ê
ê
u
uc
c


u
up
p
h
h
á
á
t
tt
t
r
r
i

h
h


i
iở
ởc
c
á
á
c
ck
k
h
h
u
u


u


c
cd
d

ựá
á
n
nT
T
h
h
u
u

ỷđ


1
1
.
.
1
1
.
.M
M


t
ts
s

ốk
k
h
h
á

n
g
g

ữl
l
i
i
ê
ê
n
nq
q
u
u
a
a
n
n9
9


i
á
át
t
r
r

ịc
c
ơ
ơb
b


n
nc
c



đ
đ


a
an
n
g
g




i
iT
T
h
h
á
á
i
i


p
h
h
á
á
t
tt
t
r
r
i
i


n
nk
k
i
i
n
n
h
h


c
á
á
c
ck
k
h
h
u
ut
t
á
á
i

đ


n
n
h

N
h
h


n
n
g
gy
y
ê
ê
u
uc
c


u
uc
c
ơ

h
á
á
c
cg
g
i
i
á
át
t
r
r

ịt
t
r
r
i
i


g




i
iT
T
h
h
á
á
i
ip
p
h
h


c
cv

tt
t
r
r
i
i


n
nk
k
i
i
n
n
h
ht
t
ế
ế



k
k
h
h
u
ut
t
á
á
i

đ


n
n
h
hc
c


h
u
u

ỷđ
đ
i
i


n
nS
S
ơ
ơ
n
nL
L
a
a


h


c
ct
t
r
r


n
n
g
gk
k
h
h
a
a
i
it

it
t
h
h


c
cb
b


n

đ


a
an


v
v

ụy
y
ê
ê
u
uc
c


u
up
p
h
h
á
á
t


-
-x
x

h
h


i
iở
ởc
c
á
á
c
c


t
t
h
h
u
u


c
cd
d

ựá
á
n
nT
T
h


4
4
6
6
2
2
.
.
1
1
.
.T
T
ì
ì
n
n
h
h


á
i

đ


n
n
h
hc
c

p
p
h
h


c
c


ơ
n
nL
L
a
a4
4
6
6
2
2
.
.
2
2
.
.


it
t
h
h
á
á
c
ct
t
r
r
i
it
t
h
h


c
c


T
h
h
á
á
i
ip
p
h
h


c
cv
v

ụp
p
h
h
á

ế-
-x
x
ã
ãh
h


i
iở
ởc
c
á
á
c

c

t
t
h
h
í
íđ
đ
i
i


m
mt
t
h
h
u
u


i


n
nS
S
ơ
ơ
n
nL
L
a
a5
5
2
2
â
n
nv
v
à
àb
b
à
à
i
ih
h


c
ck
k
i

h


ơ
ơ
n
n
g
g3
3
:
:P
P
h
h


ơ
ơ
n
n
g
g


p
h
h
á
á
p
pc
c
ơ
ơb
b


n
nk
k
h
h
a
a
i

t
r
r
i
it
t
h
h


c
cb
b


n

đ


a


c
cv
v

ụy
y
ê
ê
u
uc
c


u
up
p
h

t
ế
ế-
-x
x

h
h


i
iở
ởc
c
á


c
c

t
t
h
h
u
u


c
cd
d

ựá
á
n
n


L
a
a9
9
0
0
3
3
.
.
1
1
.
.P
P
h
h



3
3
.
.
2
2
.
.M
M


t
ts
s

ốg
g
i
i


9
1
1
3
3
.
.
3
3
.
.K
K
i
i
ế
ế
n
nn

u


n
n1
1
1
1
3
3P
P
h
h

ụl
l


c
c


h
a
a
m
mk
k
h
h


o
o1
1
2
2
2
2 1
Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, gắn liền với xây

các khu TĐC không những không đa lại hiệu quả kinh tế - xã hội nh mong
muốn, mà nhiều khi còn làm đảo lộn đời sống c dân và những hệ luỵ gắn liền
với đảo lộn ấy. Điều đó không còn ở dạng khả năng mà đã trở thành hiện thực
khi hàng trăm hộ TĐC nuôi bò sữa ở Mộc Châu thất bại; khi nhiều mô hình
sản xuất hàng hoá đổ bể, cuộc sống trên vùng đất mới rơi vào vòng lao đao;
nhiều giá trị văn hoá truyền thống và tri thức bản địa bị mai một. Những tổn
thơng về vật chất và tinh thần đó đã khiến cho gần đây đã có 300 hộ gia đình
thuộc nhiều dân tộc khác nhau đã rời bỏ khu TĐC trở về quê hơng, bản
quán
Một trong nguyên nhân của những bất cập ấy là thiếu những nghiên cứu
cơ bản về văn hoá tộc ngời, tập quán canh tác, phơng thức sản xuất, những
giá trị tri thức bản địa của các dân tộc để vận dụng trong xây dựng, quy
hoạch các khu TĐC. Chúng ta đã áp dụng mô hình sản xuất hàng hoá cho
cộng đồng c dân cha hề có quá trình chuẩn bị thích ứng với nó, tạo nên sự
đứt gãy về phơng thức sản xuất. Các khu TĐC với quy hoạch chi tiết cả
diện tích canh tác lẫn phơng thức sản xuất, trên thực tế đã tách rời con ngời
với không gian c trú, không gian sinh tồn (ruộng đất, vốn rừng, thảm thực
vật, sông suối) và những tập quán canh tác gắn với điều kiện tự nhiên ấy
vốn đã song hành cùng với c dân bản địa từ bao đời nay.Trong môi trờng,
điều kiện sinh tồn và canh tác truyền thống ấy, cộng đồng c dân đã đúc kết
đợc hệ thống tri thức bản địa phản ánh những hiểu biết của mình về tự nhiên
(sinh quyển, thảm thực vật, nguồn nớc, vốn rừng). Trong hệ thống tri thức
đó thì tri thức bản địa của ngời Thái chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng bởi
số lợng c
dân lớn nhất ở Tây Bắc, bởi trình độ phát triển cao hơn và có ảnh
hởng lớn đến các dân tộc thiểu số có dân số ít hơn trong vùng, bởi chiếm tỷ
lệ đa số trong 12 dân tộc thuộc đối tợng phải di dời đến các khu TĐC (chiếm
55.15% trong tổng số dân tái định c). Hệ thống tri thức bản địa đó đã trở
thành nếp cảm, nếp nghĩ của đồng bào, hàm chứa trong đó những giá trị tổng
kết quan trọng về điều kiện tự nhiên và xã hội, nếu thiếu hiểu biết về nó và vận

Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1987; Cầm Trọng - Phan Hữu Dật: "Văn Hoá Thái
Việt Nam", Nxb. Văn hoá Dân tộc, Hà Nội, 1995; GS.TS Trần Văn Bính (chủ
biên): "Văn hoá các dân tộc Tây Bắc - Thực trạng và những vấn đề đặt ra",
Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004; PGS.TS Lê Nh Hoa (chủ biên): "Văn
hoá ứng sử các dân tộc Việt Nam", Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội 2002;
4
GS.TS Trần Văn Bính (chủ biên): "Văn hoá các dân tộc Tây Bắc - Thực trạng
và những vấn đề đặt ra", Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; GS.TS Phan
Hữu Dật (chủ biên): "Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến
mối quan hệ dân tộc hiện nay", Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001,
Thứ hai; Các bài viết, đề tài nghiên cứu cụ thể về bản sắc văn hoá một
số dân tộc thiểu số Việt Nam, dân tộc Thái ở khu vực Tây Bắc Việt Nam
trong thời kỳ cả nớc quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Tiêu biểu nh: Phạm
Văn Đồng "Góp phần nghiên cứu bản lĩnh bản sắc các dân tộc Việt Nam",
Nxb Khoa học Xã Hội, Hà Nội, 1979; Trần Quốc Vợng - Cẩm Trọng: "Sự
tham gia của văn hoá Thái vào sự hình thành và phát triển văn hoá Việt
Nam" - Báo cáo khoa học trình bày tại Hội nghị Quốc tế Thái học lần thứ II,
Băng cốc tháng 8-1983 (bản tiếng Anh); Trần Quốc Vợng Cầm Trọng:
"Thái Đen, Thái Trắng và sự phân bố c dân Tày - Thái cổ ở Việt Nam,
Nghiên cứu Lịch sử số 236; Cầm Trọng "Từ những tên gọi của từng dân tộc
trong cộng đồng ngôn ngữ Tày - Thái chúng ta có thể nghiên cứu gì về nguồn
gốc của họ ?", Tạp chí Dân tộc học, số 4 năm 1992
Những công trình này đề cập tơng đối chi tiết những thay đổi về các
phong tục, tập quán, luật tục, những u điểm, hạn chế, những thống kê cụ thể
về dân c, trình độ kinh tế, thái độ, cách làm của các cấp chính quyền đối và
thực trạng của khu vực Tây Bắc, nhất là các khu vực TĐC nhằm phục vụ các
công trình xây dựng lớn của đất nớc trong thời kỳ mới. Trên cơ sở đó đề xuất
một số các giải pháp, kiến nghị nhằm ổn định đời sống vật chất cũng nh tinh
thần của c dân. Tuy nhiên, mức độ đó chỉ dừng lại ở việc chỉ ra những thay
đổi mà cha đi sâu vào nguyên nhân, bản chất của sự thay đổi.

việc nói về thực trạng văn hoá ngời Thái tại các khu dân c mới không nhiều.
Hơn nữa, điều dễ nhận thấy là cha có công trình đa ra những dự báo về việc
gìn giữ và phát huy những giá trị tri thức bản địa ngời Thái ở các khu dân c
mới trong tơng lai.
Thứ t, một số bài báo, tạp chí đăng tải thông tin sơ bộ về việc triển
khai các kế hoạch xây dựng Nhà máy Thuỷ điện Sơn La, trong đó có kế
hoạch tổng thể xây dựng các điểm TĐC cho cộng đồng c dân thuộc đối
tợng di dời khỏi lòng hồ Sông Đà. Những bản kế hoạch và bản báo cáo này
cung cấp các thông tin về kế hoạch xây dựng nhà máy, thiết kế khu TĐC và
ảnh hởng của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội ở Tây Bắc.
6
Tuy vậy, đến nay vẫn cha có nghiên cứu chuyên biệt về Khai thác giá
tri thức bản địa ngời Thái phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở các
khu TĐC thuộc dự án Thuỷ điện Sơn La. Do đó, việc thực hiện đề tài này là
rất cần thiết xét trên cả ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
6. Mục tiêu của đề tài
- Khảo sát, đánh giá thực trạng khai thác tri thức bản địa ngời Thái
trong quá trình chuyển đổi hoạt động kinh tế - xã hôi từ địa bàn truyền thống
đến các khu TĐC thí điểm thuộc dự án Thuỷ điện Sơn La.
- Đề xuất phơng hớng và giải pháp khai thác giá trị tri thức bản địa
ngời Thái phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế ở các khu TĐC thuộc dự án
Thuỷ điện Sơn La, nhất là điều chỉnh những bất cập gần đây và đảm bảo phát
triển bền vững trong thời gian tới.
7. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
7.1. Về nội dung
+ Tri thức bản địa của các đối tợng khu TĐC rất đa dạng, thuộc nhiều
dân tộc thiểu số khác nhau, đề tài chỉ nghiên cứu tri thức bản địa của ngời
Thái.
+Tri thức bản địa của ngời Thái rất phong phú bao gồm những hiểu biết
về tự nhiên, xã hội và t duy con ngời, đề tài chỉ nghiên cứu những giá trị tri

biệt là chính sách phát triển sản xuất ở các vùng TĐC thuộc quy hoạch Thuỷ
điện Sơn La.
- Phơng thức nghiên cứu định lợng: phơng pháp này đợc sử dụng
trong thu thập các thông tin cần thiết về thực trạng việc khai thác những giá trị
tri thức bản địa phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội ở các vùng TĐC
của ngời Thái thuộc dự án Thuỷ điện Sơn La. Để định lợng đợc vấn đề
nghiên cứu, kỹ thuật đợc sử dụng chủ yếu là tiến hành lập các phiếu điều tra
bằng bảng hỏi các thông tin có liên quan đến nội dung nghiên cứu.
- Phơng thức nghiên cứu định tính: đợc sử dụng để xây dựng các câu
hỏi mở, tìm kiếm các nguồn thông tin ẩn thông qua nghiên cứu tổng hợp,
phỏng vấn sâu theo cá nhân hoặc từng nhóm tập trung về những vấn đề liên
quan đến đề tài.
- Phơng pháp chuyên gia, chuyên khảo: thông qua các cuộc hội thảo,
các cuộc toạ đàm, phỏng vấn các nhà khoa học, các chuyên gia có kiến thức lý
luận và thực tiễn để thu nhập thông tin và ý kiến đánh giá về công cuộc TĐC
thuộc dự án Thuỷ điện Sơn La.
- Phơng pháp thống kê toán học: phơng pháp này đợc sử dụng để xử
lý các số liệu, kết quả điều tra, khảo sát. 8
Chơng 1
Tri thức bản địa ngời Thái và tầm quan trọng của việc khai
thác giá trị tri thức bản địa ngời Thái phục vụ yêu cầu phát triển
kinh tế x hội ở các khu tái định c thuộc dự án Thuỷ điện Sơn La

1.1. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan

1.1.1. Tri thức bản địa
Khái niệm Tri thức bản địa đợc dùng lần đầu tiên trong một ấn

Hà Nội, 2006, tr 36.

9
chay và nếp nhà truyền thống. Tục lệ còn đóng vai trò quan trọng hơn trong
nhiều hoạt động xã hội có tác động đến quản lý tài nguyên thiên nhiên đại
phơng. Tục lệ cũng có thể quy định quy chế khác nhau nh: nguồn nớc nào
đợc phân phối cho hệ thống tơi tiêu ở vùng cao, ai đợc phép hoạt động ở
khu rừng nào, bao nhiêu súc vật có thể chăn thả ở những đồng cỏ riêng, kỹ
thuật canh tác nào đợc chấp nhận.
(1)
. Công trình nghiên cứu Recording and
using indigenous knowledge (Phơng pháp thu thập và sử dụng kiến thức bản
địa) của Viện quốc tế tái thiết nông thôn cho rằng: Kiến thức bản địa là
những kiến thức do ngời dân của một cộng đồng phát triển trong nhiều năm
và hiện vẫn đang tiếp tục phát triển kiến thức này:
- Dựa vào kinh nghiệm.
- Đã đợc thử nghiệm qua nhiều thế kỷ áp dụng.
- Phù hợp với văn hóa và môi trờng của từng địa phơng.
- Thay đổi theo cuộc sống của ngời bản xứ.
Kiến thức bản địa không chỉ đơn thuần là kiến thức của một số bộ tộc
hay nhóm ngời bản xứ của một vùng (châu Mỹ la tinh gọi là indigenas). Kiến
thức bản địa cũng không chỉ giới hạn trong khu vực dân c nông thôn. Chính
xác hơn, kiến thức bản địa thuộc sở hữu tất cả các cộng đồng: nông thôn và
thành thị, định c và du c, ngời bản xứ và ngời di c đến. Kiến thức bản
địa còn đợc gọi với những cái tên khác (hay là những khái niệm gần gũi hơn)
nh kiến thức địa phơng, kiến thức kỹ thuật bản địa, kiến thức truyền
thống
(2)
.
Trong những năm gần đây ở Việt Nam, cụm từ tri thức bản địa

tri thức bản địa là hệ thống tri thức của các cộng đồng dân c bản địa ở các
quy mô lãnh thổ khác nhau. Tri thức địa phơng đợc hình thành trong quá
trình lịch sử lâu đời, qua kinh nghiệm ứng xử với môi trờng xã hội, đợc định
hình dới nhiều dạng thức khác nhau, đợc truyền từ đời này sang đời khác
qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành xã hội. Nó hớng đến việc
hớng dẫn và điều hòa các quan hệ xã hội, quan hệ giữa con ngời và thiên
nhiên
(1)
.
+ GS.TS Ngô Đức Thịnh cho rằng: Tri thức bản địa là toàn bộ những
hiểu biết của con ngời về tự nhiên, xã hội và bản thân, hình thành và tích luỹ
trong quá trình lịch sử lâu dài của cộng đồng, thông qua trải nghiệm trong quá
trình sản xuất, quan hệ xã hội và thích ứng môi trờng. Nó tồn tại dới nhiều
hình thức khác nhau và truyền từ đời này sang đời khác bằng trí nhớ và thực
hành xã hội. Tri thức bản địa gồm các lĩnh vực sau: tri thức về tự nhiên và môi
trờng (kể cả vũ trụ); tri thức về bản thân con ngời (cơ thể học, dỡng sinh,

91)
Lê Trọng Cúc: Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002, tr 215.
11
trị bệnh); tri thức về sản xuất, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên
thiên nhiên; tri thức về ứng xử xã hội và quản lý cộng đồng; tri thức về sáng
tạo nghệ thuật
(1)
.
+ TS Nguyễn Duy Thiệu cho rằng tri thức bản địa là một dạng thức văn
hóa đặc biệt - văn hóa phi vật thể: Tri thức dân gian là một phức hệ những
kinh nghiệm đợc truyền từ đời này sang đời khác. Nó cũng đợc hình thành
trong thế ứng xử giữa hoạt động của con ngời với môi trờng tự nhiên để
kiếm sống. Tri thức dân gian cũng chỉ tồn tại trong từng điều kiện môi trờng

văn hóa với phát triển ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999, tr 206 - 207.
(3)
Phạm Quang Hoan: Tri thức địa phơng của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, in trong: Dân tộc học
Việt Nam thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Khoa học xã hội, tr 87.
12
dụng các kiến thức hiện đại vào cuộc sống thờng ngày của họ. Dần dần thông
qua sự kết hợp này, các kiến thức mới cũng đợc ngời dân địa phơng hóa
cho phù hợp với điều kiện môi trờng sống của họ và trở thành các kinh
nghiệm của họ. Do đó, tri thức của ngời nông dân luôn ở trạng thái động,
thay đổi thông qua sự sáng tạo và đổi mới của ngời dân địa phơng cũng nh
trong mối liên hệ với các hệ thống tri thức khác
(1)
.
Tóm lại, Tri thức bản địa là tri thức đợc hình thnh trong quá trình lịch
sử lâu di, qua kinh nghiệm ứng xử của con ngời với môi trờng v xã hội;
đợc lu truyền từ đời này qua đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và
thực hnh xã hội. Tri thức bản địa chứa đựng trong tất cả các lĩnh vực của
cuộc sống xã hội nh sản xuất lơng thực, thực phẩm, chăn nuôi; cất trữ v
chế biến thức ăn; thu hái, sử dụng cây thuốc và cách chữa bệnh; truyền thụ
kiến thức qua các thế hệ trong giáo dục; bảo vệ, quản lý và khai thác hợp lý
các nguồn tài nguyên thiên nhiên; tổ chức quản lý cộng đồng, giá trị xã hội,
các luật lệ truyền thống trong lng bản
Khác với tri thức hàn lâm (Academic Knowledge) đợc hình thành
chủ yếu qua các nhà thông thái, đợc hệ thống hoá và truyền lại qua học vấn
và sách vở. Tri thức bản địa đợc hình thành, tồn tại và phát triển trong quá
trình lao động sản xuất, ứng xử với môi trờng tự nhiên và xã hội của mọi
thành viên trong cộng đồng, đợc bổ sung, hoàn thiện dần dần, đợc truyền từ
đời này sang đời khác thông qua nhiều hình thức nh phổ biến kinh nghiệm,
ca hát, câu đố, những tập tục, thói quen
Tri thức bản địa (tri thức địa phơng) và tri thức khoa học đều là những

những nhà khoa học, lao động gián
tiếp.
- ít quan tâm đến thành quả thực
tiễn, quan tâm nhiều đến sự trả lơng.
- Tính khái quát cao, phạm vi
rộng.
- Thử nghiệm bằng thí nghiệm,
cha qua áp lực của chọn lọc tự nhiên
nên độ tin cậy còn bị hạn chế.
Nh vậy, tri thức bản địa có những đặc điểm sau:
- Tri thức bản địa đợc hình thành trong lòng cộng đồng.
- Tri thức bản địa vốn có ở một vùng địa lý và văn hóa nhất định.
- Tri thức bản địa là kiến thức về các vấn đề cơ bản nh sản xuất, cuộc
sống của ngời và vật, quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên.
- Tri thức bản địa là cơ sở cho các quyết sách về các chiến lợc sinh tồn.
- Tri thức bản địa không đợc ghi lại bằng văn bản một cách có hệ thống,
có tính truyền khẩu và tính địa phơng.
- Tri thức bản địa có tính động dựa trên sự đổi mới, thích nghi và đúc rút
kinh nghiệm.
2. Giá trị tri thức bản địa
Nghiên cứu những giá trị tri thức bản địa tức là nghiên cứu những tri
thức, kinh nghiệm có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển kinh tế xã hội,
phát triển văn hoá, phát triển con ngời của một cộng đồng ngời nhất
định.
14
Việc nghiên cứu về những giá trị cơ bản tri thức bản địa của các tộc
ngời thiểu số ở nớc ta chủ yếu tập trung vào các khía cạnh sau đây:
- Tri thức địa phơng trong sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp.
- Tri thức địa phơng về sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên
nhiên, bao gồm rừng, đất đai và nguồn nớc.

Qua các thế hệ xây dựng bản, mờng với sức lao động sáng tạo của
mình, ngời Thái đã tạo ra một địa vực c trú ổn định. Trừ một số ngời sống
lẻ tẻ xen lẫn với các tộc ngời anh em khác ở vùng rẻo giữa và rẻo cao, hầu
hết họ sống tập trung trong các thung lũng, bình nguyên lòng chảo hay vùng
cao nguyên mà ngày nay ta vẫn gọi chung là vùng thấp.
Tuy là c dân có nền kinh tế chính là nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa
nớc nhng quá trình sinh sống, lao động sản xuất, Ngời Thái ở Sơn La nói
riêng và ngời Thái ở Tây Bắc nói chung sáng tạo ra nhiều phơng pháp canh
tác để thích nghi với địa hình, thổ nhỡng rất phức tạp với 21 loại đất đai khác
nhau. Để duy trì hoạt động kinh tế, canh tác nông nghiệp, ngời Thái đã sớm
tích luỹ cho mình nhiều kinh nghiệm tri thức về chọn lựa, phân loại đất trồng
trọt với nhiều phơng pháp khác nhau. Phơng pháp chọn đất bằng cách nhìn
màu của đất đã đợc đúc kết bằng câu tục ngữ: đất đen trồng da, đất đỏ
trồng bông (đin đăm pú teng, đin đeng pú khẩu). Đất trồng da có thể trồng
đợc một số loại đậu, rau xanh và đất trồng bông thì thông thờng có thể
trồng lúa đợc. Đất màu đỏ sẫm gọi là đin cắm khôn phán theo họ thì trồng
gì cũng đợc ăn. Ngời Thái còn lựa chọn đất canh tác bằng cách dùng dao
chém đất hoặc lấy thuổng chọc xuống rồi nhổ lên. Đất có thể trồng trọt đợc
thờng bám trên lỡi dao hoặc thuổng. Nhờ phơng pháp này, đồng bào có thể
xác định đợc đất có độ ẩm cao, hay thấp tức là có thể trồng trọt đợc hoặc
không. Ng
ời Thái còn dùng cả phơng pháp nếm đất để thử độ chua, độ đậm
của đất. Nhng phơng pháp này rất khó đòi hỏi phải có nhiều kinh nghiệm
canh tác nên chỉ có các lão nông trong bản mới dùng. Phơng pháp chọn đất
đợc ngời Thái dùng phổ biến hơn cả là nhìn thực vật nơi đất định chọn. Ví
dụ nh đất trồng ngô thờng tốt hơn cả là nơi có rừng chuối và bên dới có cỏ,
gọi là nhả nhung. Từ kinh nghiệm lao động sản xuất của nhiều thế hệ,
ngời Thái rất a thích lựa chọn những vùng đất có quần thực vật phát triển
mạnh và đa dạng về chủng loại. Dân gian Thái thờng truyền nhau câu: cỏ
cây tốt, lúa bông cũng tốt (mạy nhả chăn, khẩu phải cọ chăn).

Ngời Thái có tập quán chọn nơi c trú luôn kề sát với những chân núi
cao. Trên địa hình đó, những nơi tơng đối bằng phẳng hoặc dốc thoai thoải
có nớc tới thì đồng bào khai thác thành ruộng đồng để trồng cấy. Bởi vậy,
nơi ở và các hoạt động kinh tế khác của tộc ngời này ở hầu hết trên sờn núi.
Qua nhiều thế hệ sống gắn bó với sông, suối, ngời Thái còn tích luỹ đợc

17nhiều tri thức, kinh nghiệm trong lợi dụng sức chảy của nớc mà uốn
dòng suối, tránh sự phá lở ruộng và bản. Chính những tri thức đó đã khiến cho
bản, mờng của ngời Thái vẫn bám chắc trên những dải đất kề bên sông, suối
mặc dù phải trải qua nhiều biến cố, thiên tai. Đây là vùng đất vốn có nhiều u
thế cho phát triển một nền nông nghiệp tự cung, tự cấp. Từ cuộc sống và lao
động sản xuất, đồng bào đã đúc rút kinh nghiệm cho quá trình chọn lựa địa
bàn c trú và sản xuất đảm bảo sự tồn tại và phát triển cho nhiều đời con cháu
đó là:
Có ruộng thì có cá.
Có ruộng thì có lúa.
Vào đó ở mới sống đợc suốt đời
(1)

Chính những kinh nghiệm, những tri thức dân gian đó đã khiến cho tộc
ngời Thái ở Tây Bắc, ngời Thái Sơn La có thể chủ động khai thác nguồn tài
nguyên vô tận để sinh sống và phát triển. Ngời Thái đã cùng nhiều tộc anh
em khác khai thác những vùng đất ven sông, suối thành ruộng đồng phì nhiêu.
Sông, suối là nguồn thuỷ lợi cung cấp cho ruộng đồng, là kho chứa đựng
nguồn thuỷ sản và phục vụ nhu cầu hàng ngày của cuộc sống. ở ven sông, ven
suối, bản mờng của ngời Thái dựng lên từng nhóm, từng cụm, tạo nên một
cuộc sống quần c, gắn bó. Bản mờng của ngời Thái còn tụ tập thành từng

diễn biến khác nhau nhng tựu chung có thể chia thành hai mùa chủ yếu là
mùa nóng, mùa ma bắt đầu từ tháng 5,6 đến tháng 10 dơng lịch; mùa rét,
hanh khô bắt đầu từ tháng 10,11 đến tháng 4,5 dơng lịch. Do tích luỹ đợc
kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, vào mùa nóng và ma, đặc biệt là trong
khoảng tháng 9-10, khi nhiệt độ và độ ẩm của đất tăng nhiều, ngời Thái tập
trung gieo cấy lúa, tranh thủ trồng các loại cây ăn quả nh xoài, muỗm, dứa,
chuối, mít và những cây a nhiều n
ớc ma nh ngô, đậu Do đó, mùa ma
chính là mùa thời vụ khẩn trơng của tộc ngời này. Đây cũng là thời điểm,
c dân đẩy mạnh săn bắt thuỷ sản phục vụ đời sống hàng ngày và tích luỹ
trong mùa hanh khô. Bớc vào mùa hanh khô, giá rét, ngời Thái chuyển sang
thực hiện một số hoạt động kinh tế khác. Con trai thì săn bắn, đan lát, làm cối
giã gạo ; con gái thì giã gạo, thêu thùa, dệt vải. Đây cũng là mùa tiến hành
sửa chữa hoặc dựng nhà mới, mùa của lễ hội, cới xin. Ngời Thái Đen thì tổ
chức cúng ma nhà với ý nghĩa nh ngày tết. Do đó, ngời Thái còn gọi là
mùa này là mùa cơm, mùa rợu (múa khẩu, múa lảu). Mùa hanh khô cũng
là mùa làm nơng khẩn trơng của ngời Thái. Vào cuối mùa c dân tập trung
đắp phai, sửa mơng đa nớc vào ruộng, bắt đầu cày xới chuẩn bị cho vụ
mùa tới.
19
Do sinh sống trên địa bàn có diễn biến thời tiết phức tạp nên ngời Thái
là tộc ngời có nhiều kinh nghiệm về dự đoán thời tiết phục vụ trực tiếp cho
sản xuất và đời sống của cộng đồng. Có nhiều biện pháp dự đoán thời tiết
đợc lu truyền nh: nếu con bọ chong chỏ (giống nh con cào cào) kêu thì
thì trời sẽ chuyển từ nắng sang ma; kiến leo lên cao là trời sắp ma; nếu khó
bắt cá thì trời sắp ma; hoặc đoán thời tiết qua quan sát về biến đổi màu sắc
của những chiếc nhẫn làm từ rìu đồng trời
Vốn là c dân nông nghiệp trồng lúa nớc nên vấn đề quan tâm thứ hai
của ngời Thái sau đất chính là nguồn nớc. Trong lao động sản xuất, họ đã
tích luỹ đợc nhiều tri thức về cách sử dụng nguồn nớc phục vụ cho sản xuất

năm). Nơng phát xong đợc ủ trong khoảng 1 tháng để cây, lá khô. Khi đốt
nơng, ngời Thái có biện pháp chống cháy lan bằng cách tạo vành đai không
có cây cỏ xung quanh nơng. Ngời Thái cũng áp dụng chế độ luân canh, hu
canh trong canh tác nơng. Canh tác trên nơng luân canh bỏ hoá theo vòng
quanh khép kín từ 5 đến 10 năm có tác dụng nhất định trong việc giữ độ phì
của đất. Do vậy, cuộc sống của họ tơng đối ổn định trên ruộng và vùng
nơng, không phải chuyển dịch chỗ ở gây những xáo trộn lớn về dân c.
Trong các hoạt động phục vụ đời sống vật chất, ngoài ruộng, nơng,
ngời Thái rất coi trọng việc trồng vờn: trồng các loại rau, rau thơm, trồng
cây ăn quả. Đối với họ, đặc biệt là phụ nữ, mảnh vờn còn là ngời bạn thân
thích, thậm chí họ còn bị day dứt khi phải rời bỏ mảnh vờn nhỏ về nhà
chồng
(1)
. Vờn cây ăn quả của ngời Thái là nguồn vui của chủ nhà khi có
khách đến chơi. Theo ngời Thái, tiêu chuẩn để tiếp khách đầu tiên phải có
của lạ, quả chín (tục ngữ khong lá má súc).
Để phục vụ đời sống kinh tế tự cung tự cấp, các gia đình ngời Thái đều
tiến hành làm nghề thủ công. Hầu hết đàn ông đều biết đan lát, làm đồ dùng
cho nông nghiệp, đánh cá. Nhiều nơi còn biết là gốm, rèn sắt và làm các đồ
trang sức nh vàng, bạc. Ngời phụ nữ Thái nổi tiếng với nghề dệt vải, dệt thổ
cẩm và thêu thùa. Những sản phẩm dệt không chỉ có ý nghĩa vật chất là thoả
mãn nhu cầu về mặc cho các thành viên trong gia đình mà còn phục vụ cho
tập quán của ngời Thái nh dệt để có của cải, dệt cho con cháu, dệt để khi
cới và dệt để khi chết Do đó, ngời Thái hết sức coi trọng giá trị của
những tấm vải. Nếu nh ngời Kinh quan niệm về của cải là tiền bạc (tức là
tiền đợc gắn với bạc) thì ngời Thái lại nói: vải tiền (phải ngấn) và
nh thế vải lại gắn với tiền. Ngời Thái chỉ mang vải ra trao đổi trong

(1)
Cầm Trọng, Ngời Thái ở Tây Bắc Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, H, 1987, tr. 201.

Văn hoá Thái đặc trng ở nhiều khía cạnh, trong đó nổi bật nhất là
những luật tục ứng xử với rừng của bản và mờng. ẩn sâu những tập quán
mang đầy tính tâm linh về đất, về rừng là những tri thức bản địa có giá trị của
ngời Thái trong việc bảo vệ sản xuất, cuộc sống, và giữ gìn tính cố kết cộng
22
đồng, mang đậm sắc thái của c dân nông nghiệp trồng lúa nớc. Vì vậy, nơi
ở và các hoạt động kinh tế khác của tộc ngời này ở hầu hết trên sờn núi.
Vùng c trú của ngời Thái thờng đợc phát triển ở nơi tập trung các con
suối nhỏ chảy từ các khe núi hợp thành suối lớn, sông con để rồi đổ ra sông
cái. Do c trú trên địa hình có mạng lới sông, suối khá dày đặc nên ngời
Thái Tây Bắc nói chung và ngời Thái ở Sơn La nói riêng trải qua các thế hệ
đã đúc rút cho mình nhiều kinh nghiệm quý về lựa chọn nơi c trú. Ngời
Thái kỵ việc dựng nhà ở miệng khe, vực. Theo quan niệm dân gian thì đó là
những lối đi của nhiều loại ma tà. Nhng theo kinh nghiệm thực tiễn thì thực
chất là họ tránh những luồng gió xoáy, gió lạnh và đặc biệt là tránh nớc lũ
đột ngột đổ xuống. Tục ngữ Thái đã lu truyền câu tục ngữ: khe vực cạn
có lúc làm trôi cả trâu (huổi hong cạng mí ta lay quái). Ngời Thái cũng
rất ít khi dựng bản ở giữa đồng hoặc nơi quá trũng (trừ những vùng chảo có
diện tích rộng). Đây là tập quán xuất phát từ kinh nghiệm của ngời Thái về
việc tiết kiệm diện tích đất đai để trồng trọt đồng thời cũng để tránh lốc xoáy
và ngập lụt. Tập quán ở nhà sàn vốn là một biểu hiện thống nhất về văn hoá
vật chất cũng nh tinh thần của ngời Thái. Tục ngữ Thái đã có câu: Nhà
ngời Thái có gác, bên sàn có cột (hơn Táy hơn mí hạn, quản mí xau).
Nhà sàn của họ đại thể có thể chia thành hai loại. Nhà sàn có hai trái đầu hội,
cấu trúc hình tròn khum tựa mai rùa, gọi là hớn tụp cống (nhà mái cong),
phân bố ở vùng Thái đen và Thái Trắng ở Mộc Châu. Nhà sàn mái hồi bằng
hình gần vuông hay chữ nhật, gọi là hớn tụp lặt (nhà mái bằng) phân bố ở
vùng Thái Trắng miền Bắc.
Từ rất lâu, ng
ời Thái đã có tri thức về rừng phòng hộ và là dân tộc sớm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status