MỞ ĐẦU
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, Đảng lãnh
đạo toàn xã hội, sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội thể hiện
ở hai điểm chủ yếu là: Nội dung lãnh đạo và phương thức lãnh
đạo. Phương thức lãnh đạo của Đảng bao gồm hệ thống các
phương pháp, hình thức và cách thức lãnh đạo. Theo Hồ Chí
Minh, phương pháp lãnh đạo cần phải thể hiện rõ trong Cương
lĩnh, Văn kiện và Điều lệ của Đảng. Người viết: “Đảng cương
là một văn kiện nó quy định: Tính chất của Đảng, mục đích
đấu tranh và đường lối cách mạng của Đảng, phương pháp
lãnh đạo cách mạng của Đảng”. Cách lãnh đạo được Hồ Chí
Minh chỉ dẫn ở nhiều tác phẩm, bài viết, bài nói. Trong tác
phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người dành một trong sáu mục lớn
để chỉ dẫn cách lãnh đạo cho Đảng. Người yêu cầu “các cơ
quan chỉ đạo phải có cách lãnh đạo cho đúng”. Phương thức
lãnh đạo của Đảng không cố định, bất biến mà có thể thay
đổi, được áp dụng linh hoạt tùy theo hoàn cảnh lịch sử cụ thể,
trình độ, năng lực của Đảng, đối tượng lãnh đạo (các tổ chức
chính trị - xã hội và toàn thể nhân dân). Đối tượng lãnh đạo
ngày càng phát triển về trình độ nhận thức, ý thức dân chủ
vv... Vì vậy, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với hệ thống chính trị là nhu cầu tất yếu, khách quan.
Đối với Việt nam hiện nay, việc xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới,
thời kỳ cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thời kỳ hội nhập, mở
1
cửa để phát triển đất nước là một việc làm hết sức khó khăn và phức tạp. Để
đáp ứng được vấn đề này đòi hỏi phải nâng cao nhận thức, năng lực lãnh của
Đảng một cách toàn diện, song trước hết là phải xây dựng được đường lối
đúng đắn, khi đã có đường lối đúng đắn thì sẽ xây dựng được phương thức
yếu nhất của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã
hội. Định hướng chính trị của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và các đàn
thể chính trị - xã hội chủ yếu bằng nghị quyết. Thông qua nghị quyết mà ý
3
chí, chí tuệ tập thể của cơ quan lãnh đạo Đảng được thể hiện một cách tập
trung, cô đọng, sáng suốt và có giá trị hiệu lực cao, làm phương tiện truyền tải
định hướng chính trị của Đảng, cụ thể như sau:
- Trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng HCM;
tình hình quốc tế và cơ sở kinh tế - xã hội nước ta trong từng thời kỳ mà
Trung ương Đảng đề ra định hướng chính trị cho cả nước. Còn ở các địa
phương, căn cứ vào nghị quyết của các cấp lãnh đạo Đảng cấp trên, kết hợp
với cơ sở kinh tế - xã hội của địa phương mà đề ra định hướng chính trị cho
địa phương mình.
- Đảng căn cứ vào chính tổ chức, hoạt động của chính Nhà nước, Mặt
trận và các đoàn thể chính trị - xã hội; căn cứ vào việc đáp ứng yêu cầu thực
hiện nhiệm vụ của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội để đề
ra định hướng chính trị cho tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Mặt trận và
các đoàn thể chính trị - xã hội.
- Đảng định hướng chính trị trên các lĩnh vực của đời sống xã hội: Kinh
tế; chínhtrị; văn hóa – xã hội; an ninh, quốc phòng cho tổ chức, hoạt động của
Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội.
+ Về kinh tế: Đảng đề ra định hướng phát triển kinh tế cho đất nước,
làm cơ sở lý luận cho việc tổ chức và hoạt động quản lý kinh tế của Nhà
nước; làm cơ sở lý luận để các Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội thực hiện các cuộc vận động thành viên của mình làm kinh tế, nhằm
đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch,
dịch vụ…
+ Về chính trị: Đảng đề ra phương hướng và những nguyên tắc cơ bản
làm cơ sở để Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội xây dựng,
viên chức của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội thông
suốt đường lối của Đảng, tạo ra sự thống nhất về tư tưởng giữa Đảng, Nhà
nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội. Khi đã có sự thống nhất về
tư tưởng sẽ là tiền đề cho sự thống nhất về hành động; do vậy, góp phần khắc
phục được tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”.
5
+ Hình thức giáo dục chính trị tư tưởng: Đào tạo ở trường lớp, tuyên
truyền, giáo dục qua các phương tiện thông tin đại chúng, nêu gương (khen
ngợi, tôn vinh gương tốt; lên án, phê bình những cá nhân và tổ chức sai
phạm). Việc Đảng sử dụng hình thức nêu gương, thông qua việc nêu gương
(động viên gương tốt, phê bình sai phạm) mà Đảng lãnh đạo đối với hoạt
động của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội. Trong phương
thức này, đặc biệt chú ý tới vấn đề phê bình những việc làm sai trái. Vì theo
tư tưởng Hồ Chí Minh thì một đảng chân chính phải biết nhận ra những
khuyết điểm của mình và biết sửa chữa. Một đảng mà không biết nhận ra sai
lầm khuyết điểm và sửa chữa sai lầm khuyết điểm thì là một đảng hỏng.
Việc cán bộ, đảng viên và các tổ chức Đảng nghiêm chỉnh chấp hành
cương lĩnh, Điều lệ Đảng, đường lối, nghị quyết của Đảng và chính sách,
pháp luật của Nhà nước, phát huy vai trò tiên phong gương mẫu của Đảng đã
làm cho công chức, viên chức của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính
trị - xã hội noi theo. Có thể nói, nêu gương là phương pháp lãnh đạo đặc thù
của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội, thể
hiện rõ nét bản chất của một đảng mác – xít chân chính và sự trong sạch vững
mạnh của Đảng ta. Vì có sự công khai con người và tổ chức của Đảng trên cả
hai mặt: Tích cự và tiêu cực; nêu những tấm gương tốt và phê bình những tấm
gương xấu. Điều này có tác dụng rất to lớn trong việc nâng cao uy tín lãnh
đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội
qua công tác tổ chức - cán bộ là thông qua những người của Đảng, tổ chức
của Đảng nằm trong các cơ quan Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị
- xã hội mà Đảng thực hiện được sự lãnh đạo đối 2 đối tượng này. Đây là một
phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và các
đoàn thể chính trị - xã hội. Vì phương thức này mang tính chất trực tiếp. Đối
với lực lượng vũ trang thì sự lãnh đạo của Đảng là: Trực tiếp, toàn diện và
tuyệt đối.
7
- Đảng đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên của mình trở thành
những nhà chuyên môn giỏi trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, hoạt động
đoàn thể rồi đưa họ ra ứng cử làm đại biểu và các cương vị lãnh đạo của cơ
quan Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội được tổ chức theo
chế độ bầu. Đó là việc đưa cán bộ, đảng viên của mình tranh cử đại biểu và
các cương vị lãnh đạo của QH, HĐND các cấp; Chính phủ, UBND các cấp.
- Đảng giới thiệu những cán bộ, đảng viên ưu tú để cơ quan Nhà nước,
Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội tuyển dụng, bổ nhiệm trở thành
công chức, viên chức của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã
hội hoặc người giữ chức vụ quản lý, lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước (đối với
những cơ quan Nhà nước được tổ chức theo chế độ bổ nhiệm) và các Nhà
nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội. Đó là việc Đảng đưa cán bộ,
đảng viên ra đề nghị bổ nhiệm làm thẩm phán, kiểm sát viên và các cương vị
lãnh đạo của TAND, VKSND các cấp và các chức danh khác của Nhà nước,
Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội.
- Đồng thời, Đảng giác ngộ, bồi dưỡng, kết nạp vào đội ngũ của Đảng
những nhà chuyên môn giỏi trong các cơ quan Nhà nước, Nhà nước, Mặt trận
và các đoàn thể chính trị - xã hội; cán bộ có thành tích xuất sắc trong hoạt
khái quát: Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo. Do vậy,
công tác kiểm tra là một phương thức chủ đạo mà Đảng sử dụng để lãnh đạo
Nhà nước (nhất là đối với cơ quan Nhà nước hoạt động theo chế độ thủ
trưởng), Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Từ việc kiểm tra của Đảng, đặc biệt là kiểm tra đối với cán bộ, đảng
viên và tổ chức Đảng nằm trong các cơ quan Nhà nước, Mặt trận và các đoàn
thể chính trị - xã hội, phát hiện những cán bộ, đảng viên, tổ chức Đảng có sai
phạm kịp thời sửa sai hơn nữa nhằm phát hiện đảng viên và tổ chức Đảng có
những sáng tạo trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình để tổng kết nhân
rộng, từ đó làm cho Đảng nắm được, lãnh đạo được Nhà nước, Mặt trận và
các đoàn thể chính trị - xã hội. Đồng thời, làm cho Đảng ngày càng trong sạch
vững mạnh, đáp ứng vai trò lãnh đạo đối với HTCT nói riêng và đối với xã
hội nói chung. Qua công tác kiểm tra, giám sát sẽ nâng cao uy tín, năng lực và
9
sức chiến đấu của Đảng; đúc rút được những bài học kinh nghiệm quý báu về
sự lãnh đạo đối với hoạt động của công chức, viên chức và các cơ quan của
Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội. Từ đó, củng cố và tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể
chính trị - xã hội.
Ở đây, thông qua công tác kiểm tra, giám sát mà Đảng lãnh đạo đối với
Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội chứ không phải Đảng đi
kiểm tra, giám sát đối với Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã
hội. Nội dung kiểm tra Đảng là kiểm tra người và việc của Đảng. Tức là kiểm
tra cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng trong Nhà nước, Mặt trận và các đoàn
thể chính trị - xã hội về thực hiện cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết và những
quy định của Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Thứ năm: Đảng lãnh đạo HTCT bằng quy chế phối hợp công tác
Đảng lãnh đạo HTCT bằng quy chế phối hợp công tác là việc cơ quan
biểu quyết (vấn đề đã được quyết định theo đa số) thì quyết nghị đó có giá trị
bắt buộc thi hành trong công tác lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt
trận và các đoàn thể chính trị - xã hội. Điều này thể hiện sự phát huy dân chủ
trong Đảng đối với việc lãnh đạo HTCT.
- Trong hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận và
các đoàn thể chính trị - xã hội có sự tác động biện chứng:
+ Đảng lãnh đạo Nhà nước và Nhà nước cũng tác động trở lại đối với
Đảng.
+ Đảng lãnh đạo Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội và Mặt trận
và các đoàn thể chính trị - xã hội cũng tác động trở lại đối với Đảng.
Như vậy, quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính
trị - xã hội trong Hệ thống chính trị nước ta là mối quan hệ biện chứng. Mối
quan hệ này luôn đảm bảo nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào
công việc thuộc nội bộ của mỗi tổ chức, hợp tác để thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của mỗi tổ chức. Mối quan hệ biện chứng này, tạo thành cơ chế
Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ
- Đảng phát huy quyền làm chủ của nhân dân:
11
+ Thường xuyên lấy ý kiến của nhân dân đối với các văn kiện của
Đảng, vận động nhân dân tham gia xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
+ Vận động nhân dân tham gia hoạt động quản lý Nhà nước, giám sát
công chức, viên chức và hoạt động của cơ quan Nhà nước.
+ Vận động, tập hợp nhân dân tham gia vào các Nhà nước, Mặt
trận và các đoàn thể chính trị - xã hội để nhân dân thực hiện quyền làm
chủ của mình thông qua hoạt động của các Nhà nước, Mặt trận và các
đoàn thể chính trị - xã hội.
Có thể nói phương thức phát huy dân chủ là một phương thức cực kỳ
tiến bộ trong việc Đảng lãnh đạo đối với Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể
trong giai đoạn hiện nay.
2. Những nội dung đổi mới của Đảng trong Nghị quyết TW 5 khóa X.
Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải đồng bộ với đổi mới
tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, đổi mới kinh tế; thực hiện đúng
nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng.
Tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.
Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết; lãnh đạo
thể chế hoá, cụ thể hoá thành Hiến pháp, pháp luật, kế hoạch, các chương
trình công tác lớn của Nhà nước; bố trí đúng cán bộ và thường xuyên kiểm tra
việc tổ chức thực hiện.
Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay Nhà nước; trái lại, phát
huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước trong quản lý đất nước
và xã hội.
Khẩn trương xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy định cụ thể về
nguyên tắc, nội dung và cơ chế Đảng lãnh đạo đối với Nhà nước trong từng lĩnh
vực: lập pháp, hành pháp, tư pháp và từng cấp, từng loại hình tổ chức nhà nước.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể nhân dân, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể xác định
đúng mục tiêu, phương hướng hoạt động; đồng thời, phát huy tinh thần tự
chủ, sáng tạo trong xây dựng, đổi mới tổ chức và hoạt động của mình.
13
Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ
trong hệ thống chính trị, thực hiện luân chuyển cán bộ, khắc phục tình trạng
khép kín, cục bộ về cán bộ. Tăng cường trách nhiệm của cán bộ, đảng viên là
thủ trưởng cơ quan nhà nước. Cơ quan nào vi phạm chính sách, pháp luật, để
xảy ra tình trạng tiêu cực, mất đoàn kết nội bộ thì người đứng đầu phải chịu
trách nhiệm.
soát các cơ chế, chính sách về tổ chức, cán bộ, đề xuất sửa đổi, xây dựng mới
để thực hiện tốt các giải pháp nêu ra trong Nghị quyết này.
Ban Tổ chức Trung ương chủ trì phối hợp với Ban cán sự đảng Chính phủ,
Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan rà
soát và kiện toàn tổ chức những cơ quan của Đảng, Nhà nước chưa phù hợp,
hoạt động chưa hiệu quả. Đánh giá hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo
Trung ương về Phòng, chống tham nhũng, từ đó đề xuất việc kiện toàn để
nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức này.
3.2.4. Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì phối hợp với Ban Tổ chức Trung
ương, Ban Tuyên giáo Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng xây dựng
kế hoạch, kiến nghị với Bộ Chính trị, Ban Bí thư nội dung gợi ý cho các cấp
ủy viên ở những nơi cần thiết trước khi tiến hành tự phê bình và phê bình; tổ
chức kiểm tra, giám sát các cấp ủy, tổ chức đảng về thực hiện Nghị quyết này.
3.2.5. Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo các cơ quan báo chí tuyên truyền,
phổ biến nội dung nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch của Trung ương, Bộ Chính trị
về vấn đề này và kết quả thực hiện theo tiến độ chặt chẽ, kịp thời, tránh nhận
thức sai lệch, hiểu nhầm, ngộ nhận; không để các thế lực thù địch, chống đối
lợi dụng kích động, làm mất ổn định chính trị. Các cấp ủy, cơ quan chủ quản
chịu trách nhiệm quản lý, chấn chỉnh các cơ quan báo chí của mình, bảo đảm
đúng định hướng thông tin của Đảng và Nhà nước. Tăng cường quản lý và
chấn chỉnh các trang mạng và blog có nội dung xấu.
3.2.6. Ban Dân vận Trung ương chủ trì phối hợp với Đảng đoàn Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng quy chế
giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính
trị - xã hội, cơ chế để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và
15
nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, trình Bộ
Chính trị ban hành.
Với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật”, từ Đại hội VI đến Đại hội
X của Đảng, Đảng ta đã phân tích, đánh giá tình hình trong nước và thế giới
một cách khách quan, xác định các xu thế phát triển tất yếu của thế giới và đã
thực hiện bước chuyển đổi quan trọng cả về lý luận và thực tiễn: xóa bỏ cơ
chế quản lý tập trung, hành chính, quan liêu bao cấp, chuyển sang nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Công cuộc đổi mới tiến hành 25 năm
đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.
1. Đất nước ra khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh
Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã thoát
khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển
sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Giai đoạn 1986-1990: GDP tăng 4,4%/năm. Việc thực hiện tốt ba
chương trình mục tiêu phát triển về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng
và hàng xuất khẩu được đánh giá là thành công bước đầu cụ thể hóa nội dung
của CNH XHCN trong chặng đường đầu tiên. Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ
bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình
đổi mới đời sống KTXH và giải phóng sức sản xuất
Giai đoạn 1991-1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trì trệ, suy
thoái, đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và toàn diện.GDP
bình quân năm tăng 8,2%. Đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bắt
đầu đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước
Từ năm 1996-2000, là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước. Chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh
tế khu vực cùng thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta
trước những thử thách. Tuy nhiên, giai đoạn này, Việt Nam duy trì được tốc
độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước 7%/năm.
17
18
thông phát triển với tốc độ nhanh. Các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư
vấn pháp lý... có bước phát triển theo hướng tiến bộ, hiệu quả.
3. Thực hiện có kết quả chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần, phát huy ngày càng tốt hơn tiềm năng của các thành phần kinh tế
Kinh tế Nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu
quả, tập trung hơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu
của nền kinh tế. Cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước được đổi mới một
bước quan trọng theo hướng xoá bao cấp, thực hiện chế độ công ty, phát huy
quyền tự chủ và trách nhiệm của doanh nghiệp trong kinh doanh.
Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, huy động ngày càng tốt hơn các nguồn
lực và tiềm năng trong nhân dân, là một động lực rất quan trọng thúc đẩy tăng
trưởng và phát triển kinh tế. Năm 2005, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp
khoảng 38% GDP của cả nước.
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao,
trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là cầu
nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế,
đóng góp vào ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho nhiều người dân.
4. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần dần được
hình thành, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định
Qua 25 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận
hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng
tương đối đồng bộ. Hoạt động của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh
tế nhiều thành phần và bộ máy quản lý của Nhà nước được đổi mới một bước
quan trọng.
Với chủ trương tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ
kinh tế của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế ngày càng được mở
rộng. Việt Nam đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, thực hiện
Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống
chính trị là giải pháp đúng đắn, mang tính nền tảng, bền vững. Quá trình đó
đã phát huy được quyền làm chủ của nhân dân, tạo nên cơ sở thực tiễn vững
chắc bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của hệ thống chính trị, đồng thời là
cơ sở cho sự đoàn kết, thống nhất về quan điểm, ý chí và hoạt động trong toàn
Đảng, toàn dân, phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của nhân dân trong
quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt nam.
Có thể khẳng định rằng, nhân tố bảo đảm cho việc xây dựng chủ xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam chỉ có thể là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
với lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với
thực tiễn cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Đảng ta nhất định sẽ tìm
ra được hướng đi đúng cho quá trình đổi mới. Với 5 nhiệm kỳ Đại hội và hơn
25 năm đổi mới, Đảng ta đã chứng minh được sự đúng đắn đó trong đường lối
lãnh đạo của mình. Bằng những thành tích đã đạt được trong thời gian vừa
qua, kết hợp với lập trường kiên định được thể hiện trong Nghị quyết qua các
kỳ Đại hội, chúng ta tin tưởng rằng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất
nước sẽ không còn xa./.
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng lãnh đạo Nhà nước và Xã hội…………………
2. Nghị quyết TW 5 Khóa X……………………………
3. Văn kiện Đại hội Đảng XI …………………………..
4. Nghị quyết TW 4; 5 và 6 Khóa XI……………………
5. Một số tài liệu khác……………………………………
22