Tiểu Luận điểm đặc thù trong điều kiện kinh tế-xã hội cho sự ra đời nhà nước của người Việt cổ - Pdf 26

A-ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhà nước không xuất hiện ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện mà nó chỉ ra đời
khi xã hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định dưới những tác động của điều kiện
kinh tế-xã hội. Do vị trí nằm trên bán đảo Đông Dương nên sự ra đời nhà nước của người
Việt cổ mang những đặc điểm của của sự hình thành nhà nước phương Đông cổ đại, đồng
thời nó cũng có những điểm đặc thù riêng biệt. Việc nghiên cứu những điểm đặc thù trong
điều kiện kinh tế-xã hội cho sự ra đời nhà nước của người Việt cổ sẽ giúp chúng ta hiểu rõ
hơn về sự hình thành nhà nước cũng như ảnh hưởng của nó đến quá trình phát triển của
nhà nước và pháp luật Việt Nam trong tiến trình lịch sử.
B-NỘI DUNG
1.Cơ sở lý luận về sự ra đời của nhà nước.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhà nước chỉ xuất hiện khi có các điều
kiện: Thứ nhất, có sự chuyển đổi từ nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế sản xuất-xã hội-
trao đổi dựa trên cơ sở của sự xuất hiện và bảo vệ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Thứ
hai, có sự phân chia xã hội thành những cực đối lập không điều hòa, tức là phân chia xã hội
thành các giai cấp đối kháng và mâu thuẫn giai cấp đã trở nên gay gắt, không thể điều hòa
được.
2.Những điểm đặc thù trong điều kiện kinh tế-xã hội cho sự ra đời nhà nước của
người Việt cổ.
2.1. Đặc thù về kinh tế.
Điều kiện kinh tế là nguyên nhân chính dẫn tới sự ra đời của nhà nước. Với những
điều kiện thuận lợi về tự nhiên, khí hậu nông nghiệp đã trở thành nền kinh tế chủ đạo của
nước ta. Nếu như vào đầu thời kỳ Hùng Vương (giai đoạn Phùng Nguyên) công cụ bằng đá
chiếm ưu thế, thì trải qua các giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun, nhất là từ Đông Sơn công cụ
lao động đã có bước tiến lơn lao, chủ yếu là công cụ bằng đồng thau và bắt đầu xuất hiện
công cụ bằng sắt như lưỡi cày đồng, nhíp đồng, lưỡi cuốc, mai thuổng…(riêng ở Cổ Loa
đã tìm thấy gần 100 lưỡi cày bằng đồng). Nền nông nghiệp nước ta đã có một bước chuyển
lớn từ nông nghiệp dùng cuốc sang nông nghiệp dùng cày với lưỡi cày bằng kim loại. Điều
đó đã góp phần nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy sự phân hóa các ngành nghề:
Về trồng trọt, từ trồng trọt nưỡng rẫy là phổ biến chuyển sang lấy nông nghiệp trồng
lúa nước làm chủ đạo. Theo tài liệu khảo cổ học, phân tích 4 mẫu thóc cháy và trấu lấy từ

Khi kinh tế phát triển, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều không những đáp ứng đủ
nhu cầu của con người mà còn xuất hiện sản phẩm thặng dư và chính sự tích tụ sản phẩm
thặng dư đã khiến cho xã hội có sự phân hóa giàu nghèo. Tuy nhiên sự phân hóa giàu
nghèo đó chưa thật sâu sắc, xã hội chưa phân thành giai cấp mà mới phân chia thành các
tầng lớp sau:
Tâng lớp quý tộc: họ vốn là con cháu của các thủ lĩnh liên minh các bộ lạc, tộc
trưởng thị tộc cùng gia đình của họ. Họ là những quý tộc thế tập chứ không phải là chủ nô
hay địa chủ vì lợi tức mà họ thu được chủ yếu thông qua việc bóc lột nông dân công xã và
cũng chưa có ruộng đất tư.
Tầng lớp thứ hai là nông dân công xã nông thôn, chiếm đa số trong xã hội và là lực
lượng sản xuất chủ yếu. Họ được công xã chia ruộng để cày cấy nhưng cũng bị quý tộc bóc
lột bằng các hình thức cống nạp, lao dịch. Tuy nhiên đời sống của nông dân công xã tương
đối ổn định và tự do, khác với địa vị của nô lệ.
Tầng lớp nô tì có địa vị thấp nhất trong xã hội với số lượng không nhiều. Họ ít khi
tham gia sản xuất mà chủ yếu phục dịch trong các gia đình quý tộc.
Có thể thấy rằng, đến giai đoạn Đông Sơn, sự phân hóa xã hội đã thể hiện rõ nét cả
sự phân hóa giàu nghèo và sự phân hóa về địa vị xã hội. Tuy nhiên quá trình phân hóa diễn
ra rất chậm chạp, kéo dài hàng ngàn năm và mức độ phân hóa xã hội vẫn chưa tới mức sâu
sắc, chưa mang tính đối kháng giai cấp. Nguyên nhân chủ yếu là do sự tồn tại bền vững
của công xã nông thôn với chế độ sở hữu chung về ruộng đất. Đây chính là điểm đặc thù so
với các nước khác như Trung Quốc và nhất là các nước phương Tây cổ đại (nơi mà chế độ
tư hữu về ruộng đất đã khiến cho các giai cấp trong xã hội có sự phân hóa và mâu thuẫn
gay gắt đến mức không thể điều hòa được).
3.Yếu tố thúc đẩy sự ra đời sớm của nhà nước.
Các đặc thù về kinh tế-xã hội nêu trên vẫn chưa đủ để dẫn tới sự ra đời của nhà nước
mà mới chỉ tạo những tiền đề vật chất cần thiết ban đầu. Sự ra đời nhà nước của người Việt
cổ phụ thuộc rất nhiều vào những yếu tố xúc tác, thúc đẩy, đó chính là nhân tố trị thủy-thủy
lợi và đấu tranh tự vệ.
Với lợi thế thiên nhiên có nhiều thuận lợi, từ cuối thời Hùng Vương, cư dân đã tràn
xuống chinh phục vùng đồng bằng châu thổ của các con sông lớn và phát triển nông nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status