Giải pháp góp phần phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện hạ hòa, tỉnh phú thọ - Pdf 43

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực, chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào và chưa có ai công bố
trong bất kỳ công trình nào.
Tôi cũng xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cám ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Nhà nước, Bộ, ngành chủ quản,
cơ sở đào tạo và Hội đồng đánh giá khoa học của trường Đại học Lâm nghiệp
Việt Nam về công trình và kết quả nghiên cứu của mình.

Hà Nội, tháng 10 năm 2013
Tác giả

Bùi Thị Thảo Nguyên


ii

LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu ở nhà trường, kết
hợp với kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác, sự nỗ lực cố gắng của
bản thân. Đạt được kết quả này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý
thầy, cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ
cho tôi trong suốt quá trình học tập. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
nhất đến Thầy giáo - Tiến sỹ Lê Minh Chính, là người trực tiếp hướng dẫn khoa
học, Thầy đã dày công giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành
luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Hạ
Hoà, lãnh đạo và chuyên viên các phòng thuộc UBND huyện Hạ Hoà: phòng

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU........................................................................................................................... 4
1.1. Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu.............................................................4
1.1.1. Những vấn đề chung về nông nghiệp và phát triển nông nghiệp theo hướng
bền vững.................................................................................................................4
1.1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp bền vững….....….13

1.1.3. Yêu cầu đối với việc phát triển nông nghiệp bền vững trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước …………………………………….16
1.2. Tình hình nghiên cứu, giải quyết vấn đề nghiên cứu ............................... 16
1.2.1. Trên thế giới .................................................................................................. 16
1.2.2. Tại Việt Nam.............................................................................................22

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ....................................................................................................... 33
2.1. Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu. ................................................. 33
2.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ…………..33
2.1.2. Đặc điểm về điều kiện kinh tế-xã hội huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ......... 38
2.2. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 544
2.2.1. Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu ..................................................... 54


iv

2.2.2. Phương pháp thống kê thu thập số liệu, tài liệu .......................................... 54
2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu............................................................................ 55
2.2.4. Phương pháp đánh giá nông thôn nhanh (RRA) và phương pháp đánh giá
có sự tham gia của người dân (PRA) ..................................................................... 56
2.2.5. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích.................................................................... 56
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................. 58


Tổng thu nhập quốc dân

GDP

Tổng sản phẩm trong nước

SRI

Kỹ thuật thâm canh cải tiến lúa

NQ/TƯ

Nghị quyết - Trung ương.

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

TTGDTX

Trung tâm giáo dục thường xuyên

SXKD

Sản xuất kinh doanh


Nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản

Tài nguyên &MT

Tài nguyên và môi trường

UBND

Uỷ ban nhân dân

NN&PTNN

Nông nghiệp và phát triển nông thôn

ATVSTP

An toàn vệ sinh thực phẩm

QĐ-BNN

Quyết định - Bộ nông nghiệp

NQ-TU

Nghị quyết - Tỉnh uỷ

ASEAN

Hiệp hội các nước Đông nam Á

Thực trạng giáo dục phổ thông Huyện Hạ Hoà (2010-2012)

44

2.4

Thực trạng ngành y tế của huyện Hạ Hoà (2010-2012)

46

2.5

Kết quả công tác xoá đói, giảm nghèo năm (2010-2012)

47

3.1

Thực trạng phát triển kinh tế huyện Hạ Hòa, giai đoạn (2010-2012)

58

3.2

Thực trạng phát triển nông nghiệp

59

3.3


Giá trị và cơ cấu phát triển ngành trồng trọt, CN, dịch vụ NN

73

3.9

Giá trị sản xuất và cơ cấu ngành trồng trọt (2010-2012)

75

3.10 Diện tích các loại cây trồng hàng năm trong SXNN

76

3.11 Năng suất và sản lượng các loại cây trồng chính

77

3.12 GTXS và tỷ trọng ngành chăn nuôi

81

3.13 Kết quả một số loài vật nuôi chính của ngành chăn nuôi

82

3.14 Thực trạng phát triển ngành lâm nghiệp

87



Tên hình

Trang

3.1

Cơ cấu giá trị sản xuất của các tiểu ngành NLTS

60

3.2

Cơ cấu sử dụng đất năm 2010

62

3.3

Cơ cấu sử dụng đất năm 2012

62

3.4

Diện tích đất của các ngành NLTS (2010-2012)

64

3.5

Ở Việt Nam, nông nghiệp vẫn là cốt lõi của nền kinh tế trong những thập
kỷ tới. Phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp và thủy sản là một trong những định
hướng quan trọng trong phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta. Trong
những năm qua nhiều chương trình, mục tiêu về phát triển nông nghiệp, nông
thôn và nông dân đã được triển khai thực hiện, bước đầu đã làm chuyển biến một
phần bộ mặt nông thôn và thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển theo hướng bền

vững. Đặc biệt theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã đề ra; đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, tỷ trọng nông nghiệp giảm dần
trong cơ cấu GDP nhưng vẫn đảm bảo được an ninh lương thực.
Đối với Hạ Hoà là một huyện trung du miền núi của tỉnh Phú Thọ, nằm
trong hành lang kinh tế đông tây, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có nhiều
thuận lợi cho sản suất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm từ nông sản. Nông nghiệp là
ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu giá trị tổng sản phẩm của huyện.
Phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp và thủy sản là một trong những định hướng
quan trọng trong phát triển kinh tế của huyện. Bên cạnh những lợi thế phát triển
kinh tế nông, lâm nghiệp và thủy sản của huyện vẫn còn tồn tại nhiều tồn thách
thức và tồn tại: như vấn đề chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi trong nông
nghiệp còn chậm, vấn đề chất lượng nguồn nhân lực trong nông nghiệp còn thấp,


2

ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ tiến bộ hạn chế, vấn đề ô nhiễm môi
trường trong sản xuất nông nghiệp .... đòi hỏi phải có những giải pháp thích hợp
nhằm khai thác, sử dụng tối đa các nguồn lực để xây dựng và phát triển một nền
nông nghiệp có hiệu quả và bền vững.
Xuất phát từ thực tế đó tôi chọn đề tài: "Giải pháp góp phần phát triển
nông nghiệp theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Hạ Hoà - tỉnh Phú
Thọ" cho luận văn của mình.

4. Nội dung nghiên cứu:
- Cơ sở lý luâ ̣n và thực tiễn.
- Đánh giá tực trạng nông nghiệp của huyện Hạ Hoà.
- Giải pháp đề xuấ t.


4

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Những vấn đề chung về nông nghiệp và phát triển nông nghiệp theo
hướng bền vững
1.1.1.1 Khái niệm về nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất tạo ra các sản phẩm lương thực,
thực phẩm đáp ứng nhu cầu sinh tồn của con người. Theo nghĩa hẹp ngành nông
nghiệp có hai tiểu ngành là trồng trọt và chăn nuôi. Nông nghiệp hiểu theo nghĩa
rộng nó bao gồm cả ngành lâm nghiệp và thuỷ sản.
* Đặc điểm về sản xuất nông nghiệp:
Với tính cách là một ngành sản xuất đặc thù, nông nghiệp có những đặc
điểm chung như sau:
- Sản xuất nông nghiệp có tính vùng rất rõ rệt. Sản xuất nông nghiệp tiến
hành trên không gian rộng lớn, mỗi vùng lại chịu sự tác động từ những điều kiện
tự nhiên, kinh tế, xã hội, truyền thống văn hoá, tập quán…rất khác nhau. Đặc
điểm này đòi hỏi nhà quản lý phải hiểu rõ tính chất vùng, qui hoạch nông
nghiệp, lựa chọn và bố trí cây trồng, vật nuôi, ứng dụng kỹ thuật canh tác phù
hợp với điều kiện từng vùng, nhằm tránh rủi ro và khai thác lợi thế so sánh nông
sản của mỗi vùng.
- Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp và ngày càng
khan hiếm. Dù cố định về vị trí, tuy nhiên do không bị đào thải trong quá trình

chất ôn đới, nhất là miền Bắc và được trải rộng trên 4 vùng rộng lớn, phức tạp:
trung du, miền núi, đồng bằng và ven biển. Đặc điểm này đem lại cho nông
nghiệp nhiều thuận lợi cơ bản, đồng thời cũng có những khó khăn rất lớn trong
quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp.

1.1.1.2. Khái niệm phát triển
Hiện tại có nhiều quan điểm khác nhau về phát triển kinh tế, Giáo trình
Kinh tế phát triển của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng “Phát triển
kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế, bao gồm cả


6

việc gia tăng sản lượng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế- xã hội theo hướng tiến bộ
và nâng cao chất lượng cuộc sống con người [4]”.
Như vậy phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình tăng trưởng về mọi
mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng
thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội.
Khi đánh giá sự phát triển của một nền kinh tế, phải đánh giá được sự tăng
trưởng và chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh tế.
* Theo đó tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thêm về quy mô, sản lượng sản
xuất hàng hoá và dịch vụ trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Nếu
tổng sản phẩm hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia tăng lên thì nó được coi là
tăng trưởng kinh tế.
Khi đo lường sự tăng trưởng, người ta thường sử dụng một số chỉ tiêu:
- Mức tăng trưởng tuyệt đối:
+ Theo tổng sản phẩm (GNP hay GDP) của nền kinh tế
Y = Yn - Y0
Trong đó : Y : Tổng sản phẩm tăng thêm của năm n so với năm gốc;
Yn : Tổng sản phẩm của năm n;

- Sự liên kết giữa các ngành, lãnh thổ.
- Trình độ công nghệ và sức cạnh tranh giữa các ngành.
Theo đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thực chất là sự thay đổi
của cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù
hợp với môi trường phát triển. Đây không đơn thuần là sự thay đổi vị trí mà là sự
biến đổi cả về chất và lượng. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phải
dựa trên cơ sở một cơ cấu hiện có, do đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu là cải
tạo cơ cấu cũ, lạc hậu hoặc chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu kinh tế mới tiên
tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu kinh tế cũ nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu
mới hiện đại hơn.
Phát triển kinh tế nó bao hàm ý nghĩa rộng hơn, nó không chỉ bao gồm
những thay đổi về số lượng như tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
mà còn bao gồm những thay đổi về chất lượng cuộc sống, đó là kết quả của nâng
cao thu nhập đầu người, cải thiện đời sống nhân dân, giảm bớt đói nghèo, rút
ngắn khoảng cách giữa các tầng lớp dân cư, đảm bảo công bằng xã hội.


8

Sự phát triển như trên chỉ mới đặt ra sự thay đổi “về chất” của tăng trưởng
khi gắn sự gia tăng thu nhập với việc giải quyết vấn đề sử dụng các nguồn tài
nguyên thiên nhiên và nâng cao chất lượng môi trường sống của con người. Vì
vậy khái niệm về phát triển bền vững ra đời.
1.1.1.3. Khái niệm về phát triển bền vững
Để duy trì sự sống của bản thân và tiếp tục sự phát triển của nòi giống,
ngay từ thời kỳ nguyên thủy của lịch sử nhân loại, con người đã có những hoạt
động khai thác tài nguyên thiên nhiên, chế biến thành những vật phẩm cần thiết
cho mình hoặc cải thiện những điều kiện thiên nhiên, tạo nên môi trường sống
thích hợp với mình. Trong lúc tiến hành những hoạt động đó, con người ít nhiều
đã biết rằng mọi can thiệp vào tài nguyên thiên nhiên và môi trường luôn luôn có

mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển là phải chấp nhận phát triển, nhưng giữ
sao cho phát triển không tác động một cách tiêu cực tới môi trường. Phát triển
đương nhiên sẽ biến đổi môi trường, nhưng làm sao cho môi trường vẫn làm đầy
đủ cá chức năng: đảm bảo không gian sống với chất lượng tốt cho con người,
cung cấp cho con người các loại tài nguyên cần thiết, tái xử lý các phế thải hoạt
động của con người, giảm nhẹ tác động bất lợi của thiên tai, duy trì các giá trị
lịch sử văn hóa, khoa học của loài người.
Khái niệm phát triển bền vững lần đầu tiên được công bố trong một bài báo
có nhan đề “Tương lai chung cho chúng ta” của tác giả Gro Harlem Brundland,
một nhà môi trường người Na Uy làm việc trong uỷ ban quốc tế về môi trường và
phát triển (WCED), theo bài phát triển bền vững được hiểu là : Kiểu phát triển vừa
đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại, vừa không ảnh hưởng đến khả năng
mà các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu của mình.
Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển tổ chức tại Janiero
(Brazil) năm 1992 và hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tổ chức ở
Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định : Phát triển bền vững là
quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà gữa ba mặt của sự phát
triển: Phát triển kinh tế ; Phát triển xã hội và Bảo vệ môi trường.


10

Ở Việt Nam, quan điểm phát triển bền vững đã được khẳng định trong Chỉ
thị số 36-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị về tăng cường
công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Quan điểm phát triển bền vững, sau đó được khẳng định lại trong Văn
kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam:
Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện
tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

1.1.1.5. Khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững
Phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững là vấn đề trung tâm của nhiều nước
trên thế giới và nhất là các nước đang phát triển.
Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau về nông nghiệp bền vững trong đó
đáng quan tâm là định nghĩa của tổ chức sinh thái và môi trường thế giới
(WORD) bởi nó có tính tổng hợp và khái quát cao “Nông nghiệp bền vững là
nền nông nghiệp thoả mãn được các yêu cầu của thế hệ hiện nay, mà không
giảm khả năng ấy đối với thế hệ mai sau”. Điều đó có nghĩa là, nền nông nghiệp
không những cho phép các thế hệ hiện nay khai thác tài nguyên thiên nhiên vì lợi
ích của họ mà còn duy trì được khả năng ấy cho các thế hệ mai sau. Cũng có ý
kiến cho rằng, sự bền vững của hệ thống nông nghiệp là khả năng duy trì sự tăng
thêm năng suất và sản lượng nông sản trong một thời gian dài mà không ảnh
hưởng xấu đến điều kiện sinh thái [6].
Theo đó, phát triển nông nghiệp bền vững gồm nội dung sau: Phát triển nông
nghiệp bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường:
- Phát triển nông nghiệp bền vững về kinh tế là sự phát triển đảm bảo tăng
trưởng, phát triển ổn định lâu dài về mặt kinh tế của nông nghiệp, góp phần tích
cực vào phát triển kinh tế quốc gia, cộng đồng.
Mục tiêu của phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn
định với cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu nâng cao đời sống của người dân, tránh
suy thoái và gánh nặng nợ nần cho tương lai.


12

- Phát triển nông nghiệp bền vững về môi trường là phải khai thác hợp lý,
sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn, xử
lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường.
- Phát triển nông nghiệp bền vững về xã hội: Phát triển nông nghiệp bền
vững về xã hội đó chính là sự đóng góp cụ thể của nông nghiệp cho phát triển xã

- Phát triển nông nghiệp bền vững làm chậm quá trình biến đổi khí hậu
toàn cầu. Tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái là nguồn lực quan trọng
của sản xuất nông nghiệp, nếu quá trình phát triển nông nghiệp gắn với bảo vệ
môi trường sinh thái, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên thì sẽ đóng góp đáng kể vào
quá trình phát triển bền vững về mặt môi trường.
1.1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp bền vững
1.1.2.1. Nhóm các nhân tố kinh tế
- Các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất :
Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào (nguồn lực sản
xuất) theo cách thức nhất định để tạo ra các đầu ra (Tổng sản phẩm trong nướcGDP hay tổng thu nhập quốc dân - GNP) theo nhu cầu của xã hội. Người ta gọi các
biến số đầu vào là Xi , hàm số đầu ra là Y, thì tăng trưởng có mối quan hệ hàm số
sau :
Y = ƒ(Xi)
Trong đó :
Xi là các yếu tố đầu vào, cụ thể : K là vốn, L là lao động, R là tài nguyên
thiên nhiên, T là khoa học và công nghệ.
- Vốn sản xuất (K) là tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, phương tiện vận
tải, kho tàng, kết cấu hạ tầng và kỹ thuật... Vốn đối với sản xuất là yếu tố vô cùng
quan trọng.
- Lực lượng lao động (L) là yếu tố đặc biệt quan trọng của quá trình sản xuất.
- Tài nguyên thiên nhiên (R) :
Đất đai là yếu tố sản xuất, không chỉ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với
nông nghiệp, mà còn quan trọng đối với công nghiệp và dịch vụ.


14

Các loại tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất (khoáng sản, nước ngầm), tài
nguyên rừng, biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác đều là yếu tố đầu vào
của sản xuất.

tỷ lệ hợp thành của các ngành, lĩnh vực, bộ phận trong sản xuất nông nghiệp
theo hướng hợp lý nhằm đạt được hiểu quả kinh tế - xã hội cao. Quá trình phát
triển nông nghiệp luôn làm chuyển dịch cơ cấu các ngành, các bộ phận, các
nguồn nhân lực để tạo ra một cơ cấu hợp lý, hiện đại hơn đem lại hiệu quả kinh
tế cao hơn, nhờ đó tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển nhanh hơn. Việc
chuyển sang một cơ cấu sản xuất nông nghiệp hợp lý và hiện đại chính là
chuyển đổi sang một cơ cấu có khả năng khai thác được lợi thế so sánh, lấy thị
trường và thị phần quốc tế làm căn cứ; tăng những ngành có giá trị gia tăng cao,
có hàm lượng khoa học công nghệ, có nhu cầu thị trường lớn và ổn định; tăng
những ngành có suất sử dụng tài nguyên thấp, ít gây hại môi trường.
- Khai thác hợp lý các vùng sinh thái nông nghiệp: Vùng sinh thái nông
nghiệp là vùng sản xuất nông nghiệp gắn liền với các điều kiện khí hậu, thổ
nhưỡng, đất đai, cây trồng và vật nuôi trong một hệ sinh thái hài hoà, đạt tới sự
cân bằng các yếu tố cấu thành để nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi [8].
- Phát triển chuyên môn hoá và tập trung hoá sản xuất nông nghiệp:
Chuyên môn hoá sản xuất là quá trình tập trung các yếu tố sản xuất của một đơn
vị để sản xuất một hay một số sản phẩm hàng hoá phù hợp điều kiện sinh thái
vùng, nguồn lực có sẵn và với nhu cầu của thị trường. Chuyên môn hoá sản xuất
nông nghiệp tất yếu sẽ dẫn đến tập trung hoá. Tập trung hoá sản xuất nông
nghiệp là việc tập trung các yếu tố sản xuất của đơn vị sản xuất để sản xuất ra
sản phẩm hàng hoá, làm cho qui mô của đơn vị sản xuất nông nghiệp ngày càng
phát triển, không chỉ tăng qui mô về đất đai mà cả việc tập trung vốn trên một
đơn vị sản xuất hàng hoá (ha, đầu gia súc). Thúc đẩy chuyên môn hoá và tập
trung hoá tạo điều kiện hình thành các trang trại sản xuất hàng hoá có qui mô
lớn, thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp cơ khí hoá, tự động hoá, tăng cường
năng lực trong liên kết với các đối tác trên chuỗi ngành hàng nông sản.
Tuy nhiên, quá trình chuyên môn hoá, tập trung hoá kết hợp với khai thác
tổng hợp các nguồn lực trong nông nghiệp phải đảm bảo nguyên tắc: Không làm





17

kinh tế. Không những góp phần tăng trưởng kinh tế, đảm bảo chất lượng cuộc
sống cho người dân mà còn bảo vệ môi trường sinh thái hiệu quả. Với tổng diện
tích tự nhiên 513.115 km2 với dân số trên 65,4 triệu người (2010). Trong đó,
80% số dân sống bằng nghề nông. Sản lượng nông nghiệp đạt 16% giá trị sản
phẩm quốc dân (GDP) và chiếm 48% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Để thúc
đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, bên cạnh những chính sách khuyến
khích và hỗ trợ người nông dân nâng cao tính cạnh tranh của hàng nông sản trên
thị trường thế giới thì các vấn đề như: đào tạo kỹ thuật, nâng cao nhận thức của
người nông dân được Chính phủ Thái Lan coi trọng hướng đến nhằm nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp; tăng cường vai trò các cá nhân và các tổ
chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; các chính sách ưu đãi về vốn và tăng
cường bảo hiểm cho nười nông dân được thực hiện, thuế nông nghiệp được bãi
bỏ. Để nâng cao năng suất, chất lượng hàng nông sản người nông dân Thái Lan
đã kết hợp khéo léo giữa kinh nghiệm canh tác truyền thống với việc áp dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ sinh học, cải
tạo đất thoái hóa và nâng cao độ màu mỡ của đất thông qua sử dụng các loại
phân bón hữu cơ, phân vi sinh điều này giúp cho người nông dân sử dụng hiệu
quả quỹ đất nông nghiệp, giảm nhập khẩu phân bón lại nâng cao xuất khẩu nông
sản sạch. Bên cạnh đó, Chính phủ hỗ trợ các chương trình tiếp thị, tìm kiếm địa
chỉ xuất khẩu những sản phẩm sau thu hoạch và chế biến nhằm tạo điều kiện tốt
nhất cho ngạch tiêu thụ nông sản bằng cách đẩy mạnh hình thức hợp đồng chính
“Chính phủ” với “Chính phủ”. Đồng bộ hóa các chính sách cũng là một cách để
tính liên thông và liên hoàn từ khâu gieo trồng, sản xuất đến bao tiêu xuất khẩu
được đảm bảo và cùng với đó là giải quyết tốt vấn đề vốn và nợ, thiết lập các hệ
thống đảm bảo rủi ro cho nông dân. Để sản xuất nông nghiệp phát triển Chính
phủ Thái Lan hết sức chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng cho sản xuất nông

quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm.
+ Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan mở rộng cửa để
thu hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản, chú trọng đến công nghệ
hiện đại để tạo nên những sản phẩm có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường. Đẩy
mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư cấp Chính phủ với thị trường nước ngoài. Bên
cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status