SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3
HƯỚNG DẪN HỌC SINH GIẢI BÀI TẬP VỀ CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ:
ẨN DỤ, HOÁN DỤ, PHÉP ĐỐI, PHÉP ĐIỆP
Họ và tên tác giả: Hoàng Thị Dung
Chức vụ:
Giáo Viên
Đơn vị công tác: Văn - Sử - Địa
Trường THPT Yên Định 3
SKKN môn:
Văn
Năm học 2010-2011
1
Phần I: Đặt vấn đề.
1. Lí do chọn đề tài
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “tiếng Việt là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô
cùng quý báu”, bởi vậy mà rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt là vấn đề quan trọng trong
giảng dạy ngữ văn ở trường THPT. Từ đó giúp các em trau dồi kĩ năng sử dụng vốn tiếng Việt
của mình, vận dụng vào khâu tìm hiểu, khám phá các tác phẩm văn học trong nhà trường.
Hiện nay, trong quá trình giảng dạy ngữ văn lớp 10 ban cơ bản, tôi nhận thấy đa số học
sinh chưa có kĩ năng sử dụng tiếng Việt thành thạo, chưa biết khám phá cái hay, cái đẹp ở một
tác phẩm văn, thơ, chưa thấy hết các tầng bậc ý nghĩa của một đơn vị ngôn từ được dùng
trong một câu thơ, câu văn hay một đoạn thơ, đoạn văn. Mà muốn nhận thức được sự hàm
Hiện nay, các nhà ngôn ngữ học đã nghiên cứu, tìm hiểu và phát hiện có khoảng 108
phương tiện và biện pháp tu từ và cho đến nay vẫn đang tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu tiếp,
cho nên con số 108 phương tiện và biện pháp tu từ kia có thể còn là đang khiêm tốn. Điều đó
có nghĩa là rất nhiều các biện pháp tu từ đã được các nhà thơ, nhà văn sử dụng sáng tạo trong
2
tác phẩm nghệ thuật được đưa vào chương trình ngữ văn lớp 10 – trung học phổ thông mà các
em không biết, bởi thực tế là học sinh cả hai bậc trung học phổ thông và trung học cơ sở lại
chỉ được học khoảng trên dưới mười biện pháp tu từ, do vậy mà các em hiểu biết rất ít về các
biện pháp tu từ và chưa có một cái nhìn toàn diện về các biện pháp tu từ được học trong nhà
trường
Hơn nữa, học sinh thường cho rằng: tiếng Việt là môn học vừa khô khan vừa khó hiểu nên
các giờ học lí thuyết đa số là các em rất rất ngại học, ít chú ý nghe giảng mà thường làm việc
riêng, nói chuyện…miễn là có mặt trong lớp học cho hết giờ
Một bộ phận rất ít các em có chú ý nghe giảng và nắm được lí thuyết nhưng mà không
chịu làm bài tập ở nhà nên cách học vẹt ấy đã khiến các em không hiểu được bản chất của vấn
đề, không nhận thức được các tấng ý nghĩa của ngôn từ văn chương do vậy hiệu quả học tập
cũng không cao.
Một số em có học thuộc lí thuyết, chịu khó làm bài tập ở nhà và tìm hiểu kiến thức ở sách
giáo khoa song không biết so sánh, đối chiếu, rút ra những điểm giống nhau và khác biệt của
các biện pháp tu từ này nên chỉ làm được các bài tập vận dụng ở sách giáo khoa, còn khi giáo
viên ra các bài tập cùng dạng nhưng chỉ nâng cao một chút là các em thấy khó và không giải
được. Từ thực tế nhiều em không chú ý đến dạng bài tập về biện pháp tu từ nên khi bình
giảng, phân tích thơ văn các em rất lúng túng.
3. Thực trạng của việc thực hành giải các bài tập về biện pháp tu từ: Ẩn dụ, hoán dụ,
phép đối, phép điệp của học sinh lớp 10 THPT, ban cơ bản, trong quá trình học tập
môn ngữ văn.
Trước đây, khi chưa đổi mới phương pháp thì sách giáo khoa chỉ giới thiệu bài
học lí thuyết về các biện pháp tu từ: Ẩn dụ, hoán dụ, phép đối, phép điệp, sau mỗi bài học có
vững các đơn vị kiến thức lí thuyết rồi về nhà tự giải các bài tập được giao để khắc sâu kiến
thức và sau đó các em biết vận dụng kiến thức đã tiếp thu để trong giờ thực hành các em giải
được các bài tập từ dễ đến khó. Hơn nữa, qua việc thực hành giải các bài tập về biện pháp tu
từ: Ẩn dụ, hoán dụ, phép đối, phép điệp các em sẽ vận dụng được kiến thức và kĩ năng để cảm
nhận, khám phá và thưởng thức cái hay cái đẹp của một tác phẩm văn chương.Như vậy đa số
các em chưa nắm được tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng thực hành giải các bài tập
về biện pháp tu từ: Ẩn dụ, hoán dụ, phép đối, phép điệp nên các em chưa học tốt được bộ môn
ngữ văn. Đây chính là điều làm tôi băn khoăn suy nghĩ rất nhiều về vấn đề này
Khảo sát chất lượng ở 4 lớp vào đầu năm học tôi đã thu được kết quả như sau:
Lớp
Sĩ số
Ban
Loại giỏi
Loại khá
Loại TB
Loại yếu
10B3
54 em
Cơ bản
Không
23 em
11 em
10B7
45 em
Cơ bản
3 em
14 em
25 em
3 em
Trước thực trạng đó, tôi đã nhận thức rằng: Rèn luyện kĩ năng về tiếng Việt, đặc biệt là
kĩ năng thực hành giải các bài tập về biện pháp tu từ: Ẩn dụ, hoán dụ, phép đối, phép điệpcho
các em học sinh lớp 10 ban cơ bản là một vấn đề quan trọng và cấp thiết để giúp các em đạt
hiệu quả cao trong học tập môn ngữ văn. Từ nhận thức này tôi đã cố găng trong công tác
giảng dạy nhiều hơn để giúp các em học tập
4. Mục đích viết sáng kiến kinh nghiệm.
Từ thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy rằng: Hướng dẫn học sinh giải bài tập về các biện
pháp tu từ: Ẩn dụ, hoán dụ, phép đối, phép điệp, đây là một đề tài nhằm trao đổi với các đồng
nghiệp về những suy nghĩ và kinh nghiệm của bản than để nâng cao hiệu quả của việc giảng
dạy môn ngữ văn ở nhà trường, đặc biệt là chương trình ngữ văn lớp 10, ban cơ bản.
Viết về đề tài này, bản thân tôi nhằm thể hiện nhận thức bước đầu về kiến thức lí thuyết
Khái niệm về phép đối
Phép đối là một phương thức tu từ sắp xếp các yếu tố ngôn ngữ như: từ ngữ, hình ảnh,
âm thanh, vần nhịp thành hai vế trong câu hoặc giữa các câu trong đoạn… nhằm tạo ra sự
cân xứng hài hòa cho lời thơ, lời văn
Từ những khái niệm nêu trên giúp các em chỉ ra giá trị biểu dạt của từng biện pháp tu
từ
1.2.
Giúp học sinh tìm hiểu và nhận thức được vị trí vai trò và tầm quan trọng của
việc rèn luyện kĩ năng thực hành giải bài tập về các biện pháp tu từ: Ẩn dụ, hoán dụ,
phép đối, phép điệp
Học lí thuyết chỉ là bước đầu tiếp cận kiến thức. Còn thực hành là bước tiếp theo, là khâu
quan trọng, quyết định để khắc sâu kiến thức của mỗi học sinh về bài học lí thuyết ấy
Thực hành về các biện pháp tu từ nói chung và thực hành giải bài tập về các biện pháp
tu từ: Ẩn dụ, hoán dụ, phép đối, phép điệp nói riêng là những đơn vị kiến thức quan trọng, nó
giống như chiếc chìa khóa để mở ra các tầng ý nghĩa của hình ảnh thơ văn cũng như cái hay,
cái đẹp của văn chương nghệ thuật. Nếu không nắm vững và giải được các biện pháp tu từ thì
cảm thu phân tích văn chương sẽ là sáo rỗng
1.3.
Giúp học sinh nhận diện các dạng khác nhau của từng biện pháp tu từ.
Trong mỗi biện pháp tu từ lại được phân làm nhiều loại khác nhau, học sinh không
chỉ nắm được khái niệm của từng biện pháp tu từ mà còn nhận diện các dạng khác nhau
của từng biện pháp tu từ.
Ví dụ:
5
Ở biện pháp tu từ ẩn dụ được phân làm nhiều loại khác nhau như:
-
- Dựa trên quan hệ liên tưởng tương đồng
giữa hai đối tượng, bằng so sánh ngầm (tức
là mối quan hệ giữa cái được nói ra và cái
muốn nói tời là mối quan hệ tương đồng giống nhau)
- Dựa trên quan hệ liên tưởng tương cận giữa
hai đối tượng, không sử dụng so sánh (tức là
mối quan hệ giữa cái được nói ra và cái
muốn nói tới là mối quan hệ tương cận - gần
nhau)
- Thường có sự chuyển trường nghĩa
- Không chuyển trường mà cùng trong một
trường nghĩa
1.5. Giáo viên cần phân bổ thời gian hợp lí cho tiết dạy
Mỗi tiết học, giáo viên chỉ dành từ 5 → 10 phút về kiến thức lí thuyết còn lại khoảng từ
35→ 40 phút dành cho các nhóm làm các dạng bài tập theo nhóm nêu trên rồi chia bảng 3
phần, gọi 3 em đại diện cho 3 nhóm lên bảng để giải bài tập, sau đó giáo viên chữa từng bài,
nhận xét và chỉ ra lỗi ở bài làm của các em rồi tùy vào mức độ chất lượng bài làm mà cho
điểm khuyến khích những em làm bài chất lượng khá rồi lấy điểm vào cột điểm miệng; Sau
mỗi bài học cần cũng cố kiến thức lí thuyết và ra thêm các dạng bài tập về nhà.
6
1.6 . Sau từng bài học về mỗi biện pháp tu từ giáo viên cần có hệ thống câu hỏi và ra dạng
bài tập để học sinh làm đề cương ôn tập cuối mõi học kì
1.7 . Trong cấu trúc chương trình ở các lớp có tự chọn, giáo viên cần dành một số tiết tự
- Điệp ngữ: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay,
một dân tộc đã gan góc đứng vè phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó
phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập ” (Hồ Chí Minh)
- Điệp vòng:
“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai” (Đặng Trần Côn)
-
Trùng điệp:
“Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm
7
Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông
Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng” (Đặng Trần Côn)
Giáo viên cũng có thể lựa chọn các bài tập về các biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán dụ, phép
đối theo hệ thống và nâng cao như vậy
2.3. Giúp các em học sinh giải dạng bài tập dễ có sự nhầm lẫn trong sự đối chiếu, so sánh
giữa hai biện pháp tu từ có điểm giống nhau như Ẩn dụ, hoán dụ.
Ví dụ: Chỉ ra và phân tích tác dụng biểu đạt của biện pháp tu từ ẩn dụ và hoán dụ ở các
câu sau:
- Sống trong cát chết vùi trong cát
Những trái tim như ngọc sáng ngời (Tố Hữu)
Hình ảnh “Trái tim” là một hoán dụ được dung để thay thế cho con người rất dễ khiến
các em có sự nhầm lẫn với ẩn dụ
Loại giỏi
Loại khá
Loại TB
Loại yếu
10B3
54 em
Cơ bản
3 em
12 em
29 em
Không
10B4
45 em
Cơ bản
1 em
28 em
Không
8
Phần thứ 3: Kết luận
Dạy ngữ văn là giúp học sinh khám phá cái hay cái đẹp của tác phẩm văn chương và hình
thành một số kĩ năng thực hành
Trong quá trình giảng dạy, người giáo viên giữ một vị trí, vai trò quan trong giúp học
sinh khám phá cái hay cái đẹp của tác phẩm văn chương và hình thành một số kĩ năng thực
hành, trong đó có kĩ năng thực hành giải bài tập về các biện pháp tu từ: Ẩn dụ, hoán dụ, phép
đối, phép điệp.
Muốn có hiệu quả cao trong giảng dạy giúp học sinh có được kiến thức và kĩ năng tốt,
người giáo viên phải tâm huyết, say mê nghề nghiệp có nhiều suy nghĩ, trăn trở tìm tòi, đổi
mới phương pháp cho từng bài dạy phù hợp với đối tương của học sinh.. Một trong những
đơn vị kiến thức quan trong quyết định giúp các em khám phá cái hay, cái đẹp của tác phẩm
văn chương là phải rèn luyện cho được ở các em kĩ năng thực hành giải bài tập về các biện
pháp tu từ trong đó có biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán dụ, phép đối, phép điệp
Làm tốt được điều nêu trên là người giáo viên đã giúp các em yêu thích học văn chương.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân tôi đã tích lũy được trong quá trình giảng
dạy ở trường THPT. Tôi mong muốn được các bạn đồng nghiệp góp ý để hoàn thiện hơn. Xin
chân thành cảm ơn.
Yên Định ngày 6 tháng 5 năm 2011
Người viết
Hoàng Thị Dung
MỤC LỤC
phép điệp cho học sinh lớp 10 ban cơ bản
2.1. Giáo viên giúp học sinh giải các bài tập từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp
2.2. Thống kê các dạng bài tập về các biện pháp tu từ này ở SGK và hướng dẫn cách giải
bài tập nâng cao theo một hệ thống mà giáo viên đã sắp xếp
2.3. Giúp các em học sinh giải dạng bài tập dễ có sự nhầm lẫn trong sự đối chiếu, so sánh
giữa hai biện pháp tu từ có điểm giống nhau như Ẩn dụ, hoán dụ.
2.4. Phân nhóm đối tượng để giải bài tập
3. Kết quả
Phần 3: Kết luận
10
11