MỞ ĐẦU
Phát triển bền vững là một trong những cụm từ được đề cập nhiều tại Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XI. Trong “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 20112020”, Đảng ta đã đưa ra 5 quan điểm phát triển, trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến
quan điểm “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững
là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược”.
Phát triển bền vững là sự phát triển phải bảo đảm có sự kết hợp chặt chẽ,
hợp lý, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường, đó
là sự phát triển “không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai
sau”. Vấn đề phát triển bền vững đã được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và
trở thành yêu cầu phát triển của toàn cầu.
Ở nước ta, quan điểm phát triển bền vững đã được Đảng Cộng sản Việt
Nam nhận thức từ khá lâu, phát triển và ngày càng hoàn thiện về nội dung. Trong
Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 1991–2000, Đảng ta đã khẳng định: “Tăng
trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa,
bảo vệ môi trường”; Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2001–2010 nhấn mạnh:
“Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện
tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”.
Để hiểu rõ hơn về vấn đề phát triển bền vững ở nước ta hiện nay, tôi chọn
vấn đề: “Một số vấn đề về phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay” làm tên đề
nghiên cứu cho bài tiểu luận của mình.
NỘI DUNG
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát
triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển
trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia
trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn
hóa... riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó.
Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong
kết lại kế hoạch hành động về phát triển bền vững 10 năm qua và đưa ra các quyết
sách liên quan tới các vấn đề về nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp và sự đa
dạng sinh thái.
Tháng 4 năm 1968: Tổ chức The Club of Rome được sáng lập, đây là một tổ
chức phi chính phủ hỗ trợ cho việc nghiên cứu "Những vấn đề của thế giới" - một
cụm từ được đặt ra nhằm diễn tả những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, môi
trường và công nghệ trên toàn cầu với tầm nhìn lâu dài. Tổ chức này đã tập hợp
những nhà khoa học, nhà nhiên cứu, nhà kinh doanh cũng như các nhà lãnh
đão của các quốc gia trên thế giới (bao gồm cả Tổng thống Liên xô Mikhail
Sergeyevich Gorbachyov và Rigoberta Menchú Tum). Trong nhiều năm, The Club
of Rome đã công bố một số lượng lớn các báo cáo, bao gồm cả bản báo cáo The
Limits to Growth (Giới hạn của sự tăng trưởng) - được xuất bản năm 1972 đề cập
tới hậu quả của việc tăng dân số quá nhanh, sự hữu hạn của các nguồn tài nguyên...
Tháng 6 năm 1972: Hội nghị của Liên Hợp Quốc về con người và môi
trường được tổ chức tại Stockhom, Thụy Điển được đánh giá là là hành động đầu
tiên đánh dấu sự nỗ lực chung của toàn thể nhân loại nhằm giải quyết các vấn đề về
môi trường. Một trong những kết quả của hội nghị lịch sử này là sự thông qua bản
tuyên bố về nguyên tắc và kế hoạch hành động chống ô nhiễm môi trường. Ngoài
ra, Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc cũng được thành lập.
Năm 1984: Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã ủy nhiệm cho bà Gro Harlem
Brundtland, khi đó là Thủ tướng Na Uy, quyền thành lập và làm chủ tịch Ủy ban
Môi trường và Phát triển Thế giới (World Commission on Environment and
Development - WCED), nay còn được biết đến với tên Ủy ban Brundtland. Tới
nay, ủy ban này đã được ghi nhận có những công hiến rất giá trị cho việc đẩy mạnh
sự phát triển bền vững.
Năm 1987: Hoạt động của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới trở nên
nóng bỏng khi xuất bản báo cáo có tựa đề "Tương lai của chúng ta" (tựa tiếng
Anh: Our Common Futur và tiếng Pháp là Notre avenir à tous, ngoài ra còn thường
đề cho việc thực hiện Vietnam Agenda 21.
Có thể nói rằng mọi vấn đề về môi trường đều bắt nguồn từ phát triển.
Nhưng con người cũng như tất cả mọi sinh vật khác không thể đình chỉ tiến hoá và
ngừng sự phát triển của mình. Con đường để giải quyết mâu thuẫn giữa môi trường
và phát triển là phải chấp nhận phát triển, nhưng giữ sao cho phát triển không tác
động một cách tiêu cực tới môi trường. Do đó, năm 1987 Uỷ ban Môi trường và
Phát triển của Liên Hợp Quốc đã đưa ra khái niệm Phát triển bền vững:
"Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của
con người nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai".
Ðể xây dựng một xã hội phát triển bền vững, Chương trình Môi trường Liên
Hợp Quốc đã đề ra 9 nguyên tắc:
1. Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng.
2. Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người.
3. Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái đất.
4. Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo được.
5. Tôn trọng khả năng chịu đựng được của Trái đất.
6. Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân.
7. Ðể cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình.
8. Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển và
bảo vệ.
9. Xây dựng một khối liên minh toàn cầu.
Chương 2
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
Khái niệm “Phát triển bền vững” được biến đến ở Việt Nam vào những
khoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90. Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá
triển
của
Việt
Nam.
Tháng 8-2004, Thủ tưởng chính phủ ra quyết định số 153/2004/QĐ - TTg ban
hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, nhằm phát triển bền
vững đất nước trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa phát triển kinh tế,
phát triển xã hội, phát triển văn hoá, phát triển con người, bảo vệ môi trường. Định
hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam nêu lên những thách thức mà
Việt Nam phải đối mặt, đề ra những chủ trương, chính sách, công cụ pháp luật và
những lĩnh vực hoạt động ưu tiên cần được thực hiện để phát triển bền vững trong
thế kỷ XXI. Đây cũng là một chiến lược khung bao gồm những định hướng lớn,
làm cơ sở pháp lý để các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân có liên
quan triển khai thực hiện và phối hợp hành động, nhằm bảo đảm phát triển bền
vững đất nước, đồng thời thể hiện sự cam kết của Việt Nam với quốc tế. Trong
định hướng triển khai thực hiện, Việt Nam không ngừng bổ sung và phát triển
đểĐịnh hướng chiến lược phát triển bền vững phù hợp với từng giai đoạn phát
triển, cập nhật tri thức và tư tưởng mới, đổi mới tư duy, hoàn thiện chiến lược phát
triển bền vững ở Việt Nam. Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt
Nam tập trung những hoạt động ưu tiên cần được lựa chọn và thực hiện trong 10
năm tới, bao gồm: những lĩnh vực kinh tế; những lĩnh vực xã hội; những lĩnh vực
sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và kiểm soát ô nhiễm.
Chủ trương và mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam được thể hiện rừ
trong các Văn kiện đại hội của Đảng và trong các chương trình hành động của
Hai là, phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; bảo đảm an ninh lương
thực, năng lượng để phát triển bền vững, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; kết
hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà với phát triển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết
kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái
và bảo vệ môi trường bền vững; từng bước thực hiện nguyên tắc "mọi mặt kinh tế,
xã hội, môi trường đều cùng có lợi".
Ba là, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là một yếu tố
không thể tách rời của quá trình phát triển. Nghiêm túc áp dụng rộng rãi nguyên
tắc: người gây thiệt hại đối với tài nguyên và môi trường thì phải bồi hoàn, coi yêu
cầu bảo vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá về phát triển bền
vững.
Bốn là, quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu
cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương
lai. Tạo lập điều kiện để mọi người và cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng
để phát triển, được tiếp cận với những nguồn lực chung và được phân phối công
bằng lợi ích công cộng, tạo ra nền tảng vật chất, tri thức và văn hoá tốt đẹp cho các
thế hệ mai sau, sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái tạo, phát triển hệ
thống sản xuất sạch và thân thiện với môi trường.
Năm là, khoa học và công nghệ được phát triển như là nền tảng và động lực
cho công nghiệp hoá và hiện đại hoá, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững
đất nước; đồng thời, sự phát triển khoa học - công nghệ là sự thể hiện trình độ phát
triển của xã hội.
Những nhóm vấn đề cơ bản cần ưu tiên cho phát triển của Việt Nam hiện
nay và trong những năm tới là:
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự
thuộc về nhân dân; chế độ xã hội do nhân dân làm chủ; tự do mưu cầu hạnh phúc
vì sự phát triển của xã hội và của gia đình, cá nhân; hoàn thiện pháp luật, thể chế,
hệ thống văn bản quy phạm, bảo đảm tự do hoạt động kinh tế - xã hội; đặc biệt là
Thứ bảy, bảo đảm an ninh, quốc phòng, bảo vệ vững chắc nền độc lập, chủ
quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.
(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.178-179.
(2) Theo GS P.Krugman thì Việt Nam tham gia thị trường thế giới khi mức
độ chuyên môn hoá ngày càng cao, nên có thể tận dụng cơ hội để đổi mới công
nghệ, tăng năng suất lao động, tăng thu nhập cho người lao động; Việt Nam có thể
đi nhanh hơn các nước đã đi trước nếu biết lựa chọn tạo ra được những sản phẩm
tinh xảo hơn, có giá trị gia tăng cao hơn (Nhân Dân cuối tuần, số 23, ngày 7-62009).
Nếu như có một nhiệm vụ duy nhất của Việt Nam trong thế giới toàn cầu
hóa này thì đó phải là và chỉ có thể là phải phát triển bền vững, bởi phát triển bền
vững là xu hướng tất yếu mà tất cả nhân loại cần phải hướng tới trong giai đoạn
“tư duy lại, thiết kế lại, vận hành lại” toàn thể và toàn diện mô hình phát triển như
hiện nay.
Thách thức đầu tiên và cơ bản nhất đối với nhiệm vụ phát triển bền vững của
Việt Nam đó chính là hiểu khái niệm phát triển bền vững của Việt Nam, kiểu Việt
Nam là như thế nào. Những định nghĩa về phát triển bền vững của các tổ chức
quốc tế, của các học giả đương đại hiện nay chỉ là những định nghĩa có tính chất cơ
bản; từ nền tảng cơ bản đó, chúng ta phải định nghĩa ra một nội hàm phát triển bền
vững của riêng Việt Nam, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam. Nội
hàm của khái niệm phát triển bền vững cho Việt Nam không thế giống với sự phát
triển bền vững của Hoa Kỳ, của Trung Quốc, của Nhật Bản, của Âu châu, của các
nước Đông Nam Á khác,… Sự lệ thuộc về mặt khái niệm sẽ là sự khởi đầu cho rất
nhiều sự lệ thuộc khác theo sau. Sự tự chủ về mặt khái niệm là tiền đề cho sự chủ
động và sáng tạo trong rất nhiều lĩnh vực cho quốc gia Việt Nam.
Theo quan điểm nêu trên, sự phát triển bền vững của Việt Nam cần phải
được bổ sung 03 yêu cầu quan trọng để sự phát triển đó phải thật sự bền vững, đó
là: phải phát triển đúng với tiềm năng, phải phát triển mạnh hơn sức ép, và phải
Việt Nam mà còn có tính đại diện chung cho rất nhiều các quốc gia đang phát triển
có quy mô nhỏ và trung bình trên thế giới, cho kể cả các quốc gia đã phát triển gần
như cực đỉnh về vật chất. Nếu chúng ta cam kết và thực hiện, lợi ích của Việt Nam
sẽ tương đồng với lợi ích của các quốc gia trên, sự phát triển bền vững trở thành
một phong trào toàn cầu có năng lực cộng hưởng cao.
Để phát triển bền vững, chúng ta phải nhận ra được một trong những nguyên
nhân nội tại hàng đầu làm cho chúng ta phát triển kém bền vững. Đó là do chúng ta
còn thiếu khát vọng lớn và yếu kém trong khả năng thực thi những điểm yếu ngàn
đời của người Việt, là căn bệnh âm tính trầm kha của văn hóa Việt. Vậy nên, đây
chính là cơ hội ngàn năm có một để chúng ta một lần cải sửa được sự âm tính này,
thực sự xây dựng được một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011–2020, Đảng ta đã đề ra 5
quan điểm:
Thứ nhất, phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền
vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược.
Thứ hai, đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây
dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh.
Thứ ba, mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người
là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển.
Thứ tư, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công
nghệ ngày càng cao; đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ năm, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều
kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
5 quan điểm trên gắn bó và kết hợp hài hòa với nhau, trong đó quan điểm
phát triển bền vững được nhấn mạnh là “yêu cầu xuyên suốt của Chiến lược”.
Khi thảo luận về các dự thảo văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI,
Nội dung của phát triển bền vững đã được Đảng ta xác định trong Chiến
lược Phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020, đó là phát triển bền vững về kinh tế, giữ
vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả,
sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển
kinh tế tri thức. Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa,
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; không ngừng nâng cao chất lượng cuộc
sống của nhân dân. Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải
thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Trong quá trình phát
triển, phải đặc biệt quan tâm giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường quốc
phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh
thổ để bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững là phát triển
khoa học và công nghệ . Hướng trọng tâm hoạt động khoa học, công nghệ vào
phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển theo chiều sâu góp phần tăng
nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Tăng trưởng bền vững là yêu cầu xuyên suốt của chiến lược phát triển kinh
tế-xã hội 2011-2020. Thế nhưng để thực hiện được yêu cầu này trong thực tiễn lại
là điều không đơn giản. Với bệnh thành tích về tăng trưởng, bệnh “phát triển kinh
tế theo phong trào” đã ăn sâu trong nhận thức của một số cán bộ, nhất là với các
cán bộ địa phương thì việc chuyển hướng phát triển sang phát triển bền vững chắc
chắn sẽ gặp nhiều khó khăn. Để đưa nhanh Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống,
ngay từ cấp hoạch định chính sách ở Trung ương cần quyết tâm rất cao với những
giải pháp quyết liệt và được quán triệt tư duy ở tất cả các cơ quan xây dựng và thực
thi chính sách ở cả trung ương và địa phương. Theo các chuyên gia kinh tế, để khởi
động được sự phát triển bền vững trong thập kỷ này, bên cạnh những cơ chế chính
sách cho sự phát triển bền vững, rất cần những chính sách “nói không” với những
dự án đầu tư không mang lại nhiều hiệu quả phát triển bền vững hoặc có thể gây ra
nhanh, mà không để ý đến những nguy hại dài lâu của lối phát triển ấy đến môi
trường sinh thái (tàn phá rừng, sa mạc hóa...), đến trữ lượng hữu hạn của tài
nguyên thiên nhiên (quặng mỏ, dầu hỏa, khí đốt).
Ý niệm "phát triển bền vững" nhấn mạnh đến khả năng phát triển kinh tế
liên tục lâu dài, không gây ra những hậu quả tai hại khó khôi phục ở những lĩnh
vực khác, nhất là thiên nhiên. Phát triển mà làm hủy hoại môi trường là một phát
triển không bền vững, phát triển mà chỉ dựa vào những loại tài nguyên có thể cạn
kiệt (mà không lo trước đến ngày chúng cạn kiệt thì phải làm sao) là một phát triển
không bền vững. Có người còn thêm rằng lối phát triển phụ thuộc quá nhiều vào
ngoại lực (như FDI) cũng là khó bền vững, vì nguồn ấy có nhiều rủi ro, không chắc
chắn. Nói ngắn gọn, phát triển là không bền vững nếu nó thật "nóng" đó không thể
giữ lâu, nền kinh tế chóng rơi vào khủng hoảng, hay ít nhất cũng chậm lại trong
tương lai.
Không thể chối cãi: "phát triển bền vững" là một ý niệm hữu ích, đáng lưu
tâm. Nhưng chỉ để ý đến liên hệ giữa môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên,
và tăng trưởng kinh tế là chưa khai thác hết sự quan trọng của ý niệm "bền vững".
Ý niệm ấy sẽ hữu ích hơn nếu được áp dụng vào hai thành tố nòng cốt khác của
phát triển, đó là văn hóa và xã hội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đại học sư phạm Hà Nội, Viện Nghiên cứu Sư phạm, Dự án VIE/01/021,
“Đại cương về Phát triển bền vững”, Hà Nội, 2006. (Sách mượn tại thư
viện VIE).
2. Bộ Kế hoạch và đầu tư, Dự án VIE/01/021, “Chính sách Phát triển bền
vững ở Việt Nam – Thực trạng và khuyến nghị”, Hà Nội, tháng 1 năm
2006. (Sách mượn tại thư viện VIE).
3. Bộ Kế hoạch và đầu tư, Dự án VIE/01/021, “Định hướng Chiến lược
PTBV ở Việt Nam” (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam - Agenda 21),
Hà Nội, tháng 8 năm 2004. (Sách có tại khoa PTBV).