LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu, nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận
văn là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2012
Tác giả luận văn
Lã Thanh Tùng
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU 4
TÀI LIỆU THAM KHẢO 6
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1: 8
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC TIỄN 8
PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO NGHỀ 8
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2011 43
2.3. Thực trạng phát triển công tác đào tạo nghề ở tỉnh Ninh Bình 50
KẾT LUẬN 98
Xin trân trọng cảm ơn 99
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Diễn giải nội dung
BQ Bình quân
CBQL Cán bộ quản lý
CMKT Chuyên môn kỹ thuật
CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CN-XD Công nghiệp – Xây dựng
CSDN Cơ sở dạy nghề
1.3 Chính sách đào tạo nghề 17
1.5. Thực trạng đào tạo nghề ở Việt Nam và trên thế giới 25
1.5.1. Tình hình đào tạo nghề và đánh giá công tác đào tạo nghề ở một số
nước trên thế giới 25
1.5.1.1 Nhật Bản 25
1.5.1.2 Hàn Quốc 26
1.5.1.3 Singapore 27
1.5.1.4 Trung Quốc 27
1.5.2 Tình hình đào tạo nghề và đánh giá công tác đào tạo nghề ở Việt Nam28
Đặc điểm địa hình 38
Khí hậu, thời tiết 39
Về khoáng sản, đất đai 39
2.2. Đặc điểm về kinh tế - xã hội 41
2.2.1 Tình hình dân số và lao động của tỉnh Ninh Bình, 2008-2010. .41
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2011 43
2.2.2. Cơ sở hạ tầng 44
2.2.3. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Bình, 2009-
2011 46
2.2.3.1. Những lợi thế của tỉnh Ninh Bình 47
2.2.3.2. Những khó khăn, thách thức chủ yếu 49
2.3. Thực trạng phát triển công tác đào tạo nghề ở tỉnh Ninh Bình 50
2.3.7 Nguyên nhân tồn tại 65
3.1 Mục tiêu 69
3.1.1 Mục tiêu chung 69
3.1.2. Mục tiêu cụ thể 69
3.2 Những quan điểm chỉ đạo 71
3.3.1 Nâng cao nhận thức tuyên truyền 73
3.3.2.1 Dự báo nhu cầu dạy nghề cho người lao độngthông qua nắm
bắt thông tin thị trường lao động và điều tra khảo sát 74
Thí điểm các mô hình dạy nghề cho người lao động 74
9. Lao động nông thôn: Thách thức và xu thế phát triển giai đoạn sau 2010,
website: www.isgmard.org.vn.
10. Lê Phạm Ngọc Kỳ, 2004, Công tác giải quyết việc làm ở nông thôn, Tạp
chí Lao động và Xã hội.
11. Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05/08/2008, Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp
hành trung ương khóa X về: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”.
12. Nguyễn Thanh Bình (8/2005), Dạy nghề gắn với giải quyết việc làm cho
Thanh niên nông thôn, http:/www.vyic.org.vn/tapchi/8-2005.
13. Quốc hội khóa XI (2005), Luật giáo dục của Quốc hội khóa XI, kỳ họp
thứ 7 số 38/2005/QH 11 năm 2005.
14. Quốc hội khóa XI (2006), Luật dạy nghề của Quốc hội khóa XI, kỳ họp
thứ 10 số 76/2006/QH 11 ngày 29/11/2006.
15. Quyết định số 48/2002/QĐ-TTg ngày 11/4/2002 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt mạng lưới dạy nghề 2005 - 2010
16. Quyết định số 107/2004/QĐ-UB phê duyệt quy hoạch cơ sở dạy nghề.
17. UBND tỉnh Ninh Bình (2008), Đề án đào tạo nghề cho người lao động
tỉnh Ninh Bình đến năm 2015.
18. Thủ tướng Chính phủ (2009), Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông
thôn đến năm 2020”, ban hành theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ ngày 27/11/2009.
19. Tổng cục dạy nghề (2010), Dự thảo chiến lược phát triển dạy nghề giai
đoạn 2011-2020.
20. Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê trên trang website
www.gso.gov.vn.
21. Thông tư số 01/1999/TT-LĐTBXH quản lý đào tạo nghề ở Trung ương và
địa phương.
22. Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế – Xã hội Quốc gia, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, Dự Báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong bối cảnh xu thế
phát triển kinh tế Thế giới đến năm 2020, Hà Nội, năm 2008.
23. TS. Nguyễn Hữu Dũng (2005), Thị trường lao động và định hướng nghề
nghề phải thường xuyên bổ sung, cập nhật hoàn thiện các chương trình dạy
nghề hoặc xây dựng các chương trình dạy nghề mới để đào tạo đội ngũ nhân
lực kỹ thuật trực tiếp làm việc với kỹ thuật, công nghệ mới đó.
1.2. Bối cảnh trong nước:
Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đã đạt tốc độ tăng trưởng
cao, cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp
hoá. Các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu chế xuất, các
ngành kinh tế mũi nhọn ngày càng phát triển, đầu tư trong nước và quốc tế
thời gian qua và dự kiến trong thời gian tới ngày càng tăng, kỹ thuật, công
nghệ mới được đưa vào sản xuất ngày càng nhiều, đòi hỏi nguồn nhân lực
1
phải tăng về số lượng và chất lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề đào tạo và
cơ cấu trình độ đào tạo. Hiện tại, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề ở nước ta
còn thấp (khoảng 20% năm 2006) chưa đáp ứng kịp nhu cầu ngày càng tăng
của thị trường lao động, nhất là lao động kỹ thuật có trình độ cao, đây là một
trong những thách thức lớn để phát triển nền kinh tế nước ta trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế.
Dự báo dân số và số người trong độ tuổi lao động đến năm 2020:
Đơn vị: Nghìn người
STT Chỉ tiêu 2005 2010 2015 2020
1 Dân số 83.120 88.458 94.000 98.500
2
Dân số trong độ tuổi lao động
- Tăng thêm sau 5 năm
52.700
6.000
58.300
5.600
60.800
2.500
Hiện nay cho đến năm 2020 tiếp tục sẽ có nhu cầu lớn về đào tạo nghề
và giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông nghiệp và nông thôn trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá. Hàng năm số lao động
trong khu vực nông nghiệp chuyển dịch sang khu vực công nghiệp và dịch vụ
là khoảng một triệu người, số lao động này phải được đào tạo nghề để làm
ngành nghề phi nông nghiệp. Nếu không chuyển dịch được số lao động nông
2
nghiệp sang lao động công nghiệp, dịch vụ thì không thể thực hiện được mục
tiêu đến năm 2020 nước ta trở thành nước công nghiệp. Mặt khác, trong điều
kiẹn kinh tế hội nhập, nếu chúng ta không chuyển dịch cơ cấu lao động kịp
thời theo hướng CNH, HĐH thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tăng trưởng
kinh tế và tình trạng kém phát triển, nghèo đói và bất bình đẳng vẫn không
được giải quyết. Nếu chúng ta không có được nguồn nhân lực có chất lượng
cao, phù hợp thì lao động các nước khác sẽ đến làm việc ở Việt Nam trong
khi lao động Việt Nam không tìm được việc làm, đó là nghịch lý và là thách
thức lớn đối với sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực nói chung và dạy nghề nói
riêng.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập phải có đủ lực lượng lao
động kỹ thuật, chất lượng cao cho các ngành kinh tế, nhất là các ngành công
nghiệp mũi nhọn, công nghiệp cao như: Tin học, tự động hoá, cơ điện tử, chế
biến xuất khẩu .v v.; đòi hỏi lao động qua đào tạo trên 70%, trong đó trên
35% có trình độ trung cấp trở lên, có như vậy các Doanh nghiệp mới đủ sức
cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tê.Trong xu thế toàn cầu hóa và
mở cửa hội nhập, Việt Nam đã được tổ chức Thương mại thế giới (WTO) kết
nạp là thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức này. Sự kiện đó đã mở ra
nhiều cơ hội và thách thức mới trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội đất
nước nói chung và quá trình công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH)
nông nghiệp nông thôn tại Việt Nam nói riêng. Với mục tiêu đến năm 2020
Việt Nam sẽ cơ bản trở thành nước công nghiệp, đòi hỏi phải có những thay
đổi cơ bản trong cơ cấu lao động nông thôn. Hiện nay ở nước ta có khoảng
dung, phương pháp giảng dạy và phương thức đào tạo đội ngũ lao động có
chất lượng cao, đặc biệt là trong các ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ cao.
4
Gắn với việc hình thành các khu công nghiệp, khu công nghệ cao với hệ
thống các trường đào tạo nghề. Phát triển nhanh và phân bố hợp lý hệ thống
trường dạy nghề trên địa bàn cả nước, mở rộng các hình thức đào tạo nghề đa
dạng, linh hoạt, năng động”.
1.3. Bối cảnh tỉnh Ninh Bình:
Ninh Bình là một tỉnh thuần nông, nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ,
thu nhập bình quân đầu người thấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn. Trong
những năm qua, tiến trình CNH - HĐH trên địa bàn tỉnh diễn ra mạnh mẽ,
nhiều KCN - CCN, được đầu tư xây dựng. Do vậy, vấn đề đào tạo nghề cho
người lao động là vấn đề cấp bách hiện nay, góp phần giải quyết công ăn việc
làm chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm lao động nông nghiệp,
tăng lao động ngành nghề và phi nông nghiệp.
Để đáp ứng nhu cầu học nghề của người lao động, hệ thống các trường,
các trung tâm dạy nghề cũng phát triển mạnh. Đến nay, toàn tỉnh có 51 cơ sở
dạy nghề. Trong đó, có 3 trường Cao đẳng nghề (thuộc Bộ, ngành), 6 trường
Trung cấp nghề, 26 trung tâm dạy nghề, 16 cơ sở khác có tham gia dạy nghề.
Tuy nhiên, năng lực dạy nghề của các cơ sở trên còn rất hạn chế.
Nguyên nhân chính là do các trường, các trung tâm dạy nghề mới được
thành lập, còn đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện, đội ngũ giáo viên
dạy nghề còn thiếu, số lượng và chất lượng dạy nghề vẫn chưa đáp ứng được
yêu cầu. Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo nghề vẫn còn thấp và có sự
chênh lệch lớn giữa các vùng kinh tế. Chất lượng lao động được đào tạo cũng
còn hạn chế, chưa hình thành được đội ngũ lao động có kỹ năng nghề đáp ứng
yêu cầu thị trường và hướng tới một nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại. Do
đó, nhiệm vụ đặt ra đối với người lao động càng khó khăn hơn. Để đáp ứng
được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực, thực hiện mục tiêu đào tạo nghề cần
5
- Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 12 năm 2011 đến tháng 5 năm
2012.
1.5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực tiễn phát triển đào tạo nghề.
Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo nghề tỉnh Ninh Bình.
Chương 3: Những giải pháp cơ bản phát triển công tác đào tạo nghề
ở Ninh Bình giai đoạn 2012 - 2020.
7
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC TIỄN
PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO NGHỀ
1. Cơ sở lý luận về phát triển đào tạo nghề
1.1 Cơ sở pháp lý
- Theo Luật Giáo dục năm 1998: Dạy nghề là một bộ phận thuộc giáo
dục nghề nghiệp, gồm: Dạy nghề ngắn hạn (dưới 1 năm) được thực hiện tại
các trung tâm dạy nghề và các trường dạy nghề, trường trung học và cao đẳng
có dạy nghề. Sau khi tốt nghiệp các khóa đào tạo nghề ngắn hạn, học viên
được cấp chứng chỉ nghề; dạy nghề dài hạn (từ 1-3 năm) được thực hiện trong
các trường dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp và trường cao đẳng có
dạy nghề. Sau khi tốt nghiệp các khóa đào tạo nghề dài hạn, học viên được
cấp bằng nghề.
Khung trình độ dạy nghề năm 1998 có hạn chế là: Chưa đủ khả năng
đáp ứng các loại trình độ lao động, nhất là ở cấp trình độ cao theo yêu cầu của
kỹ thuật, công nghệ mới trong sản xuất - kinh doanh; Không có giá trị công
nhận quá trình học trước đó, do đó không tạo được sự liên thông trong đào
tạo.
+ Luật Giáo dục 2005 và Luật dạy nghề 2006 đã tạo cơ sở pháp lý hình
thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành trong hệ thống giáo dục quốc dân;
đã hình thành dạy nghề chính quy với 3 cấp trình độ (sơ cấp nghề, trung cấp
cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu
cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người
học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục".
9
"Mở rộng quy mô dạy nghề, bảo đảm tốc độ tăng nhanh hơn đào tạo đại
học, cao đẳng. Quy mô tuyển sinh dạy nghề dài hạn tăng 17%/năm".
Thể chất hoá chủ trương của Đảng về phát triển dạy nghề, Quốc hội đã
ban hành Luật Giáo dục - năm 2005, quy định dạy nghề có ba trình độ đào tạo
(sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề);
Luật Dạy nghề - năm 2006, quy định chi tiết về tổ chức, hoạt động của
cơ sở dạy nghề; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động
dạy nghề. Trong Luật Dạy nghề đã xác định chính sách đầu tư của Nhà nước
về phát triển dạy nghề:
"Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để đổi mới nội dung, chương trình và
phương pháp dạy nghề, phát triển đội ngũ giáo viên, hiện đại hoá thiết bị, đẩy
mạnh nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề; Tập trung
xây dựng một số cơ sở dạy nghề tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và
thế giới; chú trọng phát triển dạy nghề ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khăn; đầu tư đào tạo các nghề thị trường lao động có nhu
cầu, nhưng khó khăn thực hiện xã hội hoá".
- Nghị quyết số 03/2007/NQ - CP ngày 19/01/2007 của Chính phủ về
những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch kinh tế - xã
hội và ngân sách Nhà nước năm 2007 đã giao cho Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội xây dựng trình Chính phủ đề án đổi mới đào tạo nghề.
1.2 Vị trí, vai trò của dạy nghề trong chiến lược phát triển nguồn nhân
lực và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Quốc gia
Ngày nay, hầu hết mọi quốc gia trên thế giới đều coi nhân tố con người,
nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, có vai trò quyết
định nhất đến sự phát triển và bền vững của một quốc gia. Các nhà kinh tế đã
khẳng định rằng đầu tư cho con người thông qua các hoạt động giáo dục và
thế giới đầy biến động, nhiệm vụ của dạy nghề là phải xây dựng và phát triển
đội ngũ lao động có chất lượng, phù hợp với nhu cầu lao động về cả số lượng,
cơ cấu trình độ, ngành nghề, vùng miền đáp ứng mục tiêu và nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội trong phạm vi toàn quốc lẫn từng ngành, vùng kinh tế,
địa phương; đồng thời cần tăng khả năng cạnh canh của lao động Việt Nam
với lao động nước ngoài không những ở thị trường lao động thế giới mà còn
ngay ở thị trường lao động trong nước. Với tốc độ phát triển nhanh và không
ngừng của khoa học công nghệ, việc sử dụng ngày càng nhiều công nghệ mới,
tiên tiến, hiện đại, nhiều ngành nghề mới xuất hiện trong thực tế xã hội, vì vậy
cần có các hình thức, nội dung dạy nghề phù hợp nhằm tạo điều kiện cho
người lao động có cơ hội để thường xuyên bổ sung, cập nhất kiến thức, kỹ
năng nghề nghiệp để có đủ năng lực thích ứng với những thay đổi nhanh
trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.
1.2.1 Mối quan hệ của dạy nghề với việc làm, thu nhập và giải quyết các
vấn đề xã hội trong nước và hội nhập quốc tế
Mục tiêu hàng đầu của công tác dạy nghề là đào tạo, bồi dưỡng năng
lực nghề nghiệp của từng người học, người lao động cho phù hợp với yêu cầu
của thị trường lao động trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nhằm tạo điều
kiện cho người lao động tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm. Trong quá trình
học nghề, người lao động được học để hình thành những kiến thức, kỹ năng
và thái độ lao động nghề nghiệp cần thiết cho việc thực hiện thành công quá
trình lao động thực tế.
Với quan điểm, chuyển dần dạy nghề từ đào tạo theo năng lực sẵn có
của cơ sở dạy nghề sang dạy nghề theo nhu cầu của thị trường lao động và xã
hội, lấy nhu cầu của các ngành kinh tế, của doanh nghiệp làm mục tiêu đào
12
tạo, dạy nghề gắn với việc làm đã tạo điều kiện cho người học nghề có việc
làm ngay sau khi tốt nghiệp. Hệ thống dạy nghề hiện nay tương đối đa dạng,
nội dung và hình thức đào tạo nghề tương đối linh hoạt đã tạo điều kiện cho
người học có cơ hội được nâng cao năng lực nghề nghiệp, thích ứng với sự
thuyết cơ bản và có kỹ năng thực hành về một nghề (hoặc công việc) nhất định
phù hợp với yêu cầu của cấp bậc đào tạo và nghề nghiệp (công việc).
Lao động qua đào tạo là kết quả của hoạt động giáo dục - đào tạo nhằm
trang bị cho người được đào tạo những kiến thức cơ bản và kỹ năng nghề
nghiệp ở các trình độ khác nhau cùng với đạo đức, lương tâm và ý thức tổ
chức kỷ luật, tinh thần hợp tác và tác phong làm việc để thực hiện những công
việc theo yêu cầu kỹ thuật nhất định.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, lao động qua đào tạo được phân
thành 4 nhóm chính: lao động kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và
dịch vụ (lao động qua đào tạo nghề), lao động có bằng trung cấp chuyên
nghiệp, lao động có bằng cao đẳng, đại học, lao động có bằng sau đại học.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trong tổng số lao động làm việc:
Tỷ lệ lao động qua
đào tạo nghề trong tổng số
lao động làm việc (%)
=
Số lao động qua đào tạo nghề
đang làm việc
x100
Tổng số lao động làm việc trong
nền kinh tế
Số lao động qua đào tạo nghề được thống kê phân thành 3 cấp trình độ:
Trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề. Ngoài ra còn có lao
động có qua đào tạo nghề thường xuyên dưới 3 tháng có thể được hoặc không
được cấp chứng chỉ nghề.
14
Cấp trình độ đào tạo nghề là một trong những nội dung quan trọng
trong hệ thống dạy nghề, nó quyết định đến việc xây dựng mục tiêu chương
trình đào tạo nghề, cũng như việc cấp văn bằng chứng chỉ đào tạo nghề thống
nhất của quốc gia. Xác định đúng đắn cấp trình độ đào tạo nghề không chỉ
2005, trong đó có hệ Giáo dục nghề nghiệp. Dạy nghề là một phần của hệ
thống giáo dục nghề nghiệp trong khung cơ cấu của hệ thống giáo dục quốc
dân.
Cơ sở đào tạo nghề là một cơ sở có đủ các điều kiện về cơ sở vật chất
kỹ thuật, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên theo quy định, đăng ký thường
xuyên thực hiện việc đào tạo nghề cho người lao động theo mục tiêu, chương
trình đã được xác định tương ứng với trình độ nghề mà thực tiễn yêu cầu của
một hoặc một số nghề nào đó (tên nghề theo danh mục nghề đào tạo).
Hệ thống các cơ sở đào tạo nghề là tập hợp của các cơ sở làm nhiệm
vụ đào tạo nghề để đáp ứng nhu cầu nhân lực cả về cơ cấu ngành nghề, cả về
cơ cấu trình độ cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và được Nhà
nước thống nhất quản lý từ Trung ương đến địa phương.
Hệ thống các cơ sở đào tạo nghề có thể được xác lập để đáp ứng yêu
cầu của một ngành kinh tế, một vùng kinh tế, một địa phương (tỉnh, thành
phố); một khu vực hoặc trên phạm vi toàn quốc.
Hệ thống các cơ sở đào tạo nghề bao gồm các trung tâm dạy nghề,
trường trung cấp nghề, trường cao đẳng nghề, các trường đại học, cao đẳng,
trung cấp chuyên nghiệp có dạy nghề và các cơ sở dạy nghề khác. Đào tạo
nghề là hệ thống chính trong việc cung cấp nguồn nhân lực kỹ thuật cho sự
nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
16
1.3 Chính sách đào tạo nghề
1.3.1 Khái niệm:
Chính sách là tập hợp chủ trương và hành động về phương diện nào đó
của nền kinh tế xã hội do Chính phủ thực hiện. Nó bao gồm mục tiêu mà
Chính phủ muốn đạt được và cách làm để đạt được các mục tiêu đó.(8)
Như vậy, Chính sách đào tạo nghề cho người lao động là chủ trương và
hành động của Chính phủ nhằm thay đổi cơ cấu ngành lao động theo hướng
giảm lao động nông nghiệp tăng lao động ngành nghề và phi nông nghiệp góp
phần giải quyết công ăn việc làm, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Với những