Vai trò của các tổ chức xã hội đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong điều kiện kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - Pdf 13

CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC KX.02/06-10
VIỆN KHOA HỌC TỔ CHỨC NHÀ NƯỚC – BỘ NỘI VỤ BÁO CÁO TỔNG QUAN
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP NHÀ NƯỚC

“VAI TRÒ CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN XÃ
HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở NƯỚC TA TRONG
ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ XÂY
DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN – CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN”
Mã số KX.02.19/06-10
(Hoàn thiện sau nghiệm thu cấp nhà nước)
Chủ nhiệm đề tài: TS. Thang Văn Phúc
Thư ký đề tài: PGS.TS. Nguyễn Minh Phương

8454HÀ NỘI- 2010


LIÊN ĐOÀN… CÓ PHẠM VI HOẠT ĐỘNG TOÀN QUỐC 2 MỤC LỤC TRANG

MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I- MỘT SỐ VÂN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI
TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY 11
1.1 - NHẬN THỨC VỀ TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC
TỔ CHỨC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT
TRIỂN XÃ HỘI 11
1.2- QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC TỔ
CHỨC XÃ HỘI Ở NƯỚC TA


CHỨC XÃ HỘI CỦA MỘT SỐ NƯỚC CHÂU ÂU

200
CHƯƠNG IV- QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI
TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ
QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 215
4.1- BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN
XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2011- 2020 VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI CÁC TỔ
CHỨC XÃ HỘI 215
4.2- QUAN ĐIỂM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ
HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

237
4.3- CÁC GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC
XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ
HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
255
KẾT LUẬN

287


lợi của các tổ chức này đối với từng nhóm cộng đồng.
Thực tế hiện nay ở nước ta, trong điề
u kiện xây dựng nhà nước pháp
quyền, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập
kinh tế quốc tế, ngày càng có nhiều tổ chức xã hội được thành lập, hoạt động
trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội với các mô hình và tên gọi rất đa
dạng, phong phú. Tính đến 10/2010 đã có gần 450 hội có phạm vi hoạt động
toàn quốc, hơn 4.200 hộ
i có phạm vi hoạt động tại tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương và hàng chục vạn hội, tổ chức cộng đồng tự quản, tổ hoà giải có
phạm vi hoạt động tại quận, huyện, thị xã, thị trấn, xã, thôn, làng, ấp, bản. Các
tổ chức xã hội đã có nhiều đóng góp trong việc phát huy dân chủ, xây dựng,
hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật và thực hiện giám sát, phản biện xã
hội đối với các chủ trương, chính sách, của Đảng và Nhà nước; tham gia tích
cực, chủ động tham gia cung ứng dịch vụ công, hỗ trợ cho hoạt động của
Chính phủ trong việc phân phối dịch vụ, tăng chất lượng dịch vụ, giải quyết

4 việc làm, xoá đói, giảm nghèo, góp phần phát triển xã hội và quản lý phát
triển xã hội.
Sự hình thành và phát triển của các tổ chức xã hội là một tất yếu khách
quan gắn liền với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo điều kiện để người dân được làm những
việc mà pháp luật không cấm nhằm thoả mãn nhu cầu và lợ
i ích ngày càng
phong phú, đa dạng của mình. Kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền đặt ra
những đòi hỏi về phát huy dân chủ nhằm đảm bảo thực thi các quyền con
người, các quyền tự do cơ bản của công dân, trong đó có các quyền liên kết

ưa đầy đủ về

5 tầm quan trọng và tác dụng của các tổ chức xã hội trong đời sống xã hội nói
chung và đối với phát triển xã hội và quản lý phát trỉên xã hội nói riêng; có
biểu hiện xem nhẹ vai trò, tác dụng của các tổ chức này; chậm ban hành, sửa
đổi các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức, hoạt động và quản lý hội cho
phù hợp tình hình mới.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do việc nghiên
cứu về vai trò của các tổ chức xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát
triển xã hội ở nước ta, nhất là trong điều kiện mới chưa thực sự được quan
tâm thích đáng. Vai trò chủ thể trong phát triển xã hội cũng như đặc điểm,
tính chất, phương thức quản lý phát triển xã hội của các tổ chức xã hội chưa
được luận giải một cách khoa học. Vì vậ
y, triển khai nghiên cứu một cách cơ
bản, có hệ thống vai trò của các tổ chức xã hội không chỉ cung cấp cơ sở lý
luận và thực tiễn cho việc phát huy vai trò của các tổ chức xã hội trong phát
triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, mà còn góp phần đổi mới nhận thức
về xã hội dân sự – một vấn đề hiện vẫn còn được xem là “nhạy cảm“ ở nước
ta.
Trong bối c
ảnh trên, việc nghiên cứu đề tài: “Vai trò các tổ chức xã hội
đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong điều kiện
phát triển kinh tế thị trường và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa - Cơ sở lý luận và thực tiễn” có ý nghĩa rất cấp thiết.

2- Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trên thế giới, các tổ chức xã hội là loại thiết chế thuộc khu vực xã hội

dân lấp chỗ trống giữa các cá nhân và nhà nước, gồm các nhóm tình nguyện
và các hiệp hội độc lập với chính quyền. Một xã hội công dân tích cực và
mạnh là nền tảng cho hoạt động quản lý nhà nước có hiệu quả, tạo ra khả
năng tranh luận với chính quyền, các mố
i quan hệ mang tính xây dựng giữa
mọi người, các cơ hội để ảnh hưởng đến chính sách, bênh vực người nghèo,
tạo ra những cơ chế cho sự tham gia của công chúng và tham gia cung ứng
dịch vụ công.
Công trình “Tương lai của nền dân chủ xã hội” của Thomas Meyer và
Nicole Breyer đã nêu ra quan điểm của các nhà lý luận dân chủ xã hội về các
chức năng của xã hội dân sự và cho rằng ở các nước theo chế độ dân chủ xã
hội, các hội đoàn và tổ chức của xã hội dân sự là những đơn vị tạo ra phúc lợi,
hạnh phúc và an sinh xã hội. Hoạt động của xã hội dân sự có tầm quan trọng
đặc biệt trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ về tinh thần và thể chất, trong việc
truyền thụ kinh nghiệm về cuộc đời và trong định hướng hành động.
Ở nước ta, kết quả nghiên cứu củ
a các Chương trình khoa học cấp Nhà
nước KX.04 (2001-2005) do GS. VS. Nguyễn Duy Quý chủ nhiệm và
KX.10.06 (2004-2006) do PGS. TS. Trần Đình Hoan chủ nhiệm đã bước đầu
xác định khái niệm xã hội dân sự và cho rằng xã hội dân sự không phải là một
thực thể do ý định chủ quan tạo lập ra, mà là sản phẩm của quá trình lịch sử -
tự nhiên, chịu sự chi phối, tác động của những nhân tố khách quan và chủ
quan nhất định và nhằm mụ
c đích đáp ứng những nhu cầu của sự phát triển xã
hội. Theo đó, xã hội dân sự ở nước ta là kết quả tất yếu của quá trình dân chủ

7 hoá đời sống xã hội, là một điều kiện đảm bảo cần thiết để cũng cố và hoàn

cộng đồng cũng như sự tương tác lẫn nhau giữa chúng trong việc tham gia
điều hành mọi hoạt động của xã hội. Trong đó bàn tay của cộng đồng được
hiểu là vai trò của các tổ chức xã hội dân sự, tổ chức cộng đồng trong việc
góp phần ổn định môi trường và xã hội, hài hoà lợi ích cho cộng đồng và huy
động nội lực nhân dân.
Công trình “
Đánh giá ban đầu về xã hội dân sự tại Việt Nam” do Dự
án CIVICUS CSI-SAT thực hiện đã bước đầu đưa ra hệ công cụ đánh giá khái
quát chỉ số xã hội dân sự ở Việt Nam, đề xuất cách tiếp cận và phương pháp

8 luận đánh giá thực trạng xã hội dân sự, quá trình xây dựng khung pháp lý cho
các tổ chức phi chính phủ và các nhóm không chính thức ở Việt Nam; phân
tích xã hội dân sự ở Việt Nam theo cấu trúc, môi trường, các giá trị, tác động
của xã hội dân sự đến sự phát triển của xã hội nói chung.
Các công trình “Xã hội dân sự. Một số vấn đề chọn lọc” do Vũ Duy
Phú chủ biên và “Xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam. Một số
vấn đề lý luận
và thực tiễn” do GS.TS. Dương Xuân Ngọc chủ biên đã bước đầu đánh giá
khái quát thực trạng xã hội dân sự ở nước ta và đề xuất phương hướng, giải
pháp xây dựng và phát triển xã hội dân sự đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện
đất nước.
Một số bài báo trên các tạp chí nghiên cứu như: “Xã hội công dân và
một số vấn đề về xã hội công dân ở
nước ta” của TSKH. Phan Xuân Sơn;
“Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự” của GS. Tương Lai; “Khung tư duy
nhận thức về xã hội dân sự” của PGS.TS. Võ Khánh Vinh; “Vai trò của xã hội
công dân đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền” của TS. Vũ Thư; “Vấn

của Văn phòng Qu
ốc hội. “Cơ sở khoa học của chuyển giao một số dịch vụ
công cho các hội, tổ chức phi chính phủ”, 2002; và “Nâng cao vai trò của các
hiệp hội các tổ chức kinh tế trong giai đoạn phát triển mới của đất nước”,
2004 của Bộ Nội vụ. “Vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong xây dựng và
thực thi các chính sách kinh tế - xã hội ở Việt Nam“ của Viện Quản lý kinh tế
Trung ương. Các
đề tài này đã đánh giá thực trạng hoạt động và kết quả đạt
được của các tổ chức xã hội trong những lĩnh vực nhất định; phân tích những
khó khăn, vướng mắc, đồng thời bước đầu đề xuất phương hướng, giải pháp
phát huy vai trò của các tổ chức xã hội trong các lĩnh vực đó.
Tuy nhiên, nhìn chung có thể nói ở nước ta chưa có một công trình nào
đi sâu nghiên cứu một cách hệ
thống và toàn diện vấn đề vai trò của các tổ
chức xã hội đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội. Hiện tại,
chưa có đề tài nghiên cứu cấp nhà nước về vấn đề này.
3- Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của các tổ chức xã hội (tổ
chức chính trị - xã hội - nghề
nghiệp, xã hội - nghề nghiệp, xã hội, tổ chức phi
chính phủ, ) đối với sự phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước
ta hiện nay. Dự báo xu hướng phát triển của các tổ chức xã hội và đề xuất các
quan điểm, giải pháp phát huy vai trò của các tổ chức xã hội đối với phát triển
xã hội và quản lý phát triển xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị tr
ường
và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.
- Các nhiệm vụ chủ yếu
+ Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về các tổ chức xã hội; vai trò, chức
năng của các tổ chức xã hội đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã

hợp nhân dân, đề tài thực hiện cách tiếp cận cấu trúc hệ thống, tức xem xét
vai trò tổ chức xã hội trong các mối quan hệ giữa thực thể hoạt động, thiết chế
bộ máy, các chủ thể trong sự tác động qua lại giữa Nhà nước – thị trường và
xã hội, giữa dân chủ với pháp luật và pháp quyền, giữa Đổi mới với ổn định
và phát triể
n bền vững.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là: phân tích, so sánh,
tổng hợp, lô gích, lịch sử, điều tra xã hội học, khảo sát thực tiễn, hội thảo, toạ
đàm khoa học, lấy ý kiến chuyên gia và các phương pháp chuyên ngành khác.
6- Tình hình triển khai đề tài
Đề tài được triển khai nghiên cứu trong 24 tháng, đến nay đã thực hiện
đầy đủ các hạng mục công việc theo đăng ký.
- Xây dựng hệ thống t
ư liệu, dịch thuật các tài liệu phục vụ đề tài;
- Điều tra xã hội học về thực trạng phát huy vai trò của các tổ chức xã hội
đối với phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội;
- Tổ chức 04 cuộc hội thảo tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh và nhiều cuộc
trao đổi, toạ đàm theo chuyên đề;

11 - Khảo sát kinh nghiệm nước ngoài
- Hoàn thành việc biên soạn các chuyên đề đã đăng ký;
- Đề tài có sự tham gia nghiên cứu của các nhà khoa học, quản lý thuộc
Bộ Nội vụ, Ban Dân vận TƯ, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ
Chí Minh, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Sở Nội vụ Hà Nội, Thành phố
Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
và nhiều liên hiệp h
ội, hiệp hội, hội trong cả nước.

12 CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA CÁC
TỔ CHỨC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ
PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1.1 - NHẬN THỨC VỀ TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC
TỔ CHỨC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT
TRIỂN XÃ HỘI
1.1. 1- Quan niệm về tổ chức xã h
ội một số nước trên thế giới và Việt
Nam
Theo từ nguyên chữ Hán thì “tổ” là sự tập hợp, gom góp lại những gì
riêng rẽ, còn “chức” là đan dệt nên, cấu trúc sắp xếp theo một trật tự nhất định
những gì được gom lại để thực hiện một chức năng nhất định. Tổ chức ra đời
do yêu cầu khách quan của sự tồn tại và phát triển của con ng
ười và xã hội.
Tổ chức xã hội là khái niệm được dùng với nhiều nghĩa khác nhau trong các
ngành khoa học khác nhau và trong cuộc sống hàng ngày. Theo nghĩa rộng, tổ
chức xã hội có thể được hiểu hoặc là một thành tố của cơ cấu xã hội, hoặc là
một dạng hoạt động, hay là mức độ trật tự nội tại, sự hài hòa giữa các thành
phần của một chỉnh thể; với ý nghĩa này, t
ổ chức xã hội chính là một hệ thống
các quan hệ, tập hợp liên kết cá nhân nào đó để đạt được một mục đích nhất
định. Nếu như giữa tập hợp các cá nhân không có những quan hệ xã hội thì họ
chưa thể được coi là thành viên của một tổ chức xã hội nào đó. Những quan
hệ này sẽ liên kết các cá nhân vào một nhóm để họ cùng thực hiện một hoạt
động chung nào

ắn kết con người theo quy luật
vận động nhất định của một cộng đồng, một tập hợp trong một tổ chức.
Từ hành động cá thể biến thành hành động tập thể là một bước phát triển
của xã hội loài người. Từ hành động tập thể tự phát mang tính phường hội trở
nên hành động có trật tự theo khế ước (dưới dạng Điều lệ
, Quy chế, Nội quy,
Chương trình hành động, Cương lĩnh của một tổ chức) là một bước phát
triển cao hơn của xã hội. Từ hành động của một tổ chức tiến tới hành động
phối hợp giữa một nhóm các tổ chức, rồi nhiều tổ chức mang tính liên minh
toàn dân trong một quốc gia hoặc nhiều quốc gia lại là một bước phát triển
cao hơn nữa của xã hộ
i. Qua từng nấc thang phát triển, con người ngày càng
hoàn thiện hơn, xã hội ngày càng tiến lên. Đó chính là một nội dung của sự
phát triển cá nhân và sự phát triển xã hội. Như vậy là sự phát triển của các tổ
chức xã hội có quan hệ rất mật thiết đến sự phát triển xã hội và quản lý sự
phát triển xã hội.
Sự phát triển của các tổ chức xã hội chịu tác động bởi nhiều yế
u tố, do
vậy mối quan hệ giữa các tổ chức xã hội với sự phát triển xã hội và quản lý
phát triển xã hội cũng chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Muốn cho sự phát
triển của các tổ chức xã hội có thể tích cực thúc đẩy sự phát triển xã hội và
quản lý phát triển xã hội, cần phải tạo ra những tiền đề và điều kiện c
ần thiết.
Tất cả những vấn đề đó nói lên rằng: vai trò của các tổ chức xã hội đối với sự
phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội là một vấn đề hàm chứa nội dung
khoa học và thực tiễn phong phú, là đòi hỏi cấp thiết của đời sống xã hội cần
được nghiên cứu trên cả hai bình diện lý luận và thực tiễn. 1

đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân.
Trong một quốc gia, bên cạnh những thiết chế xã hội còn có những thiết
chế chính trị, thiết chế kinh tế, thiết chế tôn giáo, thiết chế văn hóa cùng
những thiết chế khác. Xét riêng nhữ
ng thiết chế xã hội, cũng có nhiều hình
thức khác nhau, nhiều chức năng khác nhau, với những vai trò không giống
nhau.
Các tổ chức xã hội được tổ chức và hoạt động theo tinh thần tự nguyện
trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước, nhưng không phải là những cơ quan
mang tính quyền lực nhà nước. Chính vì thế, các tổ chức xã hội còn được gọi
là các tổ chức phi chính phủ (tiếng Anh là Non govermental organization -
NGO, tiếng Pháp là organisation non gouvernementale - ONG). Thuật ng
ữ tổ
chức phi chính phủ, theo Ngân hàng Thế giới “chỉ một tổ chức, hiệp hội, quỹ 2
Từ điển Bách khoa Việt Nam Tập 4 trang 467

15 văn hóa, xã hội (tài trợ), ủy hội từ thiện, tập đoàn phi vụ lợi hoặc các pháp
nhân khác mà theo luật pháp không thuộc khu vực nhà nước và không hoạt
động vì lợi nhuận – nghĩa là mọi khoản lợi nhuận nếu có, không được và
không thể phân phối theo kiểu chia lợi nhuận. Loại tổ chức này không bao
gồm các nghiệp đoàn, đảng phái chính trị, hợp tác xã phân chia lợi nhuận hay
nhà thờ”
3
. Theo Jonhns Hopkins, khu vực phi vụ lợi bao gồm các tổ chức 1)

chức có một tiềm năng quan trọng phục vụ cho tiến trình phát triển dân chủ;
4) Đóng vai trò là các thành tố “dân chủ tham gia” như là sự bổ khuyế
t cho 3
Xem Ngân hàng Thê giới: Sổ tay kinh nghiệm pháp luật về các tổ chức phi chính phủ
4
http//www.wikipedia.org/wiki (bản sửa đổi 24/10/2007).

16 các cơ quan “dân chủ đại diện”; 5) Có khả năng tiến tới tầm cỡ toàn cầu thông
qua việc nối kết với những tổ chức dân sự khác trên thế giới.
Theo Ngân hàng Thế giới, có ít nhất sáu lý do mà xã hội cần một khu
vực phi chính phủ vững mạnh và độc lập là: “1) thực hiện quyền tự do ngôn
luận và lập hội; 2) khuyến khích đa dạng và khoan dung; 3) tăng cường ổn
định xã hội và tuân thủ pháp luật; 4) tính hiệu quả; 5) khiếm khuyết thị trường
của khu vực công; và 6) hỗ trợ cho nền kinh tế thị trường”
5
.
Do bối cảnh lịch sử và các mối quan hệ nhà nước - xã hội khác nhau, có
những cách tiếp cận và quan điểm lý luận khác nhau về xã hội dân sự. Theo
TS. Irenne Norlund
6
, có ba cách tiếp cận đối với xã hội dân sự là: Thuyết tân
tự do cho rằng xã hội dân sự tồn tại một cách độc lập, thuộc “khu vực thứ ba”,
“khu vực tự nguyện”, ở đó các công dân tự tổ chức thành nhóm và giải quyết
các vấn đề phát sinh thông qua đối thoại “dân sự” và biện pháp phi bao lực.

17 thể thực hiện chỉ một hoặc hai hay ba chức năng, tuỳ theo khả năng và hoàn
cảnh
8
.
Theo Liên minh Thế giới vì Sự tham gia của Công dân (CIVICUS), xã hội
dân sự là “diễn đàn giữa gia đình, nhà nước và thị trường, nơi mà mọi con
người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung”
9
. Theo đó, muốn cải thiện
tính hiệu quả của nhà nước, cần phải dựa vào sức mạnh tương đối của thị
trường và xã hội dân sự. Các tổ chức xã hội có thể vừa là cộng sự vừa là đối
thủ cạnh tranh trong việc cung ứng các dịch vụ công cộng; các tổ chức này có
thể gây áp lực có ích đối với chính quyền để cải thiện việc cung cấp và ch
ất
lượng các dịch vụ công cộng. Vai trò của xã hội dân sự được nhìn nhận là lấp
chỗ trống giữa các cá nhân và nhà nước, gồm các nhóm tình nguyện và các
hiệp hội độc lập với chính quyền. Các tổ chức xã hội dân sự hoạt động tích
cực và mạnh là nền tảng cho hoạt động quản lý nhà nước có hiệu quả, tạo ra
khả năng tranh luận với chính quyền, các mối quan hệ mang tính xây dựng
giữa mọi người, các cơ hội để ảnh hưởng đến chính sách, bênh vực người
nghèo, tạo ra những cơ chế cho sự tham gia của công chúng và tham gia cung
ứng dịch vụ công
10
.
Theo C.M.Hann và Elizabeth Dunn
11
, xã hội dân sự được xem là lĩnh


18 văn hoá, dân tộc. Theo Larry Diamond
13
, xã hội dân sự là lĩnh vực của đời
sống xã hội có tổ chức, mang tính tự nguyện, tự trang trải, độc lập với nhà
nước và chịu sự ràng buộc bởi trật tự pháp luật hoặc hệ thống luật lệ chung do
cộng đồng đặt ra. Xã hội dân sự là thực thể trung gian, nằm giữa môi trường
tư và công (nhà nước), bao gồm một dải rộng các tổ chức
độc lập chính thức
và không chính thức ở nhiều lĩnh vực: 1) Kinh tế (các hiệp hội ngành nghề và
mạng lưới sản xuất, thương mại); 2) Văn hoá (đạo đức, tôn giáo, cộng đồng
và các thiết chế tổ chức khác bảo vệ các quyền, giá trị, niềm tin, tín ngưỡng,
các biểu tượng cộng đồng); 3) Thông tin và giáo dục (cho việc tạo ra và phát
tán, dù là vụ lợi hay phi vụ lợi, những kiến thức, ý tưởng, tin t
ức và thông tin
công); 4) Dựa trên lợi ích (thiết kế để thúc đẩy hay bảo vệ những lợi ích căn
bản hay lợi ích vật chất chung của các thành viên); 5) Phát triển (các tổ chức
kết hợp các nguồn lực cá nhân để cải thiện hạ tầng, thể chế, và chất lượng
cuộc sống của cộng đồng); 6) Hướng vấn đề (các phong trào bảo vệ môi
trường, quyền phụ nữ, cải cách ru
ộng đất, hay bảo vệ người tiêu dùng); 7)
Công dân (tìm các phương tiện phi đảng phái để cải thiện hệ thống chính trị
và dân chủ hoá nó thông qua việc theo dõi nhân quyền, giáo dục, vận động cử
tri, giám sát, theo dõi bầu cử, các nỗ lực chống tham nhũng…).
Theo Gerassimos Fourlanos “Xã hội dân sự được hiểu là tổng thể các tổ
chức, thiết chế xã hội tự nguyện, không phụ thuộc vào hình thức pháp lý,
cùng tự nguyện tham gia và các hoạt động vì nhữ

năng: dân chủ hoá xã hội trong một số lĩnh vực hoạt động có lựa chọn; t
ăng
cường quyền năng tác động của công dân đối với quá trình hình thành công
luận; tự giúp nhau trên tình đoàn kết; có những điều chỉnh trên tinh thần dân
chủ đối với hoạt động quản lý và đối với các đề án chính sách; chỉnh sửa
những hệ luỵ “có vấn đề” của hệ thống thị trường (gắn kết các đơn vị kinh tế
đóng ở địa phương vào mạng lướ
i xã hội dân sự); xây dựng cơ cấu thích hợp
cho hoạt động đoàn kết; hoàn thành nghĩa vụ công dân
15
. Ở các nước theo chế
độ dân chủ xã hội, các tổ chức xã hội dân sự là những đơn vị tạo ra phúc lợi,
hạnh phúc và an sinh xã hội. Hoạt động của các tổ chức này có tầm quan
trọng đặc biệt trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ về tinh thần và thể chất, trong
việc truyền thụ kinh nghiệm cuộc sống và định hướng hành động cho các
thành viên.
Những người theo chủ nghĩ
a cộng đồng cho rằng các giá trị truyền thống
văn hóa, ngôn ngữ, tập quán sinh hoạt là cơ sở để các thành viên trong cộng
đồng liên kết với nhau nhằm hướng tới sự phát triển chung, theo đó xã hội
dân sự được tạo nên từ các mối liên kết xã hội và đoàn kết xã hội, chú trọng
đến lợi ích cộng đồng. Và do đó, xã hội dân sự không chỉ là các tổ chức xã
hội được tổ chứ
c chặt chẽ dưới dạng các tổ chức phi chính phủ, mà còn là các
nhóm, tổ chức, mạng lưới xã hội bán chính thức hoặc không chính thức.
Quan điểm của những người theo “chủ nghĩa cộng hòa” cho rằng, xã hội
dân sự gắn liền với xây dựng khuôn khổ pháp luật, ở đó người dân ý thức về
trách nhiệm của họ đối với lĩnh vực công cộng của xã hội. Các tổ ch
ức tự
nguyện ra đời nhằm góp phần giải quyết những vấn đề của cộng đồng. Như

đánh bắt cá có 17.500 hội Tỷ trọng chi của khu vực này chiếm 180 tỷ Franc,
chiếm 3,3% GDP của Pháp
Ở Cộng hòa liên bang Đức có 36.000 hội, mỗi năm có trên 10.000 hội
được thành lập. Các hội có vai trò quan trọng trong các hoạt động xã hội và
phúc lợi xã hội. Các hội quản lý trên 40% bệnh viện, 85% các nhà dành cho
trẻ em, 55% các cơ sở dành cho người cao tuổi
16
.
Tại Cộng hòa Áo có khoảng 110.000 tổ chức hoạt động phi lợi nhuận,
trong đó đông nhất là các hiệp hội với 108.459 tổ chức, tiếp theo là các quỹ
công: 475, các công ty: 310, các hợp tác xã: 297 và các quỹ tư nhân: 115.
Trong lĩnh vực giáo dục, tổ chức phi lợi nhuận chiếm 11,9% tương ứng
26.682 tổ chức; trong lĩnh vực y tế, tổ chức phi lợi nhuân là 10,3%
17

Ở Liên bang Nga, tổ chức xã hội gồm nhiều loại hình với tên gọi khác
nhau như: tổ chức phi chính phủ, hội, hiệp hội, phong trào xã hội, quỹ xã hội,
tổ chức xã hội độc lập, tổ chức phi lợi nhuận Sau khi Liên Xô tan rã, số
lượng các tổ chức xã hội ở Liên bang Nga tăng lên một cách nhanh chóng,
năm 1990 chỉ có khoảng 4.000 tổ chức, chủ yếu là các hiệp hội văn hoá, thể
thao, h
ội tình nguyện với quân đội và các Quỹ hoà bình, đến năm 1996 đã có
khoảng 58.000 tổ chức đăng ký hoạt động với nhiều loại hình, tên gọi khác 16
Sứ quán Pháp: Tự do Hội trên thế giới (Tài liệu dịch)
17
Dẫn theo “Tiếp tục cải cách và đổi mới khu vực tổ chức sự nghiệp công lập cung ứng dịch vụ
giáo dục và y tế ở Việt Nam, Nguyễn Thị Tuệ Anh Chủ biên. NXB. Lao động , HN.2010. tr 110

Ở Hàn Quốc, sau khi kết thúc chế độ độc tài quân sự, bước vào thời kỳ
dân chủ hóa, số lượng tổ chức xã hội tăng lên nhanh chóng từ 11.000 năm
1996 lên 22.000 năm 2002. Và vai trò của các tổ chức xã hội được xem là
cộng tác hài hòa với chủ thể nhà nước và thị trường vì mục tiêu tiến bộ của
dân tộc; theo đó giới hoạt động xã hội cho rằng phản biện chính sách, phát
hiện cái đúng và cái sai trong chính sách nhà nướ
c là trách nhiệm của các tổ
chức xã hội. Kết quả điều tra năm 2000 tại Hàn Quốc cho thấy: 33,8% người
dân quan niệm các tổ chức xã hội phải “phê phán chính sách của chính phủ,
hiến kế và ũng hộ các chính sách thay thể”, 31% cho rằng các tổ chức xã hội
cần “bảo vệ quyền của những người bên lề xã hội”, 13,6% khẳng định vai trò
quan trọng của các tổ chức này trong việc “cung cấp các dị
ch vụ xã hội” và
13,8% ũng hộ vai trò của các tổ chức xã hội trong “thúc đẩy sự tham gia của 18
Xem Thông tin khoa học pháp lý. Số 3/2010 - Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp
19
Xem đã dân ở 15

22 người dân vì cộng đồng”
20

Ở Trung Quốc, các tổ chức xã hội, các tổ chức phi chính phủ, phi thương
mại, các quỹ được hình thành và phát triển mạnh từ khi Đảng và Nhà nước
thực hiện cải cách, mở cửa, xây dựng kinh tế thị trường, chú trọng đến pháp

- Các tổ chức xã hội là những nhóm hoặc tổ chức các thành viên nhằm
đạt được những mục đích chung của tổ chức, xã hội, cộng đồng mà không cần 20
Kang, Sang –wook, 2001 Study on NGOs growth in South Korea. Seoul Labor, March 8.2006

23 đặt ra mục tiêu trực tiếp gây ảnh hưởng, tác động đến quá trình hoạch định
chính sách của nhà nước cũng như đảng phái. …
Về mặt lịch sử, các thiết chế phi lợi nhuận, thiện nguyện đã tồn tại lâu
dài trong mọi xã hội, được coi như sản phẩm của các động cơ tôn giáo, phong
trào xã hội, lợi ích văn hoá hoặc nghề nghiệp, tinh thần đoàn kết và tươ
ng hỗ
lẫn nhau, sự hi sinh Từ thế kỷ XIX, xuất hiện ý tưởng về xã hội dân sự như
là một lực lượng để chỉnh sửa đối với chính quyền và thị trường không hoàn
hảo. Đồng thời, những nổ lực giải quyết xung đột xã hội và sự thiếu hụt dân
chủ làm cho người ta nhấn mạnh đến vai trò của các tổ chức xã hội cũng như
do bản thân các chính phủ có nhu cầu cần được hỗ trợ để thực hiện tốt các
chức năng công cộng.
Trong xã hội hiện đại, khi kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền đã
trở thành những giá trị mang tính phổ biến, các tổ chức xã hội (tên gọi chung
thường được dùng là xã hội dân sự) phát triển hết sức đa dạng về hình thức,
mềm dẻo về cơ chế
hoạt động và phong phú về nội dung, tôn chỉ, mục đích
hoạt động, dù tên gọi không giống nhau. Chẳng hạn, ở Anh, đó là các “hãng”
tương ái, tổ chức từ thiện, tổ chức tình nguyện; ở Pháp gọi là các hội công ích
và quỹ; ở Italia là các tổ chức phi vụ lợi, hoặc các ủy ban, quỹ; ở Nga gọi là

ầu để tạo nên một tiếng nói có trọng lượng hơn, có ảnh hưởng hơn đối
với xã hội và thông qua đó buộc những người cầm quyền phải nghe thấy và
có sự quan tâm đáp ứng thỏa đáng ở mức độ nhất định.
Sự tham gia của người dân vào các hoạt động chính trị, xã hội được coi
như một giá trị dân chủ và như một cơ hội cho sự
phát triển tự thân và đầy đủ
của mỗi cá nhân. Ngay cả trong trường hợp mọi quyết định cuối cùng đều là ý
chí của đa số, các nhóm thiểu số vẫn được phép vận dụng những phương pháp
đã được thể chế hoá để giành ảnh hưởng hoặc thắng lợi cho quan điểm của
mình. Một trong những cách thức người dân thực hiện những quyền dân chủ
của mình là thông qua các t
ổ chức xã hội.
Để đảm bảo mở rộng tiến trình dân chủ trên quy mô quốc gia, giải quyết
các xung đột một cách hoà bình, thông qua các phương tiện hợp hiến và hợp
pháp, các học thuyết chính trị phương Tây cho rằng cần phải có sự hiện diện
của các tổ chức xã hội tương đối độc lập. Sự hình thành các tổ chức xã hội
trong khuôn khổ pháp luật là một phương thức an toàn cầ
n thiết giải tỏa
những căng thẳng và năng lượng tích tụ trong xã hội. Nói một cách khác, các
lý thuyết này cho rằng, không thể tồn tại dân chủ ở nơi không tồn tại các tổ
chức xã hội độc lập tương đối. Mà mục đích là để kiểm soát lẫn nhau, kiểm
soát nhà nước và thực thi dân chủ.
Mặt khác, với một chi phí có hạn, nhà nước không phải lúc nào cũng đủ
khả năng và ngu
ồn lực để quan tâm đến mọi lĩnh vực của cuộc sống, đáp ứng
mọi nguyện vọng, nhu cầu của mọi người dân. Nhà nước cũng không thể bao
biện, bao quát, áp đặt, làm thay được xã hội công dân trong nhiều vấn đề. Các
tổ chức xã hội có khả năng làm tốt hơn nhà nước trong một số lĩnh vực và đó
cũng là nhu cầu tất yếu của người dân tự
thực hiện những nguyện vọng của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status