BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
----------------------------------------
PHẠM THỊ HỒNG
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN TĂNG CƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ CHO
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Dương Ngọc Thí
Hà Nội – 2013
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tính cấp thiết của đề tài
Vốn đầu tư là một yếu tố cơ bản cho phát triển kinh tế xã hội. Việc đảm
bảo huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển là một trong những điều
kiện quan trọng để thực hiện thành công các mu ̣c tiêu phát triể n kinh tế – xã
hô ̣i đế n năm 2020.
vốn đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả, tôi đã
chọn đề tài: “Giải pháp góp phần tăng cường thu hút đầu tư cho phát triển
sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội ".
Vốn đầu tư có thể được sử dụng cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,
bảo vệ môi trường, trong đó đầu tư cho sản xuất kinh doanh nhằm phát triển
kinh tế, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập là nền tảng cho sự phát triển các
lĩnh vực khác. Chính vì vậy, trong giới hạn nghiên cứu của luận văn, học viên
tập trung nghiên cứu thu hút vốn đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh.
Các lĩnh vực khác khi có điều kiện học viên sẽ nghiên cứu thêm.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Góp phần tăng cường thu hút vốn đầu tư cho phát triển sản xuất kinh
doanh trên địa bàn huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về đầu tư và quản lý nhà
nước đối với hoạt động đầu tư .
- Đánh giá được thực trạng đầu tư và quản lý đầu tư cho phát triển sản xuất
kinh doanh trên địa bàn huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
- Đề xuất được một số giải pháp chủ yếu góp phần tăng cường thu hút vốn
đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện Chương Mỹ,
Thành phố Hà Nội.
3
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận về đầu tư và thu hút vốn đầu tư
1.1.1. Cơ sở lý luận về đầu tư
1.1.1.1. Khái niệm đầu tư
cao năng lực một cách toàn diện thông qua hoạt động đầu tư. Thứ tư, với các
nhà đầu tư nước ngoài, dày dạn kinh nghiệm thị trường, các sản phẩm của họ
đã kết nối được với thị trường thế giới, khi đầu tư vào sản xuất-kinh doanh tại
một quốc gia hay một địa phương nào đó, các sản phẩm sản xuất từ đây là
một bộ phận trong chiến lược sản phẩm, chiến lược thị trường của họ, như
vậy sản phẩm của đầu tư sẽ có cơ hội hội nhập và kết nối thị trường thế giới.,
chất lượng và giá trị của nó sẽ được thị trường quốc tế chấp nhận, nâng cao vị
thế thương mại của nơi được thụ hưởng đầu tư.
1.1.1.2. Các hình thức đầu tư
Luật đầu tư của Việt nam quy định có các hình thức đầu tư chủ yếu là
đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
Đầu tư trực tiếp
+ Đầu tư trực tiếp bao gồm các hình thức sau đây:
- Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc
100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài.
- Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước
và nhà đầu tư nước ngoài.
- Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng
BTO, hợp đồng BT.
- Đầu tư phát triển kinh doanh.
- Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
- Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.
5
- Các hình thức đầu tư trực tiếp khác.
+ Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế bao gồm các hình thức sau đây:
- Doanh nghiệp tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp;
- Tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, quỹ đầu tư và
toàn vốn và thu lợi nhuận, nên họ rất lo ngại nếu quốc gia và địa phương đó
hệ thống chính trị hay thay đổi, xã hội không ổn định, thường xuyên xảy ra
bất ổn.
Chính vì vậy, ổn định chính trị xã hội, có tính nhất quán và minh bạch
về chủ trương, đường lối, chính sách là điều kiện tiên quyết hàng đầu.
+ Sự phát triển và tăng trưởng về kinh tế
Nền kinh tế tăng trưởng sẽ ảnh hưởng đến việc thu hút các nguồn vốn
đầu tư ở hai góc độ: Một là, khi GDP tăng, có nghĩa là hiệu quả của vốn đầu
tư được nhìn nhận theo chiều hướng tốt. Từ đó, các nhà đầu tư có sự tin tưởng
đối với các hoạt động kinh tế và tăng cường đầu tư vào. Hai là, khi nền kinh
tế tăng trưởng nhanh sẽ có mức tiết kiệm cao hơn và từ đó tăng cường vốn
đầu tư. Thứ ba, mức tiêu dùng của người dân cũng tăng lên khi họ có thu nhập
cao hơn, khi mức tiêu dùng C tăng lên, tức là các sản phẩm trên thị trường
bán được nhiều hơn.
Trái lại ở những nền kinh tế đình đốn, kém phát triển sức hấp dẫn của
đầu tư sẽ giảm sút.
* Các yếu tố môi trường thể chế kinh tế, pháp lý.
+ Thể chế kinh tế.
Thể chế kinh tế là những quy tắc, cơ chế thực hiện và tổ chức gắn liền
được hình thành một cách tất yếu nhằm điều chỉnh hành vi ứng xử của các
chủ thể hoạt động tìm kiếm lợi nhuận cùng các lợi ích xã hội khác trong một
nền kinh tế nhất định, phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế tương ứng.
Theo nghĩa hẹp, thể chế kinh tế thường được đề cập như là thể chế kinh
tế chính thức. Về phương diện này thể chế kinh tế được hiểu là những quy
7
định được thể hiện thành văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan tố chức
có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế nói chung.
cao, nước đó sẽ có cơ hội thu hút được nhiều nhà đầu tư.
Sự bất ổn định luôn đóng vai trò trung tâm trong những cân nhắc về
đầu tư, bất ổn định trong chính sách là những nhân tố cản trở lớn nhất đối với
các quyết định đầu tư. Khi những chính sách, thể chế kinh tế không ổn định
8
hoặc thiếu minh bạch sẽ làm giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư. Những
lo ngại về sự không ổn định của chính sách có thể bắt đầu từ tính chất mơ hồ
của chính sách hoặc thể chế hiện hành. Thậm chí ngay cả khi chính sách được
thể hiện một cách rõ ràng trên giấy tờ thì chưa hẳn đã hết quan ngại về việc
các chính sách đó được thực thi như thế nào trên thực tế. Một môi trường đầu
tư được coi là hấp dẫn khi và chỉ khi các thể chế loại trừ hay hạn chế tối đa
những bất định đối với nhà đầu tư.
Chính sách đảm bảo quyền tài sản bao gồm hiến pháp, những quy định
về chế độ sở hữu, hệ thống luật pháp và các quy định về cấp giấy chứng nhận
quyền tài sản …Việc đảm bảo quyền tài sản có ý nghĩa hai mặt đối với việc
tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn. Việc đảm bảo quyền tài sản bảo đảm cho
nhà đầu tư thu được thành quả từ công cuộc đầu tư của mình. Khi các quyền
tài sản được bảo vệ bởi một thể chế phù hợp, minh bạch thì các nhà đầu tư
yên tâm hơn khi đem vốn đi đầu tư và làm tăng tính hấp dẫn của môi trường
đầu tư. Thể chế đảm bảo quyền tài sản cải thiện môi trường đầu tư rõ rệt qua
các chức năng cụ thể như xác lập quyền về đất đai, tạo sự thuận lợi trong việc
thực hiện hợp đồng. Đối với các tài sản trí tuệ như bằng sáng chế, phát minh,
thương hiệu, bản quyền tác giả … để có được chúng phải đòi hỏi rất nhiều chi
phí. Do vậy trong hoạt động của các tập đoàn, doanh nghiệp phát triển luôn có
sự hiện diện của của thể chế đảm bảo việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Như
vậy một môi trường đầu tư được coi là hấp dẫn khi cơ chế đảm bảo quyền tài
sản trí tuệ mạnh.
chúng có tính chất bổ trợ ở các khâu của quá trình sản xuất.
Ngành công nghiệp phụ trợ bao gồm sản xuất chi tiết linh kiện, các
công nghệ sản phẩm đầu vào để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng. Sức cạnh
tranh của các doanh nghiệp trong ngành phụ trợ càng mạnh thì tiềm năng
cạnh tranh của doanh nghiệp mũi nhọn càng lớn, cơ hội thành công trong
cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao.
10
Các nhà đầu tư thường quan tâm tới hoạt động và sự phát triển của các
ngành công nghiệp phụ trợ. Sự hiện diện của các cụm công nghiệp phụ trợ là
một lợi thế cho nhà đầu tư, giúp họ giảm thiểu chi phí sản xuất và quốc gia
nào có một ngành công nghiệp phụ trợ phát triển cũng có lợi thế trong thu hút
nguồn vốn đầu tư.
Cộng đồng các doanh nghiệp có ngành hàng phụ trợ có mối quan hệ
mật thiết với nhau để cùng nhau phát triển và phát triển một cách toàn diện.
Đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp ngoài những tác nhân chủ yếu thực
hiện các khâu của quá trình sản xuất, chế biến, thương mại, còn có các tác
nhân hỗ trợ khác như các nhà cung cấp vật tư đầu vào, các tổ chức khoa học
công nghệ và khuyến nông cung cấp giống, quy trình kỹ thuật; các cơ sở dịch
vụ làm đất, tưới tiêu, dịch vụ thu hoạch, bảo quản sản phẩm v.v.
Các dự án đầu tư vào vùng nào có công nghiệp hỗ trợ mạnh hoặc các
cơ quan hoạt động hỗ trợ đồng bộ thì sẽ tạo thuận lợi cho các hoạt động đầu
tư, giảm chi phí tăng năng lực cạnh tranh.
1.1.2. Lý luận về vốn đầu tư và thu hút vốn đầu tư
1.1.2.1. Vốn đầu tư
Ở mỗi thời kỳ của lịch sử, vốn có nhiều quan niệm khác nhau, nhưng
chung quy lại có hai khái niệm về vốn như sau:
Hiểu theo nghĩa rộng, vốn là toàn bộ các nguồn lực kinh tế được đưa
- Bất động sản; quyền đối với bất động sản, bao gồm cả quyền cho thuê,
chuyển nhượng, góp vốn, thế chấp hoặc bảo lãnh.
- Các khoản lợi tức phát sinh từ hoạt động đầu tư, bao gồm cả lợi nhuận, lãi
cổ phần, cổ tức, tiền bản quyền và các loại phí.
- Các tài sản và quyền có giá trị kinh tế khác theo quy định của pháp luật
và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Như vậy, giá trị tiền mặt và các tài sản hợp pháp nói trên bỏ ra để thực
hiện đầu tư gọi là vốn đầu tư.
12
1.1.2.2. Nguồn vốn đầu tư
aBản chất của nguồn vốn đầu tư:
Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm
hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản
xuất xã hội. Điều này được cả kinh tế học cổ điển, kinh tế chính trị học Mác Lê nin và kinh tế học hiện đại chứng minh.
Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” (1776), Adam Smith, một
đại diện điển hình của trường phái kinh tế học cổ điển đã khẳng định: “Tiết
kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn. Lao động tạo ra sản phẩm để tích
luỹ cho quá trình tiết kiệm. Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng
không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên”.
Sang thế kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan hệ
giữa các khu vực của nền sản xuất xã hội, về các vấn đề có liên quan trực tiếp
đến tích luỹ, C. Mác đã chứng minh rằng: Trong một nền kinh tế với hai khu
vực, khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực II sản xuất tư liệu tiêu
dùng. Cơ cấu tổng giá trị của từng khu vực đều bao gồm (c+v+m) trong đó c
là phần tiêu hao vật chất, (v+m) là phần giá trị mới sáng tạo ra. Khi đó, điều
kiện để đảm bảo tái sản xuất mở rộng không ngừng thì nền sản xuất xã hội
phải đảm bảo (v +m) của khu vực I lớn hơn tiêu hao vặt chất (c) của khu vực
nữa, xét về nguồn gốc vốn đầu tư. Vì thời đại hiện nay, phân flớn các nước có
nền kinh tế mở, nguồn vốn đầu tư không chỉ lấy từ tiết kiệm ở trong nước mà
huy động thêm từ bên ngoài.
Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư lại tiếp tục được các nhà
kinh tế học hiện đại chứng minh. Trong tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết tổng
quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của mình, John Maynard Keynes đã
chứng minh được rằng: Đầu tư chính bằng phần thu nhập mà không chuyển
vào tiêu đùng. Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm chính là phần dôi ra
của thu nhập so với tiêu dùng:
14
Tức là:
Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tư
Tiết kiệm = Thu nhập - Tiêu dùng
Như vậy:
Đầu tư = Tiết kiệm
Hay: (I) = (S)
Theo Keynes, sự cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư xuất phát từ tính
chất song phương của các giao dịch giữa một bên là nhà sản xuất và bên kia là
người tiêu dùng. Thu nhập chính là mức chênh lệch giữa doanh thu từ bán
hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ và tổng chi phí. Nhưng toàn bộ sản phẩm sản
xuất ra phải được bán cho người tiêu dùng hoặc cho các nhà sản xuất khác.
Mặt khác đầu tư hiện hành chính bằng phần tăng thêm năng lực sản xuất mới
trong kỳ. Vì vậy, xét về tổng thể phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng mà
người ta gọi là tiết kiệm không thể khác với phần gia tăng năng lực sản xuất
mà người ta gọi là đầu tư.
Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng.
Trong đó, phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực tư
nước ngoài vay vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế.
Phân loại nguồn vốn đầu tư:
Nguồn vốn đầu tư hiện nay được phân loại như sau
Nguồn vốn trong nước
Hình 1.1: Sơ đồ về các nguồn vốn đầu tư
16
Nguồn vốn trong nước được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các
nguồn lực được đưa vào vòng chu chuyển của nền kinh tế. Nó không chỉ bao
gồm tiền vốn biểu hiện bằng tài sản hiện vật như máy móc, vật tư, lao động,
đất đai, tài nguyên... mà nó còn bao gồm giá trị của những tài sản vô hình như
vị trí địa lý, thành tựu khoa học công nghệ, bản quyền phát minh sáng chế.
Các bộ phận cấu thành nguồn vốn trong nước gồm có nguồn vốn ngân sách
Nhà nước (bao gồm cả vốn của doanh nghiệp nhà nước) và nguồn vốn tư
nhân (bao gồm cả vốn của các doanh nghiệp dân doanh).
Nguồn vốn nước ngoài
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là vốn của các doanh nghiệp và
cá nhân nước ngoài đầu tư sang các nước khác và trực tiếp quản lý quá trình
sử dụng nhằm mục đích thu lợi nhuận và thu hồi vốn bỏ ra.
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là vốn đầu tư của các
Chính phủ nước ngoài được thực hiện dưới hình thức viện trợ hoàn lại hoặc
viện trợ không hoàn lại hay cho vay ưu đãi.
Nguồn vốn viện trợ phi chính phủ nước ngoài là vốn viện trợ của các tổ
chức phi chính phủ nước ngoài.
1.1.2.3. Một số phương pháp tạo lập nguồn vốn đầu tư:
+ Khuyến khích huy động vốn từ tiết kiệm tư nhân:
Trên cơ sở giả thiết một nền kinh tế cạnh tranh thuần tuý, các nhà kinh
thành vốn mới, hay tiết kiệm được tạo lập mà thật sự không phải chi phí hoặc
chi phí thấp.
Một số vấn đề khác của cách tiếp cận Nurkse là việc sử dụng lao động
nông nghiệp dư thừa sẽ kích thích các nguồn lực với các chi phí thay thế cao.
Công nhân trong các dự án đầu tư cơ bản sẽ cần một số tư liệu (như các dụng
cụ thô sơ) để làm đường bộ, đường sắt, nhà cửa và nhà máy. Ngoài ra, nếu
18
công nhân chuyển vào sinh sống tại thành phố, sẽ phải xây dựng thêm nhà
cửa, đường giao thông, trường học, bệnh viện và các dịch vụ khác.
+ Năng lực vốn chưa dùng
Hiện tượng sử dụng vốn kém hiệu quả còn khá phố biến ở các quốc gia
đang phát triển. Các phương tiện vận chuyển bị bỏ quên do chưa được sửa
chữa hoặc thiếu phụ tùng thay thế, các công trình nhà cửa bỏ hoang, các
mương tưới tiêu khô nước, các nhà máy sử dụng dưới công suất do hư hỏng
về mặt cơ khí, thiếu vật tư hoặc thiếu thị trường tiêu thụ.
Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận một cách có hiệu quả vì nhiều lý do: vì
công nghệ do các nước phát triển chuyển giao không thích hợp với nhu cầu;
hơn nữa, nhiều nước đang phát triển có thể chỉ thu hút có hiệu quả con số hạn
chế về vốn đầu tư.
1.1.3. Nội dung quản lý Nhà nước về đầu tư
Nội dung quản lý nhà nước về đầu tư được quy định theo các Điều tại
chương X – Quản lý nhà nước về đầu tư của Luật đầu tư như sau:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính
sách về đầu tư phát triển.
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư.
- Hướng dẫn, hỗ trợ nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư và giải quyết
những vướng mắc, yêu cầu của nhà đầu tư.
lượng và chất lượng lao động; tiềm lực về khoa học công nghệ thể hiện qua
việc sở hữu và áp dụng những công nghệ tiên tiến vào quản lư và sản xuất.
Tiềm năng phát triển bao gồm: điều kiện tự nhiên (vị trí, địa hình, khí hậu),
tiềm năng về tài nguyên khoáng sản, tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài
nguyên rừng và tiềm năng phát triển kinh tế chưa được khai thác hết ở các
ngành, lĩnh vực.
20
+ Nguồn lực tự nhiên
Các nguồn tài nguyên thiên nhiên đó là tài nguyên mà thiên nhiên ban
tặng cho một quốc gia hoặc một địa phương nào đó. Nò bao gồm đất đai, thời
tiết khí hậu, nguồn nước, hệ sinh thái, các khoáng sản dưới lòng đất, tài
nguyên sinh vật biển, v.v và được thể hiện ở số lượng, trữ lượng, chất lượng
của từng loại tài nguyên. Đây là những tiềm năng có thể khai thác sử dụng
vào phát triển kinh tế, xã hội và môi trường. Xuất phát từ nguồn lực tài
nguyên hạn chế, đã khiến các nhà đầu tư thường tìm kiếm nơi có nhiều tài
nguyên thiên nhiên và có chính sách thông thoáng để đầu tư. Những nước
giàu tài nguyên thì thu hút được nhiều nhà đầu tư. Một mặt là nguồn tài
nguyên là có hạn, mặt khác sử dụng không hiệu quả thì sẽ không đưa lại giá
trị cao ngược lại sẽ để để lại hậu quả tiêu cực. Chính vì vậy có tài nguyên
chưa phải là yếu tố chủ yếu thu hút nhà đầu tư bền vững. Chính phủ các nước
ðã phải đưa ra các chính sách quản lý chặt chẽ tài nguyên thiên nhiên, khuyến
khích việc thăm dò, tìm kiếm tài nguyên một cách hiệu quả và tiết kiệm…
+ Nhân tố nguồn nhân lực
Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh muốn thực hiện được cần phải có
con người. Khi các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài đem vốn
đến một quốc gia, họ không thể di chuyển toàn bộ các nguồn lực và phương
tiện sản xuất đến quốc gia đó, vì vậy họ sử dụng nguồn lực tại chỗ là chủ yếu.
tư thông qua vai trò của nhà nước cầm quyền. Với vai trò tạo lập, thúc đẩy,
điều chỉnh và duy trì tốc độ phát triển kinh tế, nhà nước tạo lập một môi
trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, quy định những khuôn khổ pháp lý, duy
trì trật tự kỷ cương trong xã hội và các hoạt động kinh tế, duy trì sự ổn định
kinh tế vĩ mô, quyết định tiền đồ kinh tế của một đất nước.
Sự ổn định về chính trị sẽ tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh thuận
lợi, một nhà nước mạnh, thực thi hữu hiệu các chính sách phát triển KTXH sẽ
đem lại lòng tin và tính hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
22
Trong một xã hội ổn định về chính trị, các nhà đầu tư được đảm bảo an
toàn về đầu tư, quyền sở hữu tài sản, các nhà đầu tư sẽ sẵn sàng bỏ vốn đầu tư
lớn và dài hạn, mức độ yên tâm của các nhà đầu tư được củng cố thông qua sự
đánh giá về mức độ rủi ro chính trị (rủi ro chính trị là mức độ mà các biến cố và
hoạt động chính trị có khả năng gây ra những tác động tiêu cực đối với môi
trường đầu tư, với lợi nhuận dài hạn tiềm tàng của các dự án của các nhà đầu tư).
Các nhân tố về chính sách có ý nghĩa rất lớn và ảnh hưởng lớn đến môi
trường thu hút đầu tư. Chính sách tốt và tạo điều kiện hỗ trợ nhà đầu tư mới
thành lập, hoặc hỗ trợ động viên tinh thần hoặc cung cấp hạ tầng kỹ thuật như
điện nước, hoặc chính sách về thuế, đào tạo lao động.v.v...sẽ làm cho các nhà
đầu tư yên tâm.
Để đánh giá một nền kinh tế được coi là có phát triển hay không người
ta dựa vào một số chỉ tiêu chính như: Quy mô GDP, tốc độ tăng trưởng hàng
năm, cơ cấu kinh tế, các chỉ tiêu về phúc lợi công cộng và chăm sóc con
người.
Để có thể tạo ra sự phát triển, trước hết, phải có mức tăng trưởng hàng
năm thông qua giá trị tổng sản phẩm. Sự tăng trưởng này ảnh hưởng đến việc
thu hút các nguồn vốn đầu tư ở hai góc độ: Một là, khi GDP tăng, có nghĩa là
thì những nơi thu hút nhiều vốn vẫn là công nghiệp và dịch vụ.
Chính vì vậy, những nền kinh tế có cơ cấu tỉ lệ công nghiệp và dịch vụ
chiếm tỉ lệ cao thì sẽ thu hút được nhiều vốn đầu tư hơn vì ở đây đã tồn tại sẵn
những điều kiện cho các ngành này phát triển như: Cơ sở hạ tầng, vùng nguyên
liệu, thị trường truyền thống, nguồn lao động... Điều này giải thích tại sao phần
lớn vốn đầu tư nước ngoài là vốn lưu chuyển giữa các nước phát triển.
Phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ
tầng giống như một nền móng vững chắc cho mọi công cuộc đầu tư, vì muốn
sản xuất kinh doanh phải có điện, nước đảm bảo, giao thông thuận tiện, các
dịch vụ công cộng phát triển. V́ vậy, bất cứ nhà đầu tư nào cũng muốn bỏ vốn
vào địa bàn có lợi nhất.
24
Sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô ở đây được nhìn nhận thông qua: sự
ổn định về kinh tế xã hội, ổn định về chính trị, môi trường kinh doanh và ổn định
trong các chính sách tiền tệ. Một quốc gia muốn thu hút vốn đầu tư cho phát triển
kinh tế xã hội, trước hết, đó phải là nơi không xảy ra các cuộc chiến tranh, các
cuộc nội chiến và khủng bố. Đó phải là một quốc gia có các chính sách kinh tế ổn
định, không có sự thay đổi liên tục về chính sách pháp luật vì khi đó sẽ ảnh hưởng
rất lớn và theo xu hướng tiêu cực đối với các nhà đầu tư.
Các chính sách tiền tệ phải làm sao hạn chế được lạm phát và chống
giảm phát, ổn định tỉ giá và lãi suất. Kinh tế không thể phát triển mà không có
lạm phát, song vấn đề là ở chỗ làm sao để kiểm soát được lạm phát, giữ nó ở
một tỉ lệ có lợi cho phát triển, tránh mất giá đồng tiền quá lớn.
Các nhà đầu tư không thể yên tâm và ổn định sản xuất tại một nước mà giá
trị đồng tiền của nước đó liên tục thay đổi, nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc xuất
nhập khẩu của doanh nghiệp. Hơn nữa, giá trị của đồng nội tệ còn ảnh hưởng đến
lợi nhuận thực tế mà các nhà đầu tư thu được tại một thị trường xác định.