Đánh giá các tác động kinh tế - xã hội và môi trường của sự gia tăng nhu cầu nước cấp đô thị ở thành phố Huế - Pdf 33

Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động đời sống của con người gắn với nước đã tạo ra “văn hoá nước”
thông qua các hoạt động khai thác, sử dụng và chế ngự nước của con người. Tuy
nhiên, trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội ngày nay, tài nguyên nước đang bị đe
doạ nghiêm trọng, nguồn nước ngày càng ô nhiễm và cạn kiệt do nạn chặt phá rừng
tràn lan, khai thác và sử dụng nước không hợp lý. Nhiều đối tượng sử dụng nước vẫn
còn quan niệm nước là “của trời cho”. Vì vậy họ sử dụng bừa bãi, không tiết kiệm và
thiếu ý thức bảo vệ, bảo tồn nguồn nước.
Gần đây, Việt Nam đã chính thức bị loại ra khỏi danh sách những quốc gia
giàu có về tài nguyên nước với mức bình quân hiện nay chỉ đạt 4.400 m
3
/người/năm
(bao gồm cả nước mặt và nước ngầm), thấp hơn rất nhiều so với mức bình quân của
thế giới là 7.400 m
3
/người/năm (Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, 2008).
Thực tế cho thấy ở Việt Nam, lượng nước phân bố không đều đã gây ra hiện tượng
thiếu nước vào mùa khô và thừa nước vào mùa mưa ở một số vùng. Đáng lưu ý hơn
là tình trạng ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng ở hầu hết các hệ thống sông ngòi trên
toàn lãnh thổ Việt Nam, làm cho vấn đề cấp nước đô thị đối mặt với nhiều khó khăn
và thách thức.
Cấp nước là công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị, đồng thời là công trình hạ tầng
xã hội cần thiết cho sự phát triển kinh tế và phục vụ dân sinh. Cấp nước có ảnh
hưởng rất lớn đến sức khỏe con người, đến sinh hoạt hằng ngày của mọi gia đình và
sự phát triển bền vững của môi trường đô thị. Ở thành phố Huế, do trữ lượng nước
ngầm ít nên việc sử dụng nước từ trước đến nay hoàn toàn dựa vào nguồn nước cấp
đô thị khai thác từ sông Hương. Trong khi đó, nhu cầu sử dụng nước của thành phố
hiện đang ngày một tăng cao, do tốc độ đô thị hóa - công nghiệp hóa, sự gia tăng dân
số và biến đổi khí hậu …

Từ trước đến nay, Ðảng và Nhà nước hết sức quan tâm đến công tác cấp nước
đô thị, nhiều dự án cấp nước đã được ưu tiên đầu tư, nhờ vậy tình hình cấp nước các
đô thị đã được cải thiện một cách đáng kể, công suất các nhà máy được tăng cao.
Việc nâng cao chất lượng nước, ứng dụng khoa học công nghệ tiến tiến vào sản xuất
và quản lý, tăng tỷ lệ người dân dùng nước sạch ở các đô thị... cũng được quan tâm
thích đáng .
Trong hơn 10 năm qua, Việt Nam đã đầu tư khoảng hơn 1 tỷ USD để phát
triển hệ thống cấp nước đô thị với khoảng 210 dự án. Hiện tại, tất cả 64 tỉnh thành
đều có các dự án cấp nước đô thị với mức độ đầu tư khác nhau và toàn quốc có
khoảng 240 nhà máy cấp nước (Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2007). Tuy nhiên
hiện nay, nhiều đô thị lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng ... vẫn thường xuyên
thiếu nước. Ở Việt Nam nguồn nước chủ yếu sử dụng là nước mặt và nước ngầm,
trong đó 2/3 là nước mặt từ các sông. Nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước mặt và nước
ngầm do tác động của con người và thiên nhiên gia tăng theo thời gian. Chất lượng
nguồn nước ngày càng không ổn định và diễn biến theo chiều hướng xấu. Hiện tượng
nước bị nhiễm bẩn tại thành phố Hồ Chí Minh, chất lượng nước kém tại nhiều đô thị
như Hà Nội, Quảng Ninh, Thái Bình, Hưng Yên, ... hay nước nhiễm mặn tại Huế
đang trở thành vấn đề nan giải.
Ngoài ra, sự yếu kém của công tác cấp nước ở các đô thị ở Việt Nam còn thể
hiện ở một số khía cạnh sau đây:
+ Công suất thiết kế chưa phù hợp với thực tế, nơi thừa, nơi thiếu. Hệ thống
cấp nước đô thị mới chỉ đáp ứng được nhu cầu của 60% dân số đô thị với mức tiêu
thụ bình quân 80 lít/người/ngày; Đặc biệt thường xuyên xảy ra tình trạng thiếu nước
và cắt nước nhất là trong mùa hè ở các thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Hà Nội và
Đà Nẵng. Trong những thời điểm này, người dân thường phải dùng nước nhiễm mặn,
nhiễm phèn hoặc khai thác nước ngầm gây ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên nước
ngầm và cấu trúc địa chất trong lòng đất…
+ Tỷ lệ người dân đô thị được cấp nước thấp, trung bình đạt 50% - 55%, riêng
đô thị loại 1 và loại 2: 70% - 80%, đô thị loại 4 và 5: 15% - 20%.
3

nhà nước trong công tác quản lý nước cấp đô thị còn nhiều bất cập, đặc biệt là vấn đề
về giá nước. Hầu hết các địa phương đều định giá nước làm nhiều loại, tăng giá nước
sản xuất và kinh doanh để bù cho giá nước sinh hoạt và công cộng.
Ngoài những bất cập nêu trên đây thì khả năng quản lý và kinh doanh hạn chế
cùng với tác động của cơ chế hành chính, quan liêu - bao cấp làm cho tỷ lệ thất thu
cao cũng là một trong những biểu hiện rõ nét về sự hoạt động yếu kém của ngành cấp
nước đô thị Việt Nam.
Nói tóm lại, công tác quản lý nước và nước cấp đô thị ở Việt Nam hiện nay
chủ yếu tập trung vào quản lý mức cung (Supply Side Management), nghĩa là tập
trung vào việc nâng cao khả năng cung cấp để thỏa mãn nhu cầu. Ngược lại, phương
thức quản lý nhu cầu (Demand Side Management) hướng đến mục tiêu sử dụng hiệu
quả và tiết kiệm tài nguyên nước, qua đó làm giảm nhu cầu cần phải đáp ứng còn
chưa được quan tâm áp dụng ở Việt Nam. Thực tế có thể là do nguyên nhân chủ quan
bởi nước ta vốn là một trong những quốc gia có tài nguyên nước ngọt khá phong phú.
Mức đảm bảo nước của ta cao gấp 8 lần so với mức đảm bảo trung bình toàn thế giới
(Trung tâm nghiên cứu Thủy văn và Tài nguyên nước, 2007). Tuy nhiên, theo cảnh
báo mới đây của Tổ chức Khí tượng thế giới, có khả năng từ năm 2010 trở đi, Việt
Nam sẽ trở thành một trong những quốc gia thiếu nước ngọt để sử dụng cho các nhu
cầu sinh hoạt và phát triển kinh tế.
2.2. HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC CẤP NƯỚC VÀ QUẢN LÝ NƯỚC CẤP ĐÔ
THỊ THÀNH PHỐ HUẾ
2.2.1. Khái quát về thành phố Huế
a. Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Với toạ độ địa lý: 107
o
31’45’’-107
o
38’ kinh Ðông và 16
o

- Đặc điểm khí hậu
Thành phố Huế nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chuyển tiếp
từ á xích đạo đến nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa
miền Bắc và miền Nam nước ta.
+ Chế độ nhiệt: Thành phố Huế có mùa khô nóng và mùa mưa ẩm lạnh. Nhiệt độ
trung bình hàng năm vùng đồng bằng khoảng 24°C - 25°C.
 Mùa nóng bắt đầu từ tháng V đến tháng IX, chịu ảnh hưởng của gió Tây
Nam nên khô nóng, nhiệt độ cao. Nhiệt độ trung bình các tháng nóng là từ 27°C -
29°C, tháng nóng nhất (tháng V,VI) nhiệt độ có thể lên đến 38°C- 40°C.
 Mùa lạnh: Từ tháng X đến tháng III năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa
Đông bắc nên mưa nhiều, trời lạnh. Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh ở vùng đồng
bằng là 20°C - 22°C.
+ Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình khoảng 2.500 mm/năm. Mùa mưa bắt đầu từ
tháng IX đến tháng II năm sau, tháng XI có lượng mưa lớn nhất, chiếm tới 30%
lượng mưa cả năm.
+ Độ ẩm trung bình 85%-86%.
+ Đặc điểm mưa ở Huế là mưa không đều, lượng mưa tăng dần từ Đông sang Tây,
từ Bắc vào Nam và tập trung vào một số tháng với cường độ mưa lớn do đó dễ gây lũ
lụt, xói lở.
+ Gió bão: Chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính. Gió mùa Tây Nam khô nóng,
bốc hơi mạnh gây khô hạn kéo dài bắt đầu từ tháng IV đến tháng VIII. Gió mùa Đông
Bắc bắt đầu từ tháng IX đến tháng III năm sau thường kèm theo mưa làm cho khí hậu
lạnh, ẩm, dễ gây lũ lụt. Bão thường xuất hiện từ tháng VIII đến tháng IX-X (UBND
thành phố Huế, 2009)
- Đặc điểm địa chất thủy văn dòng chảy
Sông Hương là nguồn chính cung cấp nước cho toàn thành phố. Đây là con
sông bồi đắp phù sa cho dải đồng bằng ven sông. Lưu vực sông có diện tích
2.830km
2
chiếm 60% diện tích toàn tỉnh, trong đó dải đất ven sông là nơi tập trung

được phê duyệt, triển khai.
• Tình hình sản xuất nông nghiệp: Giá trị sản xuất ước đạt 110,2 tỷ đồng,
tăng 4,5%, chuyển đổi theo hướng dịch vụ phục vụ du lịch, khu du lịch sinh thái, cây
trồng có giá trị kinh tế cao như: Thanh trà, măng cụt, rau sạch...
• Du lịch: Doanh thu ước đạt 801,5 tỷ đồng, tăng 35,5% lượt khách đến ước
đạt 1.388.610 lượt, tăng 18,5%; trong đó khách quốc tế là 680.000 lượt, tăng 18,9%,
khách nội địa là 708.610 lượt, tăng 18,08%. Số ngày khách lưu trú bình quân đạt 2,04
ngày/khách. Công suất sử dụng phòng bình quân đạt 74%. Nhiều khách sạn, nhà hàng
mới đã đưa vào hoạt động. Các tuyến du lịch được củng cố đã thu hút một lượng
khách đến từ Thái Lan, Lào, Trung Quốc...
• Dịch vụ: Doanh thu dịch vụ trên địa bàn đạt 434,4 tỷ đồng, tăng 37,3%.
• Thương mại: Doanh thu thương mại ước đạt 5.158,9 tỷ đồng, tăng 36,5%.
Công tác quản lý thị trường, giá cả được triển khai tốt. Các doanh nghiệp đã tổ chức
nhiều hoạt động kinh doanh phong phú nhằm thu hút khách hàng.
- Quy mô và cơ cấu dân số thành phố Huế
Hiện tại, thành phố Huế là một đô thị có quy mô dân số trung bình. Tổng số
dân năm 2007 là 335.747 người, tổng số hộ là 65.126 hộ. Với diện tích hiện tại là
70,99km
2
, mật độ dân số thành phố vào khoảng 4.729,5 người/km
2
(Niên Giám
8
Thống Kê thành phố Huế, 2007). Tốc độ tăng dân số tự nhiên giảm liên tục, từ 1,31%
năm 2000 xuống còn 1,1% vào năm 2007.
Tỷ lệ đô thị hóa của thành phố rất cao. Dân số trung bình thành thị năm 2007
là 305.052 người, chiếm 90,86% tổng số dân (năm 2006 chiếm 80,27% tổng số dân).
Hiện nay, dân số thành thị tập trung sinh sống ở 24 phường. Dân số nông thôn là
30.695 người, chiếm 9,14% tổng số dân (năm 2006 chiếm 19,73% tổng số dân), tập
trung ở 3 xã là Thủy Biều, Hương Long và Thủy Xuân.

tăng trưởng kinh tế cao trong thời kì 2006-2010 và 2010-2020 (giá trị sản xuất công
nghiệp trên địa bàn tăng bình quân trên 16%/năm thời kì 2006 - 2010, trên 14%/năm
thời kì 2011-2015 và trên 12%/năm thời kì 2016-2020). Tỷ trọng của khu vực công
nghiệp trong tổng GDP của thành phố năm 2010 khoảng 37-39%, năm 2015 khoảng
34-35% và năm 2020 khoảng 30-32%.
9
Chuyển đổi, cơ cấu lại sản xuất công nghiệp theo hướng ưu tiên phát triển các
ngành công nghiệp sạch, kỹ thuật - công nghệ cao như công nghệ thông tin - viễn
thông, điện tử, hóa dược, dệt may, da - giày, chế biến thực phẩm đặc sản để xuất
khẩu, đồng thời phát triển công nghiệp chế tác sản xuất hàng tiêu dùng và tiểu thủ
công nghiệp (Hàng thủ công mỹ nghệ, thêu,…) để giải quyết việc làm cho lao động
trong khu vực đô thị hóa.
Tổ chức hợp lý không gian sản xuất công nghiệp, hình thành các cụm công
nghiệp (Bắc Hương Sơ, Nam Thủy An với tổng diện tích 73 ha). Sau năm 2010 xem
xét mở rộng diện tích khu công nghiệp Bắc Hương Sơ lên 100 ha, Nam Thủy An lên
100 ha.
• Về văn hóa - xã hội
Nâng cao chất lượng dân số, tăng cường công tác truyền thông dân số và kế
hoạch hóa gia đình để giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên xuống dưới 11% vào năm
2010 và giảm tiếp còn dưới 8% năm 2020 để đảm bảo duy trì tỷ lệ tăng dân số tự
nhiên từ 1-1,05%, điều tiết để duy trì mức độ gia tăng cơ học ở mức hợp lý là 0,5-0,7
%/năm.
2.2.2. Hiện trạng sử dụng nước cấp đô thị ở thành phố Huế
Thành phố Huế hiện có tổng số dân là 335.747 người, phân bố tại 24 phường
và 3 xã, với tổng số hộ theo thống kê năm 2007 là 65.126 hộ.
Các thống kê từ Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên Xây dựng và Cấp
nước Thừa Thiên Huế (COWASU) cho biết 100% các hộ sử dụng nước đều có đồng
hồ nước với tỉ lệ bao phủ cấp nước thành phố Huế là 99%, nghĩa là chỉ còn 1% hộ gia
đình ở thành phố Huế chưa tiếp cận được với nước cấp đô thị, với mức sử dụng bình
quân khoảng 120-135 lít/người/ngày (đạt mức sử dụng của đô thị loại 2). Lượng

Huế rất đa dạng tùy thuộc vào kinh tế gia đình và có thể chia ra 5 nhóm sử dụng như
sau:
Bảng 2.3. Mức độ sử dụng nước của người dân thành phố Huế
Nhóm Mức sử dụng (lít/người/ngày)
Thu nhập cao 200 - 300
Thu nhập khá 120 - 180
Thu nhập vừa 100 - 150
Thu nhập trung bình 50 - 90
Thu nhập thấp <=50
Tuy nhiên cách chia nhóm sử dụng nước trên đây chỉ ở mức tương đối. Có
những hộ gia đình có mức thu nhập cao, đời sống khá giả nhưng mức độ sử dụng
nước của họ thấp hơn 200-300 lít/người/ngày. Thông thường đối với các hộ gia đình
có nhiều trẻ em, sử dụng nhiều nước hơn các hộ khác vì các hộ này có nhu cầu giặt
giũ nhiều hơn bình thường.
Qua điều tra cũng cho thấy người dân thành phố Huế có ý thức tiết kiệm nước.
Ví dụ như tận dụng nước giặt rửa sau cùng để tưới cây hoặc làm mát mặt đường...
Đối với các hộ có máy giặt thì thường sau 2 - 3 ngày dồn áo quần mới giặt một lần để
tiết kiệm điện và nước. Vào mùa mưa, nhiều hộ dân nhất là dân ở vùng ven thành phố
có dùng nước mưa để giặt và rửa là chủ yếu. Tuy nhiên, nhận thức của người dân về
sự quý hiếm của nguồn tài nguyên nước ngọt hầu như chưa có, chỉ một số ít cán bộ,
viên chức ý thức được vấn đề này. Đa số người dân tiết kiệm nước là liên quan đến
vấn đề kinh tế, tức là để giảm chi phí tiêu dùng hàng tháng.
Do thành phố Huế có lượng mưa phân bố không đồng đều nên vào mùa hè,
mực nước của các sông thường hạ thấp. Tại các hồ chứa, mức nước giảm đến mức
báo động. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến tất cả các hoạt động sản xuất và sinh hoạt
trong thành phố và toàn tỉnh. Đối với ngành du lịch, đây là mùa khách du lịch tăng
cao nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc cung cấp nước phục vụ cho mọi nhu cầu
của khách. Đối với các hệ thống khách sạn, mặc dù hầu hết các khách sạn đều có hồ
chứa dự phòng nhưng không đủ để đối phó với tình trạng thiếu hụt nước cấp nói trên.
Các biện pháp tự mỗi khách sạn khắc phục như dùng nước giếng khoan thông qua xử

3
/ngày, sản lượng nước thương phẩm
1,8 triệu m
3
/năm, cung cấp không thường xuyên và chất lượng thấp cho khoảng 20%
dân số thành phố Huế vào năm 1975, đến nay, COWASU đã có 13 nhà máy, với tổng
công suất đạt 105.000 m
3
/ngày (COWASU, 2008). Trong đó, có nhiều nhà máy mới
được xây dựng có công nghệ hiện đại như nhà máy Vạn Niên, Quảng Tế 2, Dã Viên,
Tứ Hạ và Bạch Mã. Các nhà máy cũ cơ bản đã được cải tạo và thay mới máy móc
thiết bị. Mạng lưới đường ống cũng được cải tạo và mở rộng. Đối tượng được dùng
nước máy đã vượt khỏi địa bàn thành phố đến các vùng xa, các vùng có nguồn nước
bị ô nhiễm, các khu kinh tế trọng điểm của tỉnh như sân bay, khu công nghiệp Phú
Bài, cảng Thuận An, cảng Chân Mây, các khu định cư, khu quy hoạch dân cư mới ...
Riêng tại thành phố Huế, hệ thống cấp nước hiện nay bao gồm:
+ Nhà máy nước Giã Viên công suất 14.000 m
3
/ngày.
+ Nhà máy nước Quảng Tế công suất 55.000 m
3
/ngày.
+ Trạm bơm nước Vạn Niên có chức năng bơm nước sông Hương cho nhà máy
nước Quảng Tế.
Chất lượng nước không ngừng được nâng cao và tỷ lệ thất thoát và thất thu
nước giảm nhanh từ 45% năm 1990 xuống còn 18,1% năm 2008.
Hệ thống cấp nước hộ gia đình không ngừng được phát triển trong những năm
gần đây. Nếu như năm 2000, công ty có 21.469 đấu nối chính, thì đến tháng 12 năm
2007, số đầu nối chính đã lên đến 87.000, tăng gấp 4 lần.
12

đủ lượng nước sử dụng cho người dân trên địa bàn, COWASU còn không ngừng tìm
mọi giải pháp để nâng cao chất lượng nước cấp, đặc biệt là hướng tới mục tiêu cấp
nước uống an toàn.
Năm 1994, COWASU đã chuyển đổi chức năng KCS “Kiểm tra chất lượng
sản phẩm” sang “Quản lý chất lượng sản phẩm”. Năm 1998, thành lập phòng quản lý
chất lượng nước, với chức năng quản lý chất lượng nước trong phạm vi toàn công ty,
kiểm tra chất lượng nước từ nguồn, qua các công đoạn xử lý đến mạng cấp, điều
chỉnh các biện pháp xử lý kịp thời, nhằm mục đích đảm bảo chất lượng nước cấp
luôn đạt tiêu chuẩn quy định. Năm 2006, phòng thí nghiệm của công ty đã được
chứng nhận ISO/IEC17025:2005. Đầu năm 2008, công ty hoàn tất cải tạo mở rộng
phòng thí nghiệm trung tâm, đạt tiêu chuẩn của một phòng thí nghiệm cao cấp, chia
thành 2 khu vực phân tích hoá lý và vi sinh. Mỗi khu vực đều có những phòng chức
năng riêng và theo quy trình khép kín. Cho đến nay, phòng thí nghiệm của công ty có
13
khả năng phân tích phần lớn các chỉ tiêu nhóm A (các chỉ tiêu phân tích hàng giờ,
hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng) và nhóm B (các chỉ tiêu phân tích năm, 2 năm)
theo tiêu chuẩn của Bộ Y Tế về nước uống. Trong đó, có các chất độc hại như nhóm
trihalogenmetan (THM), các hóa chất khử trùng, các hợp chất thuốc trừ sâu…
Song song với đầu tư máy móc thiết bị, phòng quản lý chất lượng nước của
công ty đã tập trung nâng cao tính chính xác của các kết quả phân tích. Tất cả các
máy móc thiết bị phân tích đều được hiệu chuẩn đúng định kỳ và kiểm tra tính ổn
định của độ chính xác hàng ngày. Tất cả các phương pháp phân tích đều được áp
dụng theo tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành. Ngoài ra, phòng quản lý chất lượng nước
cũng đã xây dựng và thực hiện tốt quy trình kiểm soát chất lượng từ nguồn qua các
công đoạn xử lý đến mạng cấp, với mỗi công đoạn có các tiêu chuẩn và yêu cầu kỹ
thuật kèm theo. Các chỉ tiêu giám sát và tần suất giám sát nước nguồn, nước thành
phẩm và nước trên mạng cấp tuân thủ theo Quyết định số 1329/2000 của Bộ Y Tế
nhằm đảm bảo cấp nước an toàn.
Đến nay, sau nhiều năm phấn đấu liên tục, chất lượng nước trên toàn mạng
cấp nước đã được cải thiện vượt bậc. Hầu hết các khu vực trên mạng cấp, nước đã

+ Các vấn đề kinh tế - xã hội và môi trường liên quan.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Địa bàn thành phố Huế bao gồm 24 phường: Phường An
Cựu, An Đông, An Hoà, An Tây, Hương Sơ, Kim Long, Phú Bình, Phú Cát, Phú
Hậu, Phú Hiệp, Phú Hòa, Phú Hội, Phú Nhuận, Phú Thuận, Phước Vĩnh, Phường
Đúc, Tây Lộc, Thuận Hòa, Thuận Lộc, Thuận Thành, Trường An, Vĩnh Ninh, Vỹ Dạ,
Xuân Phú và 3 xã là Hương Long, Thủy Biều và Thủy Xuân.
- Về thời gian: Đề tài được thực hiện trong thời gian từ ngày 01 tháng 03 năm
2009 đến hết ngày 15 tháng 5 năm 2009.
3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1. Phương pháp điều tra thu thập số liệu
Dùng để thu thập các tài liệu, số liệu và thông tin cần thiết cho quá trình
nghiên cứu. Các tài liệu được thu thập bao gồm:
Quy hoạch cấp nước đô thị Huế.
Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Huế.
Niên giám thống kê thành phố Huế.
15
Các văn bản pháp luật liên quan đến cung cấp và phân phối, sử dụng nước sạch,
giá nước sạch áp dụng trên địa bàn thành phố Huế.
Báo cáo đánh giá tác động môi trường nhà máy nước Quảng Tế II.
Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của TP Huế.
Các tài liệu liên quan đến việc cung cấp và sử dụng nước cấp như tập san cấp
nước của nhà máy nước, báo cáo tổng kết hoạt động sản xuất kinh doanh – xây dựng
cơ bản năm 2007 và 2008 của Công ty THHH Nhà nước một thành viên xây dựng và
cấp nước Thừa Thiên Huế, tài liệu từ internet…
Số liệu sử dụng nước ngầm của thành phố Huế.
Số liệu về lượng nước sử dụng thực tế hàng tháng của người dân.
Ý thức tiết kiệm nước của người dân.
3.2.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để so sánh, phân tích, tổng hợp và đánh

4.1. DỰ BÁO NHU CẦU SỬ DỤNG NƯỚC CẤP ĐÔ THỊ Ở THÀNH PHỐ
HUẾ ĐẾN NĂM 2020
Căn cứ theo tiêu chuẩn TCXDVN 33 : 2006 của Bộ Xây Dựng về Cấp nước
ban hành vào năm 2006, có thể chia nhu cầu dùng nước trong thành phố Huế thành
các dạng chính như sau:
+ Nước ăn uống, sinh hoạt
+ Nước phục vụ công cộng
+ Nước cho nhu cầu công nghiệp
+ Nước phục vụ cho du lịch – dịch vụ
+ Nước thất thoát
+ Nước cho yêu cầu riêng của nhà máy xử lý nước
Như vậy, để tính tổng nhu cầu sử dụng nước cấp đô thị của thành phố Huế,
chúng tôi sử dụng công thức sau:
Q = Q
sh
+ Q
cc
+ Q
cn
+ Q
dl-dv
+ Q
tt
+Q
nm
(1)
Với Q là tổng lượng nước sử dụng (m
3
/ngày)
Q

sh
được tính toán dựa trên tổng số dân của
thành phố. Các nhu cầu dùng nước khác như Q
cc
,Q
dl-dv
, Q
tt
và Q
nm
lại được tính theo
Q
sh
. Chính vì vậy, việc dự báo chính xác dân số thành phố Huế đến năm 2010 và
2020 là một yếu tố rất quan trọng trong dự báo nhu cầu sử dụng nước.
4.1.1. Dự báo dân số thành phố Huế năm 2010 và 2020
Một trong những nội dung chính của quy hoạch cấp nước đô thị là xác định
nhu cầu sử dụng nước của đô thị. Nhằm phục vụ tốt hơn, tạo độ tin cậy và chính xác
18
cho việc dự báo thì một vấn đề cần phải quan tâm đến là nắm rõ tốc độ gia tăng dân
số trên địa bàn.
Theo thống kê của Cục thống kê Thừa Thiên Huế - Phòng thống kê thành phố
Huế cho biết tình hình gia tăng dân số của thành phố Huế qua các năm gần đây như
sau:
Bảng 4.1. Diễn biến gia tăng dân số thành phố Huế qua các năm
Năm 2003 2004 2005 2006 2007
Tổng số dân 316.805 321.496 326.264 330.836 335.747
Thành Thị 256.241 259.678 263.087 265.575 305.052
% thành thị 80,88 80,77 80,64 80,27 90.86
Nông thôn 60.564 61.818 63.177 65.261 30.695


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status