1. Giới thiệu chung về VQG Cúc Phương :
1.1.Lịch sử.
Vườn quốc gia Cúc Phương là một nơi mang giá trị lịch sử và là địa điểm khảo cổ.
Các di vật của người tiền sử có niên đại cách đây khoảng 12.000 năm đã được phát hiện tại
đây, chứng tỏ con người đã từng sinh sống tại khu vực Cúc Phương từ 7.000 đến 12.000
năm trước. Người ta đã phát hiện một loạt các hiện vật như mồ mả, rìu đá, mũi tên đá, dao
bằng vỏ sò, dụng cụ xay nghiền v.v. trong một số hang động thuộc vườn quốc gia này. Gần
đây, một phần bộ xương của một loài lưỡng cư biển, rất có thể là thằn lằn cá đã được phát
hiện trong địa bàn vườn.
Năm 1960 , rừng Cúc Phương được công nhận là khu bảo tồn rừng và theo Quyết
định 72/TTg ngày 7 tháng 7 năm 1962 Cúc Phương được quyết định thành lập như là một
khu rừng cấm với diện tích 20.000 ha đánh dấu sự ra đời khu bảo vệ đầu tiên của Việt Nam
. Quyết định số 18 QĐ-LN ngày 8 tháng 1 năm1966 chuyển hạng lâm trường Cúc Phương
thành Vườn quốc gia Cúc Phương và thành lập một Ban quản lý vườn quốc gia này. Quyết
định số 333/QĐ-LN ngày 23 tháng 5 năm 1966 quy định chức năng và trách nhiệm của
Ban quản lý .
1.2. Đặc điểm tự nhiên.:
● Vị trí địa lý : Vườn quốc gia Cúc Phương trải dài từ 20°14’ đến 20°24’ vĩ bắc,
105°29’ tới 105°44’ kinh đông , nằm trong một thung lũng lớn dài 25km , giữa hai dãy núi
đá vôi trong đoạn cuối dãy Hoàng Liên Sơn , ở ranh giới ba tỉnh Hoà Bình , Thanh Hoá và
Ninh Bình (nhưng phân nửa nằm trên diện tích Ninh Bình).
● Diện tích : Theo luận chứng kinh tế - kỹ thuật của vườn quốc gia đã được Viện
điều tra quy hoạch rừng xây dựng vào tháng 10 năm 1985 và được chủ tịch hội đồng Bộ
trưởng phê duyệt theo quyết định số 139/CT xác định tổng diện tích đưa ra là 22.200 ha
bao gồm 11.350 ha thuộc địa giới tỉnh Ninh Bình , 5.850 ha thuộc địa giới tỉnh Hòa Bình
và 5.000 ha thuộc địa giới tỉnh Thanh Hóa. VQG Cúc Phương được phân làm 3 khu chức
năng :Thứ nhất là khu bảo vệ nguyên vẹn có diện tích là 20.745 ha có chức năng duy trì,
bảo vệ những điều kiện tự nhiên nguyên thủy nhất, bảo vệ nguyên vẹn tài nguyên thiên
nhiên, cảnh quan di tích lịch sử. Thứ hai là khu chuyên dùng với diện tích 743 ha có chức
năng hoạt động dịch vụ, quản lý hành chính, nghiên cứu khoa học, dịch vụ du lịch và dân
cư xen kẽ. Thứ ba là vùng đệm nhằm tạo vành đai bảo vệ tránh những tác động xấu của
những ai yêu thích du lịch sinh thái.
Hệ sinh thái.
• Thực vật : Cúc Phương có sự phát triển hệ
thực vật rất phong phú và đa dạng, là nơi tập trung của
4 luồng thực vật khác nhau. Một là luồng á nhiệt đới
(long não, mộc lan, máu chó ). Hai là luồng nhiệt đới
nóng ẩm (các cây họ thầu dầu, chò chỉ ). Ba là luồng ôn
2
đới (dẻ, ngát ). Bốn là luồng Tây Nam (họ bàng, họ gạo, họ bồ hòn). Theo số liệu gần
đây , Cúc Phương có 1983 loài thực vật bậc cao thuộc 912 chi trong 219 họ, 86 bộ của
7 ngành, trong đó có 433 loài cây làm thuốc, 229 loài cây ăn được, nhiều loài đươc ghi
trong sách đỏ Việt Nam. Thảm thực vật Vườn quốc gia Cúc Phương có ưu thế là rừng
trên núi đá vôi,92% đất có thực vật che phủ,rất phong phú về loài. Ở một đôi chỗ, rừng
hình thành nên nhiều tầng tán có thể đến 5 tầng rõ rệt, trong đó tầng vượt tán đạt đến
độ cao trên 40m. Do địa hình dốc, tầng tán thường không liên tục và đôi khi sự phân
tầng không rõ ràng. Nhiều cây rất phát triển hệ rễ bạnh để đáp ứng vơi tầng đất mặt
thường mỏng. Vườn quốc gia hiện là nơi có nhiều loại cây gỗ lớn như: chò xanh, chò
chỉ, đăng Với diện tích bằng 1/700 diện tích miền Bắc, 1/1500 diện tích lãnh thổ cả
nước nhưng hệ thực vật VQG Cúc Phương chiếm tỷ lệ 76% số họ, 48,6% số chi, 30%
số loài của miền Bắc và chiếm 68,9% số họ, 43,6% số chi, 24,6% số loài hiện có ở Việt
Nam. Những con số đó cho thấy tầm quan trọng của rừng Cúc Phương và bảo tồn Đa
dạng sinh học. Song Vườn Quốc gia Cúc Phương còn nổi tiếng ở chỗ tồn tại những cổ
thụ khổng lồ, như cây chò chỉ ( Parashorea chinensis ) sống trên 1000 năm tuổi, có
phần thân dưới cành tới 70m, đường kính ngang ngực 2,4m ; cây chò xanh ( Terminalia
myriocarpa Heurcket Muell ) thân cao 45m, chu vi gốc 25m ; cây Vù hương
(Cinnamomum balansae) cao 48m, đường kính 2,5m v.v…Riêng hoa phong lan có tới
50 loài, có loài cho hoa và hương thơm quanh năm.
● Động vật : Hệ thực vật phong phú đa dạng của Cúc Phương tạo điều kiện phát triển
của nhiều loài động vật.Cúc Phương có tới 88 loài thú; 308 loài chim trong đó có nhiều
loài thuộc nhóm gõ kiến, sáo, quạ, đớp ruồi; 43 loài lưỡng thê; 67 loài bò sát, 65 loài cá ;
nằm nép dưới bóng cây ở vùng đệm của rừng.
1.3. Dân cư.
● Dân số: Khi vườn quốc gia Cúc Phương được thành lập, có khoảng 500 người sống
trong các xóm thuộc vùng lõi của vườn quốc gia này. Trong giai đoạn di dời đầu tiên, kết
thúc vào cuối năm 1990, 6 xóm với 650 người đã được chuyển đến định cư ở vùng bán sơn
địa ngoài cửa vườn. Tuy nhiên, hiện vẫn còn khoảng 2.000 người sống dọc theo bờ sông
Bưởi bên trong vườn. Số dân này cũng đang được lên kế hoạch để di dời. Khoảng trên
62000 dân sống ở vùng đệm của vườn quốc gia, rất nhiều người trong số họ có cuộc sống
phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên bên trong vườn .Cúc Phương là một trong
2 xã miền núi của huyện Nho Quan.Trung tâm vườn có 9 bản trong đó địa phận tỉnh Thanh
Hoá 2 bản, Hoà Bình 1 bản , Ninh Bình 6 bản. Số bản trên đất Ninh Bình đều nằm gần
đường ô tô từ cửa rừng đến trung tâm. Đó là bản Mạc, bản Đang, bản Mền, bản Đồng Cơn,
bản Đăng và sâu nhất là bản Bống.
● Tập quán sinh hoạt cụ thể : Người Mường Cúc Phương ở nhà sàn làm bằng gỗ, vách
thường làm bằng nứa, giữa thờ thần rừng và gia tiên, gian giữa có một cửa sổ nhìn ra
hướng cổng. Ngày lễ Tết hoặc cúng giỗ tổ tiên, cổng được quét vôi treo vào đó cái rổ,
thúng hoặc nồi hỏng.Về tôn giáo, người Mường Cúc Phương có hai tôn giáo chính, đó là
4
đạo Phật và đạo Thiên chúa.Trong bản có già bản là người cao tuổi có uy tín, có hiểu
biết. Trong bản còn có một nhân vật quan trọng là thầy mo, việc chính là cúng ma . Thầy
mo có chút hiểu biết về các loại lá cây rừng để chữa các bệnh thông thường. Người
Mường không có chữ viết riêng, tiếng nói không riêng nhưng có một số từ vực có dùng
cả tiếng Kinh, những từ vực ấy khi phát âm có lái đi một chút. Người Mường có tập tục
“Quyền ún “ (ún là em ) nghĩa là quyền của người nhỏ nhất trong nhà không kể trai hay
gái thể hiện lĩnh vực bán đổi các tài sản trong nhà. Người Mường Cúc Phương trước
ngày di dời khỏi trung tâm rừng, phương thức canh tác là làm nương rẫy, trồng ngô, lúa,
sắn, chặt cây làm nương rẫy, tháng 9 thu hoạch lúa ngô. Văn hoá ẩm thực Cúc Phương
được biết đến với rượu cần và cơm lam. Trong tập tục cưới hỏi,thách cưới to nhỏ phụ
thuộc vào vị trí xã hội, quan hệ của nhà gái .
1.4. Cơ sở hạ tầng.
quốc gia nhưng tóm lại nó là hoạt động mang tính giáo dục cao, góp phần bảo tồn và cải
thiện đời sống của người dân địa phương khu vực đến tham quan. Hội thảo xây dựng chiến
lược quốc gia về phát triển DLST 9-1999 tại Hà Nội đã đưa ra định nghĩa về DLST : “
DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, gắn với giáo dục môi
trường, có đóng góp của nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực
của cộng đồng địa phương”.
Các nhà kinh doanh hướng tới DLST phải tuân thủ những nguyên tắc, yêu cầu mang
tính đạo đức và trách nhiệm cao với mục tiêu chính là: gìn giữ và bảo tồn các đặc tính tự
nhiên của HST bao gồm các loài động thực vật trong đó, các giá trị văn hoá, phong tục tập
quán truyền thống của những người dân địa phương sinh ra và cùng tồn tại với HST đó.
Giá trị kinh tế từ hoạt động này mang lại không nhỏ. Một trong những công thức tính đến
hiệu quả kinh tế mà du lịch nói chung và DLST nói riêng mang lại là hiệu quả số nhân
trong kinh tế( multiplier effect). Ví dụ khách du lịch mua một tấm thổ cẩm do người dân
địa phương dệt nên, hoạt động này mang lại thu nhập cho người dệt thổ cẩm nhưng kéo
theo đó người trồng dâu nuôi tằm, người nhuộm thổ cẩm cũng có thu nhập từ việc bán
được tấm thổ cẩm đó.Cũng từ phân tích mô hình số nhân, DLST đã mang lại những hiệu
quả kinh tế như:Làm tăng nguồn ngân sách cho các địa phương phát triển du lịch; làm tăng
giá trị xuất khẩu tại chỗ; góp phần phát triển các ngành kinh tế khác phát triển theo; mở
mang, hoàn thiện cơ sở hạ tầng địa phương.
Tại VQG Cúc Phương dự án GEF/SGP đang được triển khai thành công. Đây là
chương trình tài trợ các dự án nhỏ về quản lý bền vững rừng nhiệt đới( SGP PTF) của môi
trường toàn cầu (GEF) với nội dung hỗ trợ các cộng đồng dân tộc thiểu số nghèo ở miền
núi quản lý rừng đồng thời đấu tranh chống nghèo đói ở địa phương, ngoài ra dự án còn
đảm bảo kết hợp với bảo vệ môi trường.
Hiện tại VQG Cúc Phương đã đầu tư xây dựng hoàn chỉnh một làng du lịch ở bản
Mường( chính là bản Khanh Vôi có đồng bào Mường sinh sống ở đó lâu đời) phía Tây
6
theo mô hình mẫu: Nông nghiệp, làng nghề truyền thống và du lịch. Trong làng có đường
ôtô, có thuỷ điện nhỏ, có vườn cây ăn quả và có nghề dệt thổ cẩm truyền thống được khôi
phục với những đêm lễ hội cồng chiêng, uống rượu cần, múa hát cùng với các đoàn du
● Hoạt động du lịch:
Hiện nay, nhu cầu du lịch đặc biệt là DLST tăng cao. Đây là loại hình du lịch không
chỉ mang lại cho du khách sự sảng khoái, thoải mái khi được hít thở không khí trong lành
7
và khám phá những điều bí ẩn bên trong mà đặc biệt hơn nó giúp du khách có thêm kiến
thức về bảo vệ môi trường và ĐDSH. DLST khác với các loại hình du lịch khác cũng bởi
nó mang tính giáo dục cao. Vì vậy mà chi phí của một chuyến DLST cũng cao hơn so với
các loại du lịch đại trà khác.Có nhiều giá tour khác nhau để đến Cúc Phương, sau đây là
giá tour riêng tham quan Cúc Phương trong một ngày:
Số lượng 1 2 3 4
6-8trở
lên
GiáUSD/
khách
97 62 47 39 32
Mức giá bao gồm: - Xe ô tô điều hoà, đời mới đưa đón trong chương trình.
- Ăn trưa.
- Phí tham quan suốt hành trình.
- Lái xe, hướng dẫn viên nhiệt tình, giàu kinh nghiệm.
Mức giá không bao gồm: Bảo hiểm du lịch, nước uống, điện thoại, tips cho HDV và
các dịch vụ cá nhân khác.
Cúc Phương là một trong những địa điểm DLST hấp dẫn bởi những điều kiện sẵn có
ở trên. Nó đã thu hút nhiều công ty du lịch kí hợp đồng các tour du lịch và hiện nay nhiều
công ty du lịch phía Nam như: Sài Gòn Tuorist, Bến Thành Tuorist, World Wide
Adventure,… đều có gắn logo của Cúc Phương trên hành trình tour dã ngoại.Du khách đến
đây có thể lựa chọn các tuyến du lịch sao cho phù hợp với túi tiền của mình.
*Tuyến, điểm tham quan khu cổng vườn gồm:
Vườn thực vật: 1 điểm tốt cho việc dạo bộ, đặc biệt vào sáng sớm, hoặc chiều
tối( 3km, 1,5 -2 giờ: Yêu cầu có hướng dẫn viên của VQG đi cùng).
Chòi quan sát: Một tuyến leo núi ngắn, cảnh quan đẹp(300m, 0,5-1 giờ, mức độ vừa
trong việc khai thác lợi thế của mình. Từng đoàn du khách vẫn nối đuôi nhau đến thăm
rừng nhất là vào những dịp cuối tuần. Năm 2003 VQG đã đón 52000 lượt khách , trong đó
khách quốc tế chiếm gần 10% , và chỉ riêng 8 tháng đầu năm 2004 có 51000 lượt người
đến đây thăm quan.
2.3 Các hoạt động mang tính chất bảo tồn các tài nguyên phục vụ DLST.
VQG Cúc Phương là khu bảo tồn đầu tiên được thành lập năm 1962 với mục tiêu bảo
tồn hệ sinh thái rừng, bảo tồn tính đa dạng sinh học của các loài động thực vật . Hoạt động
này đồng nghĩa với việc bảo tồn các tài nguyên phục vụ DLST.
Về động vật: Hiện nay, ước lượng quần thể của một số loài bị đe doạ ở cấp độ toàn
cầu ở Việt Nam, minh hoạ cho tính chất đặc biệt hiếm của một số loài.
9
Nguồn:
Birdlife
International, chương trình Việt Nam.
* Đặc hữu Việt Nam.
Theo khảo sát thì số lượng voọc sống ở rừng Cúc Phương là lớn nhất, trong đó có
một số loài chỉ sống ở đây như voọc mông trắng và nó được xem là biểu tượng của VQG
Cúc Phương. Hiện tại Bộ NN& PTNT và ban quản lý VQG đầu tư khá lớn về kinh phí, trí
tuệ để bảo tồn, phát triển tính đa dạng của hệ động thực vật, đồng thời quy hoạch vườn trở
thành một điểm tham quan du lịch lý tưởng. Ngày 28 tháng 7 năm 1999, Bộ nông nghiệp
10
Loài Tình trạng
đe doạ toàn
cầu
Quần thể
Voọc mông trắng
Trachypithecus
delacouri*
CR <500
Voọc Cát Bà
cryptomerioides
VU c.100
và phát triển nông thôn đã gửi Công văn số 2702/BNN-LN cho Ban điều hành Quỹ môi
trường toàn cầu Việt Nam xin tài trợ của Quỹ môi trường toàn cầu quốc tế (GEF) cho xây
dựng dự án Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông. Theo dự án này, liên vùng nối liền Vườn
quốc gia Cúc Phương và vùng núi đá vôi Pù Luông sẽ được xây dựng thành khu bảo tồn
thiên nhiên nhằm bảo vệ và phục hồi sinh cảnh rừng đá vôi và các động vật sinh sống trong
đó.
Tại Cúc Phương tổ chức động vật học Frankfurt đã thành lập Trung tâm cứu hộ các
loài linh trưởng bị đe doạ (EPRC) nhằm nuôi nhốt gây giống và nghiên cứu thú y đối với
các loài vượn, culi và voọc của Việt Nam. EPRC nhận linh trưởng từ các cơ quan chức
năng của Nhà nước tịch thu của những đối tượng mua bán trái phép động vật hoang dã về
chữa trị và chăm sóc. Đây là tổ chức được các chuyên gia nước ngoài đánh giá thành công
nhất khu vực Đông Nam Á, hơn 100 cá thể gồm các loại Voọc Cát Bà, Voọc Mông trắng,
voọc chà vá chân xám, chân đen, chân đỏ, voọc Hà Tĩnh, culy, vượn được nuôi dưỡng,
chăm sóc.
Voọc chân đỏ
Ngoài ra ban quản lý VQG còn là nơi triển khai dự án sinh sản, sinh thái loài cầy vằn
Bắc và chương trình sinh thái học & bảo tồn rùa. Hai chương trình này triển khai nhằm
thiết lập trại nhân nuôi sinh sản quần thể các loài động vật bị đe doạ trên toàn cầu hiện nay
bởi tình trạng mua bán trái phép động vật hoang dã. Trung tâm bảo tồn rùa ở Cúc
Phương(TCC) thành lập năm 1998 bởi FFI là trung tâm hàng đầu của Việt Nam trong công
tác bảo tồn rùa. Diện tích của trung tâm là 2.000 m2.Trong năm 2004, trung tâm đã thả gần
11
400 con rùa đất lớn và núi vàng tại vườn quốc gia Cát Tiên. Trung tâm hiện nuôi dưỡng và
bảo tồn 16/23 loài rùa nước ngọt với hơn 820 cá thể, trong đó có một số loài quan trọng và
khó sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt như rùa cổ bự, rùa bốn mắt của Việt Nam. Đặc biệt,
trung tâm còn nghiên cứu ấp nở thành công 10 loài rùa, trong đó có những loài quý hiếm
như rùa Trung Bộ(Mauremys annamensis),rùa sa nhân(Pyxidea mouhotii), rùa
núivàng(Indotestudoelongata),
Lực lượng kiểm lâm là một trong những người đóng vai trò quan trọng công tác bảo
vệ rừng. Lực lượng kiểm lâm VQG thường xuyên bám rừng , tổ chức các đợt tuần tra kiểm
soát để ngăn ngừa kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật để bảo vệ và phát triển rừng .
Triệt phá các tụ điểm khai thác tài nguyên rừng trái phép, đặc biệt là xây dựng mạng lưới
quần chúng tham gia vào công tác bảo vệ rừng .
Việc đào tạo nâng cao trình độ cùng số lượng của lực lượng kiểm lâm là cần thiết.
Tính đến năm 2005 số lượng kiểm lâm trên 1000 ha ở rừng Cúc Phương là trên 5 người,với
trình độ đạt mức cao trong cả nước. Họ đã góp phần trong việc giảm tối đa các hoạt động
săn bắt và chặt phá rừng trái phép. Tuy nhiên, yêu cầu của việc bảo tồn rừng không chỉ
dừng lại ở đó, Ban quản lý VQG cần có thêm biện pháp nhằm nâng cao số lượng cũng như
trình độ của cán bộ kiểm lâm hơn nữa.
13
(Tetiaryeducation: tốt nghiệp cấp 3; secondaryeducation: tốt nghiệp cấp 2;Worker: công
nhân)
Bên cạnh đó ban quản lý rừng còn tổ chức nhiều cuộc hội thảo và mở các lớp học
trong trường nhằm đào tạo về kiến thức và kĩ năng bảo vệ đa dạng sinh học.
Người dân địa phương cũng đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ rừng.
Chính họ là những người sống với rừng, hưởng lợi từ các nguồn tài nguyên của rừng, vì
thế một mặt họ cũng có các hoạt động tham gia giữ rừng và bảo vệ rừng. Nếu bạn đi tham
quan VQG thì trên đường đi bạn sẽ bắt gặp các bia tưởng niệm người dân Mường đã tham
gia giữ rừng. Hiện nay khi người dân đã dần ý thức được sự cần thiết phải bảo vệ rừng thì
họ cũng ngày càng tích cực tham gia vào việc trồng và chăm sóc rừng.
(Nguồn: Cục BVMTvà UNDP(2003),Tordoffetal.(2004), World Bank(2004) )
3. Vai trò của các tổ chức, cá nhân đối với DLST tại khu vực.
Vườn quốc gia Cúc Phương có 3 nhiệm vụ chính là: bảo tồn thiên nhiên, nghiên cứu
khoa học, và du lịch sinh thái. Để đảm bảo tốt được ba nhiệm vụ trên thì cần sự góp sức
không chỉ của ban quản lý rừng, các tổ chức quốc tế mà còn phải có cả chính quyền địa
phương, người dân và các công ty kinh doanh du lịch.
3.1 Chính quyền địa phương
Chính quyền địa phương nơi có tài nguyên về DLST ngoài những nhiệm vụ về quản
vệ rừng, chấm dứt được tình trạng phá rừng tự nhiên trên núi đá kéo dài nhiều năm, đặc
biệt là vùng đệm vườn quốc gia Cúc Phương. Không để xảy ra các vụ khai thác rừng, phá
rừng, cháy rừng lớn tạo ra điểm nóng, phối hợp với lực lượng kiểm lâm kiểm tra, kiểm soát
việc vận chuyển lâm sản qua địa bàn tỉnh đạt hiệu quả cao. Giai đoạn1999_2000, bình
quân mỗi năm tịch thu 10 tấn động vật hoang dã, hàng nghìn m3 gỗ, trong đó có nhiều loại
quý hiếm thu nộp ngân sách mỗi năm 3 tỉ đồng (năm 2006 chi cục đã nộp cho ngân sách 2
tỉ đồng) bảo vệ rừng đạt kết quả cao đó chính là kết quả của sự phối hợp, liên kết giữa
chính quyền địa phương với ban quản lý rừng.
15
Tỉnh Ninh Bình là nơi đầu tư cơ sở hạ tầng cho việc phát triển DLST tại tỉnh góp
phần giúp nâng cao đời sống nhân dân địa phương . Đồng thời tỉnh là nơi hỗ trợ lớn nhất
để phát triển các mô hình DLST về vốn, nhân lực, khoa học cũng như các chính sách phát
triển để làm kinh tế phù hợp với việc khai thác các yếu tố tự nhiên và văn hóa của địa
phương. Chính quyền đã có những chính sách phát triển mang tầm chiến lược, phát triển
DLST một cách bền vững.
- Phát triển cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật, chính quyền địa phương tạo điều kiện
thuận lợi để thu hút đầu tư vào phát triển xây dựng đường giao thông, các dự án về đạo tạo
và giáo dục, trường học , hệ thống y tế trạm xá.
- Kiện toàn bộ máy quản lý và hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý khai
thácDLST. Chi cục kiểm lâm giúp UBND tỉnh ,sở NN&PTNT thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về rừng ở địa phương, đồng thời cũng là cơ quan thừa hành pháp luật về quản
lý, bảo vệ, và phát triển rừng ,quản lý lâm sản(theo nghị định 119 CP )
- Phát triển nguồn nhân lực du lịch đặc biệt là lực lượng kiểm lâm viên, lực lượng
hướng dẫn viên.
- Tuyên truyền quảng bá du lịch. Đây là một hoạt động hết sức quan trọng, đòi hỏi
một quá trình lâu dài với những hướng đi đúng đắn.
3.2 Các tổ chức quốc tế:
Các tổ chức quốc tế cũng góp phần rất quan trọng trong việc giúp tỉnh bảo tồn các
loài động thực vật quý hiếm cũng như tạo nền tảng phát triển DLST tại địa phương. Họ là
các tổ chức xuyên quốc gia với mục đích là bảo tồn hệ động thực vật quý hiếm, các di sản
hàng trăm học viên là các bộ trong ngành. Kết quả đào tạo được bộ và các chuyên gia đánh
giá cao. Đây là một đóng góp đáng kể trong việc nâng cao nhận thức về bảo tồn đa dạng
sinh học ở nước ta, nó đã làm thay đổi hẳn cách nghĩ cách làm ở cơ sở theo chiều hướng
tiến bộ hoà nhập với thế giới.
- Vườn còn hợp tác với trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốcgia -trường
đại học Illinois ở Chicago nghiên cứu về tiềm năng cây dược liệu quý vườn quốc gia Cúc
Phương, phương hướng sử dụng và bảo tồn nó. Dự án này có ý nghĩa quan trọng đối với
nền y học và sức khoẻ con người .
Thông qua các dự án trên đã giải quyết được nhiều vấn đề mang tính chất chiến lược
trong sự nghiệp xây dựng và phát triển rừng đội ngũ cán bộ của vườn theo đó cũng lớn
mạnh cả về số lượng và chất lượng .Đồng thời kinh phí tài trợ của dự án này lên đến trên
một triệu đô la. Đây là một lượng tiền không nhỏ đối với một vườn quốc gia trong việc bổ
sung cơ sở hạ tầng và trang thiết bị công tác.Có thể nói trong mười năm đổi mới vừa qua
sự nghiệp nghiên cứu khoa học ở vườn đã phát triển một cách bước nhảy vọt, mở ra hướng
mới làm cơ sở bảo tồn bền vững góp phần quan trọng vào sự nghiệp nghiên cứu khoa học
nước nhà nói chung.Đồng thời các dự án trên có tính giáo dục cộng đồng rất cao,các dự án
này đã đến được với người dân, giúp cho họ có những nhận thức đúng đắn về việc bảo vệ
17
rừng. Có được thành quả đó chính là sự hoạt động rất có hiệu quả của các dự án nghiên
cứu khoa học của các tổ chức quốc tế đang hoạt động tại Cúc Phương.
3.3 Các công ty du lịch (hệ thống nhà hàng ,khách sạn).
Các nhà kinh doanh du lịch là một trong những mắt xích không thể thiếu trong hệ
thống kinh doanh các sản phẩm du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái. Một địa phương muốn
phát triển du lịch sinh thái ngoài những ưu thế về đa dạng sinh học thì cần phải có những
dịch vụ du lịch đi kèm với chất lượng tốt, hệ thống nhà hàng, khách sạn cơ sở hạ tầng cần
được trang bị tốt. Quan hệ giữa các mắt xích trong hệ thống luôn là quan hệ win-win (đôi
bên cùng có lợi).
Các công ty du lịch đóng góp tài chính cho chính quyền sở tại, những nơi quản lý tài
nguyên bằng các khoản thuế và lệ phí thu được từ hoạt động DLST.
Các công ty du lịch đã đóng góp một phần quan trọng trong việc quảng bá du lịch địa
chung, DLST nói riêng thì các công ty du lịch đóng một vai trò hết sức quan trọng.Từ các
công ty du lịch như SaiGon touris, Ha Noi touris đều tổ chức các tour cho du khách trong
và ngoài nước đi tham quan rừng với nhiều hình thức khác nhau : đi bộ, leo núi, thăm các
động người xưa, đặc biệt là các tuyến du lịch mạo hiểm đi xem động vật hoang dã vào ban
đêm, các loại hình du lịch ngày càng đa dạng với nhiều tuyến du lịch phong phú.Giá cho
một ngày đi khám phá rừng Cúc Phương thường là 35 USD/ngày từ Hà Nội về bao gồm
các chi phí vận chuyển , vé tham quan, ăn trưa.
Ngoài ra Ninh Bình có một hệ thống khách sạn nằm rải rắc từ trung tâm thành phố
vào đến vườn quốc gia Cúc Phương như: khách sạn Thuỳ Anh với chất lượng hai sao-37
phòng, khách sạn Tràng An-24 phòng, khách sạn Hương Trà (2 sao) -77 phòng. Đặc biệt là
có một khu tắm nước khoáng Cúc Phương nằm ngay trên địa phận tỉnh Nho Quan do công
ty TNHH Xuân Hoà làm chủ đầu tư. Đây là loại hình du lịch sinh thái kết hợp với chăm
sóc sức khoẻ. Trong khu tắm nước khoáng nóng này có các dịch vụ vật lý trị liệu, tẩm quất,
massage, xông hơi…Tuy nhiên chúng ta có thể nhận thấy một điều rằng hầu hết các khách
sạn ở đây cao nhất vẫn chỉ là 2 sao,với số lượng phòng còn hạn chế, chất lượng chưa cao,
đội ngũ nhân viên khách sạn vẫn chưa mang tính chuyên nghiệp.Vì thế các tour của khách
đến với Cúc Phương hầu hết chỉ diễn ra trong ngày.
Ẩm thực Việt Nam nói chung và Ninh Bình nói riêng là một nét đẹp trong văn hoá
và là một nét hấp dẫn trong du lịch Cúc Phương. Hệ thống các nhà hàng Hương Mai, Trâu
Vàng,…với các món đặc trưng như cơm cháy, thịt dê, nem chua Yên Mạc…nhưng vẫn còn
những nhà hàng ở xung quanh vườn quốc gia kinh doanh các loại thịt thú rừng quý hiếm.
Các nhà hàng này cần có sự kiểm soát chặt chẽ hơn nữa của chính quyền địa phương, nếu
không sự đa dạng của Cúc Phương sẽ bị xâm hại làm mất đi vẻ đẹp vốn có của khu rừng
nguyên sinh này.
19
3.4 Người dân địa phương
Việc nâng cao nhận thức cho người dân vùng đệm về tài nguyên rừng và giá trị đa
dạng sinh học của VQG Cúc Phương có một vai trò hết sức quan trọng. Bởi họ chính là
những nhân tố quan trọng đóng góp vào phát triển ngành DLST ở địa phương.
Dân số vùng đệm của vườn vào khoảng 62000 người với trình độ văn hoá còn tương
4.1. Về phía chính quyền, người dân, nhà kinh doanh du lịch, các tổ chức nước
ngoài:
● Đối với các tổ chức chính quyền và ban quản lý rừng.
Các tổ chức chính quyền là cơ quan có quyền hành quyết định trực tiếp trong các
chính sách phát triển DLST tại rừng Cúc Phương cũng như các kế hoạch bảo tồn các loài
động thực vật trong VQG. Tuy nhiên trong quá trình phát triển và đi vào hoạt động thì các
cấp chính quyền địa phương vẫn gặp phải những khó khăn và hạn chế nhất định.
- Khó khăn phải nói đến đầu tiên là thiếu thốn về trang thiết bị hiện đại và cần
thiết trong việc bảo tồn và phát triển các loài động thực vật _là những thứ thu
hút khách du lịch khi đến với rừng. Tuy nhiên do vẫn còn những khó khăn về
vốn cũng như các trang thiết bị cần thiết mà việc phát hiện, phòng ngừa và xử
lý không được đảm bảo nên dẫn đến việc động thực vật không được bảo tồn tốt
dẫn đến sự suy giảm về số lượng.
- Thiếu các kiến thức sâu rộng về rừng, không hiểu biết rõ về DLST cũng như
mong muốn của khách du lịch về tham quan cảnh quan thiên nhiên từ đó có
định hướng sai trong phát triển DLST tại Cúc Phương.
- Hạn chế về mặt nhân sự. Hiện nay đội ngũ nhân viên còn ít và làm việc chưa
hiệu quả trong việc bảo tồn và cho sự phát triển của rừng Cúc Phương.
- Tổ chức quy trình tham quan không hợp lý là điều dễ nhận thấy nhất. Trung
tâm thông tin, nơi chứa đựng toàn bộ thông tin cần thiết cho du khách nằm phía
trước, khá xa cổng chào- trạm kiểm soát đầu tiên( cũng là nơi bán vé). Bố trí
như vậy dẫn tới tình trạng khách đều tới cửa rừng, mua vé rồi vào tham quan
ngay, không ai vòng lại trung tâm thông tin nữa. Bởi vậy, du khách bỏ qua
nhiều tài liệu chi tiết của Cúc Phương, không nắm được những thông tin bắt
buộc như Nội quy thăm rừng. Đây cũng là nguyên nhân để nhiều khách đã vi
phạm nội quy. Khách vào rừng đi lại tự do, không có HDV nên tình trạng vứt
rác bừa bãi, chặt cây, gây ồn…không ai nhắc nhở trở nên phổ biến, nhất là du
khách trong nước.
- Các chính sách phát triển DLST không còn phù hợp với ngày nay, nhất là khi
chúng ta đã gia nhập WTO.
DLST nói riêng, khi mà một trong số đó là người bản địa .Ngoài ra sự thiếu trách nhiệm
trong việc chỉ dẫn và quản lý các hoạt động của du khách . Có thể lấy ví dụ về việc các
hướng dẫn viên chỉ đưa du khách đến rừng rồi vào trong nhà nghỉ gủ bỏ mặc du khách
muốn làm gì và đi đâu tùy ý mà không có sự quản lý và hướng dẫn. Chính vì vậy dẫn đến
tình trạng có nhiều du khách có các hành động phá hoại thiên nhiên. Thậm chí có những
khách du lịch còn có thể bắt được các con vật trong rừng mà không ai hay biết. Đây chính
là hậu quả của việc các công ty du lịch đã quá ôm đồm du khách (1 HDV với hai ba chục
du khách) hoặc không thực sự có trách nhiệm.
22
- Trong mùa du lịch, các công ty điều hành thường không kiểm soát được hết chất
lượng dịch vụ, vì vậy độ thoả mãn của khách du lịch cũng bị giảm sút.
• Đối với người dân.
Người dân địa phương là một phần không thể thiểu trong phát triển DLST tại rừng
Cúc Phương vì họ là người sống ở đây từ rất lâu và họ hiểu biết rất rõ về rừng nên sẽ rất tốt
nếu họ được tham gia vào việc phát triển DLST tại địa phương.
Tuy nhiên việc người dân tham gia vào du lịch tại đâu cũng gặp phải những khó khăn
nhất định. Đó là do họ không có kiến thức về du lịch, đặc biệt là DLST. Vì vậy khi tham
gia vào các hoạt động du lịch họ thường mắc phải những sai lầm:
+ Không chủ động trong việc tiếp cận với du khách và giới thiệu với du khách về
văn hóa của địa phương mình.
+ Bán các vật phẩm lưu niệm một cách tự phát và tràn lan gây mất mĩ quan trong
khu du lịch
+ Nhiều khi để bán được các sản phẩm người dân cũng không ngại ngần theo sau
du khách và làm phiền họ. Điều này khiến cho các khách du lịch khó chịu đặc biệt là
những người khách nước ngoài.
Hệ thống sản phẩm và các loại hình dịch vụ du lịch còn nghèo nàn, chất lượng chưa
cao, đầu tư cho du lịch còn dàn trải. Môi trường du lịch chưa thực sự thông thoáng, vẫn
còn tình trạng lộn xộn trong kinh doanh, công tác quản lý điều hành du lịch các cấp chưa
đồng bộ và chưa có sự phối hợp thống nhất giữa các cấp Tình trạng bán hàng rong, ăn
xin đeo bám khách tại các điểm du lịch vẫn chưa được khắc phục…
chảy theo hướng Bắc-Nam đổ vào sông Mã. Do vậy VQG sẽ không có ao hồ lớn để có thể
phát triển DLST sông hồ.
- Rừng Cúc Phương có nhiều núi đá hiểm trở, song việc bảo đảm an toàn cho du
khách chưa tốt. Ngoài ra, trên các con đường dành cho du khách đều dùng loại hàng rào và
cầu thang bằng sắt. Thiết kế kiến trúc cầu dẫn và thang vịn cũng bằng xi-măng và sắt. Như
vậy, một mặt chúng phá vỡ sinh cảnh rừng, mặt khác ở rất nhiều đoạn leo chênh vênh trên
các vực đá, dốc đá, sắt không thể chịu nổi khí hậu đặc trưng rừng nhiệt đới, nay đã gỉ, đứt
gãy (thí dụ như tất cả thang sắt lên động Người xưa, toàn bộ các thanh vịn hai bên đều
nhiều gai gỉ), rất nguy hiểm cho khách, nhất là các cháu nhỏ.
• Điều kiện về xã hội
- Khi vườn quốc gia Cúc Phương được thành lập, có khoảng 500 người sống trong
các xóm thuộc vùng lõi của vườn quốc gia này. Quyết định số 251/CT ngày 6 tháng 10
năm 1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã yêu cầu di chuyển những khu dân cư này ra
ngoài ranh giới vườn quốc gia. Trong giai đoạn di dời đầu tiên, kết thúc vào cuối năm
1990, 6 xóm với 650 người đã được chuyển đến định cư ở vùng bán sơn địa ngoài cửa
vườn. Tuy nhiên, hiện vẫn còn khoảng 2.000 người sống dọc theo bờ sông Bưởi bên trong
vườn. Số dân này cũng đang được lên kế hoạch để di dời. Khoảng trên 62.000 dân sống ở
vùng đệm của vườn quốc gia, rất nhiều người trong số họ có cuộc sống phụ thuộc vào các
24
nguồn tài nguyên thiên nhiên bên trong vườn. Lâm sản bị khai thác mạnh nhất là gỗ và củi.
Việc thu hoạch ốc, nấm, măng làm thức ăn cũng như việc đi lấy thân chuối làm thức ăn gia
súc diễn ra thường xuyên . Hoạt động săn bắn để lấy thức ăn và bán cho dân kinh doanh
động vật hoang dã làm suy giảm nghiêm trọng số lượng các loài thú, chim và bò sát trong
vườn. Rừng ở vùng rìa tiếp giáp với dân cư đang bị suy thoái nghiêm trọng do việc lấy củi
và chăn thả gia súc bừa bãi cũng như bị phát quang lấy đất làm nương rẫy ở một số khu
vực.
- Hiện nay, một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất đến tính đa dạng sinh
học của VQG Cúc Phương là việc xây dựng đường mòn Hồ Chí Minh chạy dọc theo thung
lũng sông Bưởi, con đường này sẽ cắt một phần phía tây của VQG với chiều dài khoảng
8.500 m. Ngoài các tác động trực tiếp của việc thi công xây dựng, con đường này hoàn