Phát triển con người và một số vấn đề trong phát triển con người ở Thái Nguyên hiện nay - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
--------

TRỊNH THỊ NGHĨA

PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG
PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2016

i


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
--------

TRỊNH THỊ NGHĨA

PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG
PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số: 62.22.03.02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: 1. GS.TS Hồ Sĩ Quý

MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỂ TÀI LUẬN ÁN ...............................................................................7
1.1. Những công trình nghiên cứu về phát triển con người ....................................7
1.2. Những công trình nghiên cứu về thực trạng phát triển con người ở Việt Nam
và Thái Nguyên hiện nay ......................................................................................15
Tiểu kết chương 1......................................................................................................26
Chương 2. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI ....27
2.1. Quan điểm của triết học Mác về phát triển con người...................................27
2.2. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về phát triển con người ...............36
2.3. Quan điểm của Chương trình phát triển Liên hợp quốc về phát triển con
người .....................................................................................................................51
Tiểu kết chương 2......................................................................................................69
Chương 3. THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG PHÁT
TRIỂN CON NGƯỜI Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY ...........................................71
3.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến con người và phát triển con người Thái Nguyên .. 71
3.2. Thực trạng về phát triển con người ở Thái Nguyên hiện nay ........................76
3.3. Một số vấn đề đặt ra đối với sự phát triển con người ở Thái Nguyên giai
đoạn hiện nay ......................................................................................................104
Tiểu kết chương 3....................................................................................................120
Chương 4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
Ở THÁI NGUYÊN HIỆN NAY .............................................................................122
4.1. Nâng cao nhận thức của chính quyền, đoàn thể về phát triển con người ....122

iv


4.2. Chú trọng tạo việc làm, thực hiện xóa đói giảm nghèo dựa vào những thế
mạnh của tỉnh; mở rộng cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội, nhằm cải thiện chỉ số
phát triển con người ............................................................................................125


CSSK

Chăm sóc sức khỏe

3.

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

4.

CNH, HĐH

5.

DTTS

6.

GDP/người

7.

HDRO

8.

HDR


Chỉ số nghèo đa chiều

14.

MDG

Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ

15.

NHDR

Báo cáo phát triển con người quốc gia

16.

PTSX

Phương thức sản xuất

17.

PTCN

Phát triển con người

18.

QHSX

Dân tộc thiểu số
Thu nhập bình quân đầu người
Văn phòng báo cáo phát triển con người

Trung du miền núi phía bắc

Ngân hàng thế giới

vi


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu về chăm sóc sức khỏe đạt được ở Thái Nguyên ..............80
Bảng 2.2: Chỉ số HDI và mức độ đóng góp của các chỉ số thành phần vào chỉ số
HDI năm 2008 của Thái Nguyên ............................................................................102
Bảng 2.3: Chỉ số HDI và mức độ đóng góp của các chỉ số thành phần vào chỉ số
HDI năm 2012 của Thái Nguyên ............................................................................103
Bảng 2.4: Tỷ lệ số hộ là DTTS và tỷ lệ hộ nghèo là DTTS (%) .............................106

vii


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề con người và phát triển con người được cộng đồng thế giới quan tâm
nhiều hơn vào thập niên 80 của thế kỷ XX, khi tăng trưởng kinh tế nhiều nơi không
thực sự tạo ra tiến bộ xã hội, những mặt trái của tăng trưởng kinh tế biểu hiện ngày
càng nghiêm trọng, xung đột sắc tộc và tôn giáo bùng phát, nhiều vấn đề xã hội nảy
sinh không chỉ đe dọa sự phát triển bình thường của thế hệ hiện tại mà cả tương lai.
Từ đầu những năm 90, khi Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) khuyến

quyết những vấn đề về PTCN đang đặt ra trong thực tiễn ở phạm vi quốc gia cũng
như trên toàn thế giới.
Với triết học Mác, con người và PTCN là một trong những nội dung rất căn
bản. Trong suốt thế kỷ XX và hiện nay, quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người
và PTCN vẫn thu hút sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà hoạt động xã hội,
bởi ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc của nó trong giải quyết những vấn đề mới của
PTCN hiện đại. “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự
do của tất cả mọi người”, tư tưởng nổi tiếng của C.Mác và Ph.Ănghen nêu trong
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ngày nay vẫn là tư tưởng có ý nghĩa lý tưởng đối
với mọi lý thuyết về PTCN.
Ở Việt Nam, những kết quả đạt được trong PTCN gắn liền với những thành
tựu của công cuộc đổi mới. Đảng cộng sản Việt Nam trên cơ sở Chủ nghĩa Mác –
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, với những chỉ dẫn tư tưởng về con người và
PTCN, đã cụ thể hóa quan điểm PTCN bằng các chủ trương, đường lối và thực hiện
quan điểm đó thông qua các chính sách kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Sự du
nhập các tư tưởng thời đại vào Việt Nam từ cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, đã
ảnh hưởng tích cực đến tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước. Trên thực tế, sự phát
triển toàn diện con người Việt Nam cả về thể lực, trí lực, phẩm chất chính trị, đạo
đức, văn hóa gắn liền với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, sau hơn 30 năm
đổi mới, đã đạt được những thành tựu rất đáng kể, bước đầu đáp ứng được yêu cầu
của quá trình CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Là
thành viên của Liên hợp quốc, Việt Nam đã tiếp thu những tư tưởng tiến bộ về
PTCN của UNDP và trên cơ sở các Báo cáo PTCN toàn cầu, Việt Nam đã xây dựng
Báo cáo PTCN riêng và đã từng được UNDP trao giải thưởng năm 2001. Đặc biệt,

2


các tổ chức quốc tế thuộc Liên hợp quốc đánh giá rất cao những thành tích của Việt
Nam trong việc thực hiện các mục tiêu về PTCN như xóa đói giảm nghèo, bình

Thực tiễn PTCN ở Thái Nguyên cũng như ở cấp độ quốc gia trên thực tế đang
đặt ra những vấn đề mới, bức xúc, đòi hỏi phải được nghiên cứu sâu hơn cả về lý luận
và thực tiễn, nhằm làm sáng tỏ vấn đề và đưa ra những giải pháp cụ thể, hữu hiệu cho
sự nghiệp PTCN nói chung.
Với những lý do trên, chúng tôi chọn “Phát triển con người và một số vấn
đề trong phát triển con người ở Thái Nguyên hiện nay” làm đề tài nghiên cứu
cho luận án của mình.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là lý luận về phát triển con người và thực
trạng phát triển con người ở Thái Nguyên hiện nay.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Những tư tưởng cơ bản của triết học Mác về PTCN. Quan điểm của Đảng
cộng sản Việt Nam về PTCN trong thời kỳ đổi mới đất nước. Quan niệm về PTCN
của UNDP thông qua qua các Báo cáo PTCN toàn cầu từ 1990 đến nay.
Thực trạng PTCN ở Thái Nguyên từ năm 1999 đến nay. Những vấn đề đặt ra
cho PTCN ở Thái Nguyên giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích quan niệm về PTCN của Mác và Ăngghen, của Đảng
cộng sản Việt Nam và của UNDP, luận án vận dụng nghiên cứu thực trạng PTCN ở
Thái Nguyên nhằm xác định những vấn đề đặt ra đối với PTCN trong giai đoạn hiện
nay. Từ đó, luận án đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự PTCN ở
Thái Nguyên.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích, xác định những quan niệm cơ bản của triết học Mác, của UNDP
và của Đảng cộng sản Việt Nam về PTCN.
- Nghiên cứu thực trạng PTCN ở Thái Nguyên từ năm 1999 đến nay. Xác
định và làm rõ những vấn đề đặt ra cho PTCN ở Thái Nguyên giai đoạn hiện nay.



5


- Luận án đã ứng dụng được lý luận và tính toán được số liệu để làm rõ thực
trạng PTCN ở Thái Nguyên trong các mặt thể lực, trí lực, văn hóa và trong thực
hiện công tác xóa đói giản nghèo.
- Luận án đã xác định được 5 vấn đề đang đặt ra cấp thiết cho sự PTCN ở
Thái Nguyên hiện nay.
- Luận án đã đề xuất được 5 giải pháp nhằm thúc đẩy PTCN Thái Nguyên
giai đoạn hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần làm sáng tỏ các quan điểm lý luận về PTCN và vận dụng
các quan điểm lý luận đó vào nghiên cứu thực trạng PTCN ở một tỉnh trung du
miền núi là Thái Nguyên.
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy những vấn đề triết học về con người, những vấn đề lý luận và thực tiễn về
PTCN.
- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định chính
sách và giải quyết các vấn đề về PTCN của tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện
tại và tương lai.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án
gồm có 4 chương, 13 tiết.
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề liên quan đến đề
tài luận án
Chương 2. Một số quan điểm cơ bản về phát triển con người
Chương 3. Thực trạng và một số vấn đề đặt ra trong phát triển con người ở
Thái Nguyên hiện nay
Chương 4. Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển con người ở Thái

tr.457 - 479], tác giả Đặng Hữu Toàn đã phân tích quan niệm duy vật lịch sử của
triết học Mác về con người, bản chất con người, mối quan hệ giữa con người với tự
nhiên và xã hội, vị trí và vai trò của con người trong tiến trình phát triển của lịch sử

7


nhân loại và sự nghiệp giải phóng con người. Từ đó tác giả đi đến khẳng định các
quan niệm này “có giá trị to lớn cả về lý luận lẫn thực tiễn, trở thành cơ sở lý luận
cho nhiều ngành khoa học nghiên cứu về con người, đồng thời nó cũng là cơ sở
vững chắc cho lý luận giải phóng con người khỏi lao động bị tha hóa, khỏi ách áp
bức bóc lột, bất công, trả lại giá trị đích thực của con người, tạo điều kiện để con
người phát triển toàn diện” [122, tr.478].
Tiến trình con người hoạt động sản suất, sinh tồn và làm ra lịch sử của mình
cũng gắn liền với quá trình con người tác động, khai thác giới tự nhiên. Con người
từng bước nhận biết, khám phá, nắm bắt những quy luật của tự nhiên cũng đồng
thời cải biến, phát triển chính bản thân mình. Tác giả Hoàng Chí Bảo khẳng định:
“C.Mác - Ph.Ăngghen đã hình dung sự phát triển, hoàn thiện của con người đi qua
mọi dích dắc lịch sử, từ văn minh trong dã man và dã man trong văn minh, với tha
hóa và giải tha hóa rồi sẽ tiến đến con người tự do, phát triển và hoàn thiện nhân
cách, trong thể liên hiệp cộng đồng những con người tự do của chủ nghĩa cộng sản
văn minh” [9, tr.218]. Tác giả Đặng Hữu Toàn [122, tr.457-479] cho rằng, khi xem
xét vị thế của con người trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, các nhà
kinh điển của chủ nghĩa Mác đã đi đến quan niệm: khuynh hướng chung của tiến
trình lịch sử được quy định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất, tự nó đã nói lên
trình độ phát triển của xã hội. Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản
xuất, còn là chủ thể của lịch sử. Con người vừa là diễn viên, vừa là tác giả của vở
kịch do mình dàn dựng và hoàn cảnh chỉ có thể tạo ra con người trong chừng mực
con người tạo ra chính hoàn cảnh ấy. Do vậy, theo các ông con người phải nhân đạo
hóa hoàn cảnh, tạo ra hoàn cảnh hợp tính người để phát triển bản chất và hoàn thiện

những phương tiện và cơ sở để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, chứ chưa phải
là mục đích của sự phát triển. “Việc tạo lập những điều kiện sống công bằng, cơ hội
làm việc tốt nhất, khả năng phát triển hài hòa về mặt tinh thần… đối với tất cả mọi
người, là chiều hướng căn bản của sự phát triển xã hội nhằm thỏa mãn những nhu cầu
và khát vọng chân chính của con người” [108, tr.495].
Tóm lại, Các nhà nghiên cứu trên đã phân tích được giá trị khoa học, nhân
văn trong quan niệm của triết học Mác về con người, giải phóng là điều kiện để
PTCN toàn diện. Sự phát triển của lịch sử xã hội gắn liền với sự phát triển của lực
lượng sản xuất, song mức độ tiến bộ xã hội phải được đo bằng trình độ PTCN.

9


Chúng tôi sẽ kế thừa và phát triển những quan điểm này trong luận án của mình.
Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa không còn gì nghiên cứu về vấn đề con người
trong triết học Mác. Sự vận động biến đổi và nảy sinh những vấn đề mới của đời sống
xã hội đòi hỏi phải giải quyết, thì việc tiếp tục nghiên cứu những tư tưởng của triết
học Mác về con người và PTCN thiết nghĩ luôn là vấn đề thiết thực cả về mặt lý luận
và thực tiễn. Những công trình trên sẽ là cơ sở lý luận quan trọng để chúng tôi tiếp
thu và bổ sung, phát triển trong nghiên cứu của mình.
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về quan điểm của Chương trình phát triển
liên hợp quốc về phát triển con người
Tác giả Hồ Sĩ Quý trong bài viết Phát triển con người: Những điều cần làm
rõ [106] và trong cuốn Con người và phát triển con người [110] đã phân tích nội
hàm khái niệm phát triển con người trên cơ sở quan điểm của UNDP. PTCN không
phải là phương tiện mà là mục tiêu của sự phát triển. Con người trong quan niệm
này được coi là chiếm vị trí trung tâm của sự phát triển, nghĩa là nó đóng vai trò
quyết đinh cả đầu vào và đầu ra của sự PTCN. “Khi con người được đặt vào vị trí
trung tâm của sự phát triển, được coi là chủ thể và là mục tiêu của sự phát triển, thì
sự tăng trưởng kinh tế, sự phát triển nguồn lao động, cũng như sự phát triển các lĩnh

Tác giả Nguyễn Đình Tuấn [127] và Nguyễn Thị Lê [68] đã khái quát lại
quan điểm PTCN của UNDP và việc xây dựng báo cáo PTCN toàn cầu từ 1990 đến
nay, những thay đổi trong việc xem xét, bổ sung các tiêu chí, chỉ số về PTCN; đồng
thời các quốc gia, khu vực cũng đã tiến hành xây dựng báo cáo PTCN cho riêng
mình. Đặc biệt, tác giả Nguyễn Thị Lê chỉ ra sự thay đổi khái niệm này qua hai giai
đoạn: Từ 1990 -2009: Khái niệm PTCN mà UNDP đưa ra là việc mở rộng sự lựa
chọn cho con người để con người có cuộc sống thịnh vượng hơn. Từ 2010 đến nay:
UNDP đưa ra quan niệm PTCN là sự mở rộng tự do của con người để cuộc sống
trường thọ, khỏe mạnh và sáng tạo… gồm các yếu tố: sự thịnh vượng, trao quyền,
tính chủ thể và công bằng. “Quan điểm này nhấn mạnh tới việc lấy con người làm
trung tâm và sự tự do của con người” [68, tr.30]. Tác giả cũng bàn về chỉ số PTCN
và những thay đổi trong cách tính, những ưu điểm và hạn chế của nó.

11


Tác giả Đào Thị Minh Hương [54] từ góc độ nhân học, đã phân tích hai nhân
tố của quá trình thực hiện các dự án PTCN là Người đi phát triển và Người được
phát triển. Đối với tham dự của người phát triển, tác giả chỉ ra những hạn chế
thường mắc phải như thiên về hình thức tổ chức hơn là “quan tâm đến tâm tư,
nguyện vọng của những người này” [54, tr.52] - người được phát triển. Các chuyên
gia phát triển thường chưa vượt qua được những định kiến về văn hóa, do đó dễ
mang tính áp đặt cho cộng đồng - nơi mà họ đến, không tính đến nét đặc thù của
môi trường và đối tượng hưởng thụ,… Từ đó tác giả đưa ra cách tiếp cận tham dự từ
phía những người đi phát triển để khắc phục những hạn chế này, “người phát triển
chủ động, tích cực tham gia vào đời sống thường ngày của các đối tượng phát triển,
xem xét quá trình phát triển “từ bên trong” nhằm nắm bắt tình hình, kịp thời đề xuất
các điều chỉnh thích hợp, khắc phục những yếu tố bất cập” [54, tr.54]. Đối với tham
dự của người được phát triển, theo tác giả phải “huy động được sự tham gia tích cực
của chính những người được phát triển” [54, tr.56]. Chỉ trên hai cơ sở này mới có

tăng đáng kể những nguy cơ và hiểm họa đe dọa an ninh con người và mở rộng quy
mô những hậu quả có thể của chúng (…). Một cách tương ứng, nhiệm vụ bảo đảm
an ninh cho con người trở nên phức tạp hơn, vấn đề phát hiện và ngăn chặn các
nguy cơ và hiểm họa càng trở nên cấp thiết hơn” [164, tr.13]. Tác giả Phạm Thành
Nghị đã phân tích khái niệm PTCN bền vững theo quan niệm của UNDP và bốn
yếu tố của PTCN bền vững mà UNDP đưa ra. Tác giả nhấn mạnh, “Tư tưởng mới
nhất của UNDP về sự phát triển con người bền vững là để tất cả các nội dung về sự
phát triển của con người, cho con người và bởi con người có thể đến các thế hệ
tương lai. Bình đẳng tiếp cận và bình đẳng về cơ hội là các yếu tố cơ bản nhất của
tầm nhìn về các điều kiện cho phát triển con người bền vững” [90, tr.96]. Trên cơ sở
đó, tác giả nêu ra những thách thức đối với PTCN bền vững và hướng giải quyết.
Tác giả khẳng định “Sự phát triển con người bền vững phụ thuộc vào mức độ chính
phủ triển khai ý tưởng phát triển bền vững trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã
hội và các giải pháp khả thi cho sự giám sát của người dân” [90, tr.99]. Cũng liên
quan đến vấn đề này, tác giả Edouard A.wattez trong bài viết Một số vấn đề về phát
triển con người ở Việt Nam [138] cũng đề cập đến PTCN bền vững - điểm đáng chú
ý ở đây là, cái tác giả muốn nhấn mạnh - đó là sự phát triển của thế hệ tương lai là

13


rất quan trọng nhưng xóa bỏ tình trạng đói nghèo cho một bộ phận còn lại trong
hiện tại cũng quan trọng không kém: “trong khi cố gắng ngăn ngừa sự khốn khó
trong tương lai, không thể bỏ qua những người hiện nay đang bị khốn khó” [138,
tr.18]. Việc kết hợp hai mục tiêu này là yếu tố cơ bản trong cách tiếp cận PTCN đối
với phát triển kinh tế - xã hội.
Tác giả Nguyễn Vũ Quỳnh Anh trong bài Nghiên cứu phát triển con người
từ hướng tiếp cận vốn xã hội [6] cho rằng để PTCN thì nguồn vốn kinh tế không
còn đóng vai trò duy nhất trong phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho người lao
động, mà còn có các yếu tố khác, trong đó có vốn xã hội. Đối với sự PTCN, vốn xã

án thực hiện chiến lược PTCN ở nước ta. Nghiên cứu về vấn đề này đã có nhiều nhà
khoa học, nhiều học giả quan tâm và tiếp cận dưới những góc độ khác nhau. Trong
quan niệm về PTCN, Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2001 - Đổi mới và sự
nghiệp phát triển con người [139] đã khẳng định: “Phát triển là sự mở rộng phạm vi
lựa chọn của con người để đạt đến một cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh, có ý
nghĩa và xứng đáng với con người. Quan điểm này bao hàm hai khía cạnh là mở
rộng các cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực lựa chọn của con người nhằm hưởng
thụ một cuộc sống hạnh phúc, bền vững” [139, tr.13]. Quan niệm này “là tương
thích với quan niệm mới về phát triển con người mà UNDP đang theo đuổi” [139,
tr.23]. Báo cáo đã nêu bật những thành tựu về PTCN mà Việt Nam đã đạt được nhất là từ đổi mới cho đến nay. Đồng thời báo cáo cũng chỉ ra những thách thức mà
Việt Nam phải đối mặt trong quá trình đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại
hóa dưới tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển con người, tác giả Nguyễn Duy
Quý [104] cho rằng, ở nước ta hiện nay thì tăng trưởng kinh tế - xã hội vẫn được coi
là nhiệm vụ hàng đầu, tuy nhiên phải luôn lấy con người, trình độ PTCN làm nền
tảng. Phát triển văn hóa thông qua nhiều quan hệ, nhưng lôgic cơ bản nằm trong
quan hệ lao động. Để phát triển văn hóa lên một trình độ mới, phải gia tăng trình độ
trí tuệ trong quan hệ lao động. Sự hình thành một kiểu nhân cách mới là mục tiêu
quan trọng nhất của giải phóng văn hóa của sự phát triển. Tác giả Đặng Hữu Toàn
trong bài viết Phát triển con người - thước đo nhân văn của tiến bộ xã hội trong
thời đại ngày nay và trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam [123] đã phân tích những

15


thay đổi của tình hình thế giới trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI và những
quan niệm khác nhau về tiêu chí của sự phát triển và tiến bộ xã hội. Tác giả đã luận
chứng và đi đến khẳng định :“Chỉ có con người với tư cách là giá trị tối cao và tự
mục đích của phát triển xã hội mới được coi là tiêu chí chung của phát triển và tiến
bộ xã hội” [123, tr.11]. Tác giả khẳng định “Sự phát triển và tiến bộ xã hội theo

Tác giả Trần Đức Hiệp trong bài viết Phân phối thu nhập ở Việt Nam: một số thách
thức nhìn từ mục tiêu phát triển con người [61] đã chỉ ra một số thành tựu về kinh tế
mà Việt Nam đã đạt được trong những năm 2001-2007 và những kết quả này đã
góp phần giảm thiểu tình trạng nghèo đói ở Việt Nam. “Nhìn tổng thể, trình độ phát
triển con người của Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt dưới ảnh hưởng của quá trình
tăng trưởng việc làm” [61, tr.50]. Theo bà Valerie Kozel, chuyên gia Kinh tế cao
cấp của Ngân hàng Thế giới khẳng định: “(Việt Nam) tăng trưởng đang suy giảm
trong những năm gần đây do các bất ổn vĩ mô và các cú sốc từ bên ngoài, bất bình
đẳng gia tăng, nghèo trong nhóm dân tộc thiểu số vẫn cao và khó xóa bỏ. Những
người nghèo còn lại càng khó để tiếp cận, họ phải đối mặt với những thách thức như
sự cô lập, hạn chế về tài sản, trình độ học vấn thấp, sức khỏe kém” [163]. Bên cạnh
đó, những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường cũng đang đặt ra hàng loạt
các vấn đề liên quan đến quyền lợi của người lao động.
Dựa trên những kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả Phạm Minh Hạc
(chủ biên) trong cuốn Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa [40] đã phân tích cơ sở khoa học của chiến lược phát triển toàn diện
con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đồng thời nêu lên một số định hướng
chiến lược và một số giải pháp lớn nhằm xây dựng phát triển toàn diện con người
Việt Nam. Về khái niệm PTCN, theo tác giả cần hiểu “đó là sự phát triển loài
người, cá thể người, cá nhân, nhân cách, nhân lực.. đó là sự phát triển một chỉnh thể
toàn vẹn nhưng nhiều hình thái, nhiều giá trị và nhiều chức năng” [40, tr.110]. Bản
chất của sự PTCN “tựu trung là làm gia tăng giá trị của con người” [40, tr.110].
Theo tác giả, trên bình diện triết học, nội dung PTCN thường được tiếp cận trên ba
lĩnh vực cơ bản: phát triển thể chất, phát triển tâm trí, phát triển tâm hồn, tình cảm.
Trên cơ sở lý luận của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm
của Đảng cộng sản Việt Nam, tác giả đưa ra nội hàm của sự PTCN toàn diện gồm
bảy nội dung, khái lược lại có thể hiểu “phát triển toàn diện con người là khắc phục

17



18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status