ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ TÔN LINH
VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Nguyễn Thị Tôn Linh
VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số:
60.31.02.01
NGƢỜI HƢỚNG DẪN: TS. Phạm Thế Lực
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu ……………………………………………………………….
1
1. Tính cấp thiết của đề tài ……………………………………………
1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài …………………………
2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu …………………………………
4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ………………………………….
5
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu …………………………
5
6. Đóng góp của luận văn ……………………………………………..
6
1.2.1. Quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta về vai trò của các tổ
chức xã hội đối với hệ thống chính trị ………………………….
1.2.2. Tổ chức và hoạt động của các tổ chức xã hội ở nước ta từ khi đổi mới
đến nay ……………………………………………………………
1.2.3. Xu hướng phát triển của các tổ chức xã hội ở Việt Nam ……….
1.3. Vai trò của các tổ chức xã hội đối với hệ thống chính trị ở một số nƣớc
trên thế giới …………………………………………………….
1.3.1. Vai trò của các tổ chức xã hội đối với hệ thống chính trị ở một số nước
phương Tây (Mỹ, Tây Âu) ……………………………………….
1.3.2. Vai trò của các tổ chức xã hội đối với hệ thống chính trị ở một số nước
châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore) …………
19
25
28
30
30
33
bb1.3.3. Một số bài học kinh nghiệm ……………………………………
Chƣơng 2: Vai trò của các tổ chức xã hội đối với hệ thống chính trị ở
Việt Nam-Thực trạng và những vấn đề đặt ra hiện nay ………….
2.1. Mối quan hệ giữa các tổ chức xã hội đối với Đảng Cộng sản Việt
Nam .................................................................................................
2.1.1. Góp phần động viên các tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối, chủ
trương của đảng …………………………………………………..
2.3.1. Là đầu mối thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc …………
73
2.3.2. Tham gia phản biện, giám sát xã hội ……………………………
76
2.4. Những vấn đề đặt ra hiện nay …………………………………..
79
Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp phát huy vai trò của các tổ chức xã
hội đối với việc hoàn thiện hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay
3.1. Phƣơng hƣớng …………………………………………………..
3.1.1. Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội phải gắn liền với việc đổi mới
hệ thống chính trị theo hướng dân chủ, pháp quyền …………….
3.1.2. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các tổ chức xã hội theo
hướng xã hội dân sự ……………………………………………..
6
83
83
83
85
b3.1.3. Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội phải đảm bảo thúc đẩy quá
trình dân chủ hóa đời sống xã hội ………………………………..
108
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta hiện nay, trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, ngày càng
có nhiều tổ chức xã hội được thành lập, hoạt động trong tất cả các lĩnh vực đời
sống xã hội. Các tổ chức này ngày càng tăng nhanh về số lượng và phong phú về
loại hình, hình thức tổ chức, đa dạng về phương thức hoạt động. Các tổ chức xã
hội đã có nhiều đóng góp trong việc phát huy dân chủ, xây dựng hoàn thiện cơ
chế, chính sách, pháp luật và thực hiện giám sát, phản biện xã hội đối với các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tích cực chủ động tham gia cung ứng
dịch vụ công, hỗ trợ cho hoạt động của chính phủ trong việc phân phối dịch vụ,
tăng chất lượng dịch vụ, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, góp phần phát
triển xã hội và quản lý phát triển xã hội.
Các tổ chức xã hội ở Việt Nam hiện nay không chỉ giữ vai trò quan trọng
đối với xã hội mà nó còn là nhân tố quan trọng trong quá trình đổi mới và hoàn
thiện hệ thống chính trị ở nước ta đáp ứng thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Đối với từng bộ phận cấu thành hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội
đều thể hiện vai trò và sức ảnh hưởng của mình trong việc phát huy khối đại đoàn
kết toàn dân, tạo thành nguồn sức mạnh to lớn thực hiện thành công các chủ
trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thực tế đã
chứng minh, nhiều tổ chức xã hội hiện nay thường xuyên là kênh quan trọng để
Đảng, Nhà nước tham khảo ý kiến, là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với
nhân dân. Điển hình là các tổ chức xã hội như: Liên hiệp các hội khoa học và kỹ
thuật, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, Liên minh hợp tác xã, Hội liên
nghiên cứu, nhà hoạt động thực tiễn, các học giả giành sự quan tâm về vấn đề này:
* Các nghiên cứu về hệ thống chính trị:
2
- Nguyễn Đức Bình: Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị nước ta
trong giai đoạn mới, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1999.
- Hồ Văn Thông (1999): Chính trị và hệ thống chính trị các nước tư bản
phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1999.
- Hồ Bá Thâm: Đổi mới và phát triển hệ thống chính trị, Nxb Tổng hợp TP
Hồ Chí Minh, 2005.
- Nguyễn Văn Huyên (chủ biên): Hệ thống chính trị Anh, Pháp, Mỹ (Mô
hình tổ chức và hoạt động), Nxb Lý luận chính trị, H, 2007.
* Các nghiên cứu về Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức xã hội:
- Phan Xuân Sơn: Các đoàn thể nhân dân với việc đảm bảo dân chủ cơ sở ở
nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2002.
- Đào Trí Úc, Võ Khánh Vinh (đồng chủ biên): Giám sát và cơ chế giám sát
việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay (sách chuyên khảo), Nxb
Công an nhân dân, H, 2003.
- Thang Văn Phúc - Nguyễn Minh Phương: Đổi mới tổ chức và hoạt động
của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb
Chính trị quốc gia, H, 2007.
- Hồ Bá Thâm, Nguyễn Tôn Thị Tường Vân (đồng chủ biên): Phản biện xã
hội và phát huy dân chủ pháp quyền, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2010.
* Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa hệ thống chính trị và các tổ chức
xã hội:
- Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (đồng chủ biên): Vai trò của các tổ
chức xã hội đối với phát triển và quản lý xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2012.
- Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (đồng chủ biên): Phát huy vai trò
của các tổ chức xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 2012.
trò cũng như mối quan hệ của chúng đối với các thành tố của hệ thống chính trị
(đảng, nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội)
4
- Đánh giá, phân tích thực trạng hoạt động của các tổ chức xã hội cũng như
vai trò của các tổ chức xã hội đối với quá trình đổi mới và hoàn thiện hệ thống
chính trị Việt Nam, từ đó làm rõ những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những
vấn đề đặt ra hiện nay.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm phát huy vai trò của các tổ chức
xã hội trong việc mở rộng dân chủ, đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở Việt
Nam trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vai trò của các tổ chức xã hội đối với
hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Vai trò của các tổ chức xã hội ở Việt Nam hiện nay là rất rộng, có thể được
thể hiện trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, ngoại giao… nhưng trong khuôn khổ
luận văn thạc sĩ, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về vai trò của các tổ chức xã hội
đối với hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay.
Mặt khác, các tổ chức xã hội ở Việt Nam có quá trình hình thành và phát
triển lâu dài, tuy nhiên đề tài chỉ tập trung vào khảo sát và nghiên cứu vai trò của
các tổ chức xã hội đối với hệ thống chính trị Việt Nam trong giai đoạn từ đổi mới
(1986) đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về các tổ
chức xã hội nói chung và vai trò của các tổ chức xã hội đối với hệ thống chính trị
nói riêng.
1.1. Mối quan hệ giữa tổ chức xã hội với hệ thống chính trị
1.1.1. Khái niệm, đặc trưng của tổ chức xã hội
* Khái niệm tổ chức xã hội
Tổ chức xã hội là khái niệm được dùng với nhiều nghĩa khác nhau, trong
các ngành khoa học khác nhau và trong cuộc sống hàng ngày. Theo từ nguyên chữ
Hán thì "Tổ" là sự tập hợp, gom góp lại những gì riêng rẽ, còn "Chức" là đan dệt
nên, cấu trúc sắp xếp theo một trật tự nhất định những gì được gom lại để thực
hiện một chức năng nhất định. Tổ chức ra đời do yêu cầu khách quan của sự tồn
tại và phát triển của con người và xã hội. Người ta tự tìm đến nhau, liên kết với
nhau để chống chọi lại với thiên tai, thú dữ, chống lại nạn xâm chiếm của các thế
lực và do yêu cầu của xã hội hóa sản xuất. Khi tập hợp lại với nhau thành một tổ
chức thì họ cần phải thương lượng, thỏa thuận và thống nhất với nhau để hình
thành nên những quy định chung. Những quy định này ra đời và mọi người trong
tổ chức hành động một cách tự nguyện theo những quy định ấy, đồng thời không
được làm những gì vượt ra ngoài khuôn khổ của những quy định chung.
Sự ra đời của các tổ chức xã hội xuất phát từ chính nhu cầu vật chất và tinh
thần của con người trong một xã hội dân chủ. Sự phát triển của chúng phản ánh
mức độ tiến bộ về dân trí và dân chủ trong xã hội, chúng tổ chức và hoạt động
theo tinh thần tự nguyện trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước nhưng không
phải là những cơ quan mang tính quyền lực nhà nước. Chính vì thế, các tổ chức xã
hội còn được gọi là các tổ chức phi chính phủ (tiếng Anh là Non govermental
Organization- NGO). Thuật ngữ tổ chức phi Chính phủ bắt đầu được dùng từ năm
1945 sau khi Liên Hợp quốc được thành lập.
7
Theo cách hiểu như vậy, hoạt động của tổ chức xã hội đã phát triển ở nhiều
nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Sự phát triển của các tổ chức xã hội
trong giai đoạn hiện nay còn được mở rộng với những khái niệm khác nhau của
của hệ thống quyền lực chính trị của quốc gia và các yếu tố văn hóa, dân tộc.
- Theo Larry Diamond, các tổ chức xã hội là lĩnh vực của đời sống xã hội có
tổ chức, mang tính tự nguyện, tự trang trải, độc lập với nhà nước và chịu sự rằng
buộc bởi trật tự pháp luật hoặc hệ thống luật lệ chung do cộng đồng đặt ra. Các tổ
chức xã hội là thực thể trung gian, nằm giữa môi trường tư và công (nhà nước),
bao gồm một dải rộng các tổ chức độc lập chính thức và không chính thức ở nhiều
lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, thông tin, giáo dục... và các vấn đề khác như lợi ích
của các thành viên trong tổ chức, phát triển xã hội.
- Theo Gerassimos Fourlanos, các tổ chức xã hội được hiểu là tổng thể các
tổ chức, thiết chế xã hội tự nguyện, không phụ thuộc vào hình thức pháp lý, cùng
tự nguyện tham gia vào các hoạt động vì những giá trị, mục tiêu, lợi ích chung.
Khái quát lại, từ những khái niệm trên chúng ta có thể hiểu tổ chức xã hội là
hình thức tập hợp rộng rãi nhân dân theo nghề nghiệp, lứa tuổi, sở thích, giới
tính...nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của các tầng lớp nhân dân như học tập, rèn
luyện, nâng cao trình độ các mặt, giúp đỡ động viên nhau trong cuộc sống, tham
gia sinh hoạt văn hóa, thể thao, du lịch, xã hội, từ thiện... Chúng có quy mô lớn
nhỏ khác nhau, có tổ chức hình thành hệ thống trong cả nước, ở tất cả các địa
phương hoặc tham gia tổ chức quốc tế tương ứng nhưng cũng có những tổ chức
chỉ hoạt động trong phạm vi địa phương hoặc cơ sở.
Ở nước ta, chỉ tính riêng từ sau khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa đến nay, các tổ chức xã hội đã phát triển rất phong phú và đa dạng. Các tổ chức
xã hội là những bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị, được hình thành trên các
nguyên tắc tự nguyện, tự quản của người dân được tổ chức theo điều lệ hay theo các
9
quy định của nhà nước, nhân danh tổ chức mình khi tham gia vào quản lý nhà nước,
quản lý xã hội nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của các thành viên mà nó đại diện.
Hoạt động quản lý nhà nước được tiến hành không chỉ bởi các cơ quan nhà
tác động đúng đắn, thích hợp của Nhà nước pháp quyền.
Thứ sáu, các chức năng chủ yếu của tổ chức xã hội là tập hợp nhu cầu cá
nhân, nhóm, tổ chức, cộng đồng để hình thành nên các nhu cầu xã hội, nhu cầu
chính sách; tạo môi trường xã hội thuận lợi để hội viên, thành viên hình thành và
phát triển tri thức, kỹ năng quản lý xã hội; bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp
pháp của thành viên, hội viên; phát huy và thực hành dân chủ, tham gia xây dựng
và giám sát, phản biện xã hội đối với cơ chế, chính sách, pháp luật của nhà nước;
tham gia cung ứng các dịch vụ công, hoạt động từ thiện, nhân đạo, khắc phục
những hậu quả của thiên tai, bảo vệ môi trường...
Ngoài những đặc trưng chung của các tổ chức xã hội ở nhiều nước trên thế
giới, các tổ chức xã hội ở Việt Nam còn có những đặc trưng riêng như:
- Hầu hết các tổ chức xã hội ở Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản cầm quyền và tích cực phối hợp hoạt động với các cơ quan nhà nước.
- Phần lớn các tổ chức xã hội lớn, quan trọng ở nước ta đều tham gia là
thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một liên minh chính trị- xã hội rộng
lớn có hệ thống tổ chức từ Trung ương đến cấp cơ sở, hoạt động theo nguyên tắc
hiệp thương dân chủ, thống nhất và phối hợp hành động.
- Một số tổ chức xã hội ở nước ta được nhà nước hỗ trợ về kinh phí hoạt
động, trụ sở làm việc, biên chế cán bộ chuyên trách.
Với những đặc điểm này của các tổ chức xã hội mà trong những năm qua,
đất nước ta đã tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đồng thuận
xã hội, góp phần tạo nên những thắng lợi to lớn trong phát triển đất nước.
1.1.2. Quan niệm về hệ thống chính trị
11
Chính trị là lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm các hoạt động và các
mối quan hệ liên quan đến công việc và giải quyết các vấn đề chung của toàn xã
hội. Đây là biểu hiện bề ngoài của chính trị. Có thể hiểu chính trị là mối quan hệ,
năng nhất định, vận hành theo những nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể nhằm
thực thi quyền lực chính trị.
Khi nghiên cứu hệ thống chính trị, về cơ bản các học giả thường lưu ý một
số nội dung sau:
- Thứ nhất, hệ thống chính trị phải tồn tại như một chỉnh thể thống nhất.
- Thứ hai, hệ thống chính trị được cấu thành từ các yếu tố, bộ phận khác
nhau, trong đó phải xác định rõ yếu tố nào, bộ phận nào là quan trọng nhất của hệ
thống, chi phối sự vận hành của cả hệ thống.
- Thứ ba, hệ thống chính trị bao gồm nhiều mối quan hệ khác nhau tạo
thành những nguyên tắc, cơ chế vận hành khác nhau, trong đó phải xác định xem
mối quan hệ nào, nguyên tắc vận hành nào là cơ bản nhất, chi phối và quyết định
sự vận hành của cả hệ thống.
- Thứ tư, hệ thống chính trị đó hoạt động trong môi trường nào, được hình
thành trên những quan điểm, tư tưởng, lý thuyết chính trị nào; các yếu tố văn hóa,
truyền thống, tập quán ảnh hưởng như thế nào đối với sự tồn tại của hệ thống
chính trị.
- Thứ năm, hệ thống chính trị đó bao gồm những cấp độ nào, chức năng, vai
trò của từng cấp độ là gì? (cấp Trung ương, tỉnh (thành phố), quận (huyện), cơ sở).
- Thứ sáu, mục đích của hệ thống chính trị là để thực thi quyền lực chính trị,
trong đó thực thi quyền làm chủ của người dân là quan trọng nhất. Do đó, đổi mới
hệ thống chính trị phải hướng đến mở rộng dân chủ, phát huy dân chủ. Trong các
mối quan hệ của hệ thống chính trị thì quan hệ với người dân bao giờ cũng là quan
hệ gốc, quan hệ cơ bản nhất của hệ thống chính trị.
13
Như vậy, trên cơ sở những lưu ý trên, chúng ta thấy hệ thống chính trị bao
giờ cũng bao gồm những bộ phận cấu thành và các bộ phận này có vai trò hỗ trợ,
tác động lẫn nhau trong việc thực thi quyền lực chính trị, đảm bảo lợi ích của quốc
Nội dung lãnh đạo của Đảng được thể hiện trong nội dung của cương lĩnh
chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, bảo đảm tính định hướng
chính trị cho sự phát triển đất nước, tạo cơ sở cho tổ chức và hoạt động của toàn
bộ hệ thống chính trị và toàn bộ xã hội hướng tới mục tiêu: dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân
và vì dân. Nhà nước thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng (hay còn gọi là đối nội) và đối ngoại, bảo
đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và
nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân. Chức năng đối nội của nhà
nước thể hiện ở việc tập trung quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực của toàn xã
hội, chủ yếu bằng pháp luật, chính sách và hệ thống cơ quan nhà nước từ trung
ương đến cơ sở. Nhà nước quán triệt và thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ
trương lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thành Hiến pháp, pháp luật, chính
sách, kế hoạch, biện pháp của nhà nước để chỉ đạo thực hiện thông qua quá trình
hoạt động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trên mọi lĩnh vực. Nhà nước thực
hiện sự chuyên chính đối với mọi tội phạm và mọi kẻ thù để bảo vệ độc lập, chủ
quyền của đất nước, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội tạo điều kiện
cơ bản để mở rộng dân chủ trong nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có vai trò cực kỳ
quan trọng trong sự hình thành và củng cố Nhà nước của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân ở Việt Nam. Điều 9, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 2013 khẳng định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh
15
chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ
chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc,
tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là
hệ thống chính trị góp phần bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Vai trò đó được
thể hiện trên những mặt cơ bản sau:
Thứ nhất, đại diện cho lợi ích của các tầng lớp khác nhau trong xã hội, là
cầu nối, kênh truyền dẫn tiếng nói, nguyện vọng của người dân đến với Đảng, Nhà
nước và Mặt trận Tổ quốc; phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng và bảo vệ
quyền lợi hợp pháp, chính đáng của các thành viên mà các tổ chức xã hội đại diện.
Thứ hai, tập hợp lực lượng các tầng lớp, các giới thành những tổ chức thống
nhất, vận động thành các phong trào cách mạng thực hiện chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của nhà nước, ủng hộ những chủ trương, chính sách phù hợp
với lợi ích của quần chúng.
Thứ ba, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức xã hội tham gia thành lập các cơ
quan nhà nước. Mặt trận chủ trì việc hiệp thương với các tổ chức xã hội khác để
giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các
cấp. Bên cạnh đó, các tổ chức xã hội thông qua Mặt trận Tổ quốc có quyền đề nghị
với các cơ quan quyền lực nhà nước bãi miễn các đại biểu dân cử không xứng
đáng. Và có quyền giới thiệu người để các cơ quan đại biểu của nhân dân lựa chọn
bầu làm Hội thẩm nhân dân ở các tòa án nhân dân.
Thứ tư, các tổ chức xã hội tham gia xây dựng pháp luật. Tham gia đóng góp
ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật bằng nhiều cách như nghiên cứu, gửi
văn bản xin ý kiến tham gia, tham dự các hội thảo do cơ quan chủ trì soạn thảo tổ
chức để phát biểu ý kiến tham gia. Cũng có những tổ chức đã và đang làm thành
viên ban soạn thảo, tổ biên tập các dự án luật, pháp lệnh. Ngoài ra, các tổ chức xã
hội còn tham gia tư vấn, phản biện đối với các dự án, dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật, thực hiện kiểm tra, giám sát đối với các văn bản quy phạm pháp luật.
18