MỤC LỤC
Hình 2.2. Một số yếu tố khí hậu đặc trưng của huyện Chương Mỹ.............................44
2.1.1.4. Điều kiện thuỷ văn.........................................................................................44
2.1.1.6. Cảnh quan........................................................................................................46
2.1.2.2. Tình hình dân số và lao động..........................................................................49
Bảng 2.3. Tình hình dân số và lao động của huyện Chương Mỹ.................................51
giai đoạn 2010 - 2014..................................................................................................51
Chỉ tiêu.........................................................................................................................51
ĐVT..............................................................................................................................51
(Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Chương Mỹ).........................................................51
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau 30 mươi năm đổi mới, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội nói
chung, kinh tế nông hộ cũng không ngừng phát triển cả về quy mô và hình
thức. Có không ít những nhóm nông dân đã làm giàu lên từ chính mảnh đất
của mình, họ sử dụng có hiệu quả đất đai, lao động, tiền vốn và đã vươn lên
làm giàu. Nhiều hộ nông dân đã chuyển đổi từ nền kinh tế từ quy mô nhỏ
thành quy mô lớn, sản xuất tự túc tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa, có thể
trao đổi hàng hóa trên thị trường.
Thực tiễn quá trình sản xuất nông nghiệp của nước ta trải qua hàng
ngàn năm sản xuất theo kinh nghiệm, tuy có những bước tiến quan trọng,
nhưng về căn bản vẫn là nền sản xuất nhỏ lẻ, kĩ thuật lạc hậu mang nặng tính
độc canh, tự cung, tự cấp là chính.
Tuy nhiên bên cạnh mặt đạt được, vẫn còn tồn tại những khó khăn. Đây
là tất yếu khách quan. Đó là nền kinh tế hàng hoá đã tạo ra sự phân hoá giàu
nghèo ngày càng sâu sắc, vấn đề chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp dân
cư, giữa các vùng giữa thành thị và nông thôn ngày một rõ.
Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới thực sự là cơ
hội “vàng” cho phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Để biến cơ hội
nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về thu nhập của hộ nông
dân, đánh giá thực trạng thu nhập của hộ nông dân thời gian qua, đề xuất một
số giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân trong xây dựng nông thôn
mới trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
2.2. Mục tiêu cụ thể
2
1. Góp phần hệ thống hoá và làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về thu nhập của hô nông dân
2. Đánh giá đúng thực trạng thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn
huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
3. Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân
trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
4. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập cho các
nông hộ trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Chương Mỹ, thành
phố Hà Nội
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu nâng cao thu nhập cho hộ nông dân trên địa bàn
huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
+ Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu về thu nhập của hộ nông dân; xác định
những nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao thu nhập của hộ nông dân; từ đó đưa
ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân thời kỳ
Giải pháp chung
Giải pháp cụ thể cho các loại nông hộ trong huyện
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ
NÔNG DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Cơ sở lý luận về thu nhập, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân trong
xây dựng nông thôn mới
1.1.1. Xây dựng nông thôn mới
1.1.1.1. Khái niệm về nông thôn, xây dựng nông thôn mới
* Khái niệm về nông thôn.
Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành
phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân
dân xã [ ].
* Xây dựng nông thôn mới bền vững
Xây dựng nông thôn mới bền vững là quá trình xây dựng nhằm phát
triển kinh tế - xã hội nông thôn với tốc độ cao, là quá trình làm tăng mức
sống của người dân nông thôn. Phát triển nông thôn phù hợp với nhu cầu của
con người, đảm bảo sự tồn tại bền vững và sự tiến bộ lâu dài trong nông
thôn. Quá trình xây dựng đó dựa trên việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên
nhiên mà vẫn bảo đảm giữ gìn môi trường sinh thái nông thôn. Phát triển
nông thôn đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay nhưng không làm cạn kiệt tài
nguyên, không để lại hậu quả xấu cho thế hệ tương lai.
1.1.1.2. Đặc trưng, nguyên tắc và mục tiêu xây dựng nông thôn mới
Việc xây dựng NTM bền vững nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế
của quê hương, đất nước trong giai đoạn mới. Sau 30 năm thực hiện đường lối
đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước
Một, kế thừa và lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình
hỗ trợ các mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn
nông thôn.
6
Hai, thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới phải gắn với kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm
bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cấp có thẩm
quyền phê duyệt.
Ba, công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng
cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công
trình, dự án của Chương trình xây dựng nông thôn mới; phát huy vai trò làm
chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập
kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá.
Bốn, xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và
toàn xã hội; cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá
trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện. Mặt trận Tổ
quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát
huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới.
* Mục tiêu xây dựng nông thôn mới
- Xây dựng cộng đồng xã hội văn minh, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
ngày càng hoàn thiện; cơ cấu kinh tế hợp lý, các hình thức tổ chức sản xuất tiên
tiến;
- Gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ và du
lịch; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; từng bước thực hiện
công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn;
- Xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa
dân tộc; trình độ dân trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ;
nông thôn;
Nâng cao dân trí, đào tạo nông dân có trình độ sản xuất cao, có nhận
thức chính trị đúng đắn, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. Xây dựng nền
nông nghiệp phát triển bền vững theo hướng hiện đại.
8
Nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất. Sản phẩm
nông nghiệp có sức cạnh tranh cao. Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội đồng bộ và hiện đại, nhất là đường giao thông, thủy lợi,
trường học, trạm y tế, khu dân cư,…;
Xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, văn minh, giàu đẹp, bảo
vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; an ninh trật tự được
giữ vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Như vậy có thể khẳng định xây dựng nông thôn mới nhằm phát triển
kinh tế, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông
thôn; Tăng thu nhập cải thiện đời sống người dân, đời sống văn hóa lành
mạnh và giữ gìn bản sắc dân tộc.
Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông
thôn; Nâng cao dân trí, đào tạo nông dân có trình độ sản xuất cao, có nhận
thức chính trị đúng đắn, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới.
Xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững theo hướng hiện đại.
Nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất. Sản phẩm nông
nghiệp có sức cạnh tranh cao.
Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ và
hiện đại, nhất là đường giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, khu dân
cư,…; xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, văn minh, giàu đẹp, bảo
vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; an ninh trật tự được
giữ vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
vừa là người trực tiếp tham gia lao động nên tính thống nhất giữa lao động
quản lý và lao động trực tiếp rất cao.
- Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ
nông dân. Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất. Giải quyết mối quan hệ
giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế hộ nông dân.
Ở nước ta, từ năm 1988 khi Nhà nước giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các
10
hộ nông dân, sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa, đã có mức tăng
chưa từng có về năng suất và sản lượng. Người nông dân phấn khởi trong sản
xuất. Một vấn đề quan trọng ở đây là việc xác nhận họ được quyền kiếm sống
gắn bó với mảnh đất của họ.
- Kinh tế hộ nông dân chủ yếu sử dụng lao động gia đình, việc thuê
mướn lao động mang tính chất thời vụ không thường xuyên hoặc thuê mướn
để đáp ứng nhu cầu khác của gia đình. Một thực tế là hiệu quả sử dụng lao
động trong nông nghiệp rất cao, khác với các ngành kinh tế khác do các thành
viên trong hộ cùng dựa trên một cơ sở kinh tế, ý thức trách nhiệm rất cao,
việc bố trí, sắp xếp công việc trong hộ cũng rất linh hoạt, hợp lý.
- Sản xuất của hộ nông dân là tập hợp các mục đích kinh tế của các
thành viên trong gia đình, thường nằm trong một hệ thống sản xuất lớn hơn
của cộng đồng. Kinh tế Hộ nông dân là tế bào kinh tế của sản xuất nông
nghiệp, tất yếu có quan hệ với thị trường song mức độ quan hệ còn thấp, chưa
gắn chặt với thị trường. Nếu tách họ ra khỏi thị trường họ vẫn tồn tại. Mặt
khác, hộ cũng sẽ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh cao
1.1.2.3.Đặc trưng Kinh tế hộ nông dân
Kinh tế hộ nông dân có 6 đặc trưng cơ bản là:
Thứ nhất: Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình
quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất. Bởi vì sở hữu trong nông hộ là sở hữu
Với các đặc trưng trên, có thể khẳng định rằng kinh tế nông hộ luôn là
hình thức tổ chức kinh tế rất thích hợp với sản xuất nông nghiệp. Bởi vì, đối
tượng sản xuất của nông nghiệp là các sinh vật sống rất cần sự chăm sóc trực
tiếp và thường xuyên của con người. Người lao động trong nông hộ vời ý
thức trách nhiệm cao, có sự gắn bó mật thiết với cây trồng vật nuôi nên hoàn
toàn có thể đảm nhận công việc đó.
1.1.2.4. Vai trò kinh tế hộ nông dân thời kỳ xây dựng nông thôn mới
12
Kinh tế hộ gia đình là một lực lượng sản xuất quan trọng ở nông thôn
Việt Nam. Hộ gia đình nông thôn thường sản xuất, kinh doanh đa dạng, kết
hợp trồng trọt với chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh ngành nghề
phụ. Sớm nhận thức rõ vai trò của nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong
quá trình đổi mới và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã có những
chủ trương, chính sách về nông nghiệp, tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình
phát triển.
Từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa VI (1988), hộ
nông dân đã thực sự được trao quyền tự chủ trong sản xuất, và do đó đã khơi
dậy nhiều nguồn lực và tiềm năng để kinh tế hộ gia đình phát triển; người
nông dân gắn bó với ruộng đất hơn, chủ động đầu tư vốn để thâm canh tăng
vụ, ruộng đất được sử dụng tốt hơn... Nghị quyết Trung ương 6 lần 1 (khoá
VIII) với chủ trương tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, nhất là
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đã khẳng định nông nghiệp, nông thôn là
lĩnh vực có vai trò cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, làm cơ sở để ổn
định và phát triển kinh tế - xã hội.
Đặc biệt, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn II từ năm
2010 - 2020 đã xác định kinh tế hộ gia đình là một đơn vị sản xuất cơ sở, cần
thiết cho chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế vĩ mô, nhằm huy động mọi nguồn
- Theo quan điểm của Traianụp về thu nhập của hộ nông dân trong điều
kiện không tồn tại thị trường sức lao động thì thu nhập của hộ nông dân
không giống thu nhập của các xí nghiệp tư bản. Thu nhập trong hộ không chỉ
có tiền lãi kinh doanh mà bao gồm toàn bộ giá trị lao động. Như vậy thu nhập
của nông hộ là phần còn lại sau khi lấy giá trị sản xuất trừ đi tổng chi phí vật
chất.
- Quan điểm của Barnum và Squire về thu nhập của hộ nông dân trong
điều kiện tồn tại thị trường sức lao động thì cho rằng trong điều kiện tồn tại
thị trường sức lao động được phân chia thành: Thời gian lao động nghỉ ngơi,
14
thời gian lao động làm việc tại nhà, thời gian sản xuất nông nghiệp và thời
gian làm việc có tiền công. Từ đó các ông đưa ra khái niệm thu nhập hộ nông
dân như sau: Thu nhập hộ nông dân được tính bằng giá trị sản phẩm sau khi
đã trừ đi các phần như: Sản phẩm hộ tiêu dùng, giá trị công lao động thuê
ngoài, chi phí đầu vào cho sản xuất và cộng thêm giá trị tiền lao động đi làm
thêm... song ở đây các ông lại tính tiền công giống nhau nên điều này là
không đúng.
Để đi sâu vào nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau về hộ nông dân thì
nhiều nhà khoa học và nghiên cứu kinh tế ở Việt Nam đã sử dụng chỉ tiêu hỗn
hợp để đánh giá thu nhập của hộ nông dân. Thu nhập hỗn hợp của hộ nông
dân là phần thu được sau khi lấy tổng thu (Tức là toàn bộ giá trị sản phẩm từ
các hoạt động sản xuất trong nông hộ) trừ đi chi phí vật chất, trừ đi tiền công
thuê ngoài và chi phí khác bao gồm thuế và khấu hao tài sản cố định...(Nguồn
Nguyễn Sinh Cúc và Nguyễn Văn Tiêm, 1996). Như vậy trong phần thu nhập
của hộ sẽ bao hàm tiền công lao động của chủ hộ, tiền công lao động của các
thành viên và lãi kinh doanh.
Xuất phát từ các quan điểm trên và đặc trưng của hộ nông dân ở Việt
công nghiệp, nhưng thu từ nông nghiệp là chính.
+ Hộ buôn bán: ở nơi đông dân cư, có quầy hàng hoặc buôn bán ở chợ.
Các loại hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điều kiện cho
phép, vì vậy sản xuất công nghiệp nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầng sản xuất
và xã hội ở nông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại và dịch vụ, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn để chuyển hộ độc canh thuần nông sang
đa ngành hoặc chuyên môn hoá. Từ đó làm cho lao động nông nghiệp giảm,
thu hút lao động dư thừa ở nông thôn hoặc làm cho đối tượng phi nông nghiệp
tăng lên [30].
- Căn cứ vào mức thu nhập của nông hộ:
+ Hộ giàu, khá
16
+ Hộ Trung bình
+ Hộ nghèo
b. Về phân loại thu nhập của hộ
Có thể phân thu nhập của hộ thành 3 loại như: Thu từ nông nghiệp, thu
từ phi nông nghiệp và thu khác.
- Thu nhập từ nông nghiệp: Bao gồm thu từ các hoạt động sản xuất
trong nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản.
- Thu nhập từ phi nông nghiệp: Là thu nhập được tạo ra từ các nghành
nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Bao gồm các ngành nghề chế biến,
sản xuất vật liệu xây dựng, gia công cơ khớ...Ngoài ra thu nhập phi nông
nghiệp còn được tạo ra từ các hoạt động thương mại dịch vụ như buôn bán,
thu gom.
- Thu nhập khác: Đó là thu nhập từ các hoạt động làm thêm, làm thuê,
làm công ăn lương, từ các trợ cấp xã hội hoặc các nguồn thu nhập bất thường
khác.
hàng hóa chưa cao nên kinh tế nông hộ cũng có vai trò hết sức to lớn. Nó thúc
đẩy nông nghiệp và nông thôn phát triển. Kinh tế nông hộ hàng năm đã cung
cấp cho xã hội khoảng 90% sản lượng thịt cá, sản lượng lương thực và sản
lượng rau quả. Trên cơ sở đó cần tăng nhanh sản lượng lương thực, thực
phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả. Đẩy mạnh xuất khẩu và cải tạo tốt hơn tài
nguyên đất, lao động, vốn...
Trong cơ chế phát triển của nền kinh tế hiện nay, chúng ta đang chủ
trương xóa bỏ chế độ độc canh tiến đến đa canh cây trồng vật nuôi và phát
triển ngành dịch vụ ở nông thôn theo điều kiện cụ thể của từng vùng. Từng
bước xóa bỏ cơ chế sản xuất tự cung tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hóa
theo hình thức tập trung để tăng khả năng đầu tư cũng như phát huy các tiềm
lực khác góp phần nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi kết hợp phát triển
các nghành nghề, các loại hình dịch vụ nhằm không ngừng nâng cao thu nhập
18
cho người nông dân góp phần thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn vào năm 2020 theo tinh thần của đại hội Đảng IX đã đề ra.
1.1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao thu nhập của hộ nông dân
trong xây dựng nông thôn mới
Trong sản xuất kinh tế hộ nông dân chịu tác động bởi các nhóm yếu tố
chủ quan và khách quan. Các nhân tố này tác động đến thu nhập của hộ thông
qua 2 bộ phận chính của thu nhập là tổng thu và tổng chi phí. Do đó các yếu
tố ảnh hưởng đến hai thành phần này sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông
dân. Có nghĩa là một yếu tố nào đó làm thay đổi một trong hai thành phần này
cũng làm thay đổi thu nhập của hộ
Các yếu tố ảnh hưởng đến tổng thu và tổng chi phí trên cũng có quan
hệ với nhau, có nhiều yếu tố vừa ảnh hưởng đến tổng thu vừa ảnh hưởng đến
tổng chi phí. Vì vậy có thể chia các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ
thu nhập cao hơn và ngược lại. Khi đánh giá về nhân khẩu, chúng ta phải
đánh giá tỉ số giữa số lượng lao động và số lượng nhân khẩu. Khi tỉ số giữa số
lượng lao động trên nhân khẩu thấp nghĩa là tỉ lệ phụ thuộc cao, điều nay gây
bất lợi cho hộ. Nó làm cho hộ nghèo ngày càng nghèo thêm.
- Chất lượng lao động thể hiện ở trình độ học vấn, kỹ năng lao động,
khả năng tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất. Trong
đó kiến thức chuyên môn là cơ sở để tiếp thu và đưa kỹ thuật hiện đại vào sản
xuất. Mà kiến thức chuyên môn có được thông qua quá trình đào tạo ở trường,
ở các lớp tập huấn ngắn hạn và dài hạn.
- Kinh nghiệm sản xuất là những gì mà người lao động tích lũy được
trong cuộc sống. Vì sản xuất nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt. Nó
tuân theo quy luật tự nhiên nên dù chúng ta có kiến thức chuyên môn cao vẫn
có thể bị thất bại nếu không có kinh nghiệm. Vì vậy kinh nghiệm sản xuất ảnh
hưởng rất lớn đến thu nhập của hộ nông dân.
20
Ba là, vốn là một yếu tố quan trọng không thể thiếu được để tiến hành
tổ chức sản xuất kinh doanh. Nó bao gồm tiền mặt, nguyên liệu và công cụ
sản xuất. Có vốn có thể mở rộng quy mô, chuyển dần sang sản xuất hàng hóa,
mua sắn trang thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất, đầu tư thâm canh tăng
năng suất, tăng chất lượng sản phẩm và nâng cao thu nhập cho hộ nông dân.
1.1.4.2.Các yếu tố bên ngoài
- Điều kiện tự nhiên
Những nhân tố về điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến mảnh
đất mà người nông dân canh tác như: thời tiết, khí hậu. Do đối tượng sản xuất
của nông nghiệp là sinh vật sống nên quá trình sinh trưởng và phát triển của
cây trồng và vật nuôi chụi ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại cảnh. Nếu điều
kiện ngoại cảnh thuận lợi phù hợp với các giai đoạn phát triển của cây trồng
thụ các sản phẩm...
1.1.5. Chủ trương CS của Đảng và Nhà nước về nâng cao thu nhập cho
người nông dân trong thời kỳ xây dựng nông thôn mới
1.2.2.1. Chủ trương CS của Đảng và Nhà nước về nâng cao thu nhập
cho người nông dân trong thời kỳ xây dựng nông thôn mới.
Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) đã có Nghị quyết số 26 - NQ/T.Ư
ngày 5-8-2008 về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, trong đó có mục tiêu:
“Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu
kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát
triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn
định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh
thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Ðảng
được tăng cường...”. Về mục tiêu cụ thể đến 2015, cả nước có 20% số xã đạt
chuẩn nông thôn mới và đến 2020 có 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới
22
(theo 19 tiêu chí mà Thủ tướng Chính phủ đã ban hành trên tổng số 9.111 xã
hiện nay của nước ta.
Không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp, nông thôn lạc
hậu, nông dân có đời sống văn hóa và vật chất thấp, vì vậy Chủ trương CS
của Đảng và Nhà nước về nâng cao thu nhập cho người nông dân trong thời
kỳ xây dựng nông thôn mới tập trung chủ yếu vào các nội dung sau.
Một là, xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện
đại mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa nông thôn Việt Nam.
Hai là, tập trung chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn. Hiện
nay, cả nước ta có 15.570.642 hộ sống ở nông thôn, chiếm 69,4% số hộ với
37.960.031 lao động, chiếm 69% số lao động cả nước, trong đó lao động làm
việc trực tiếp trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản chiếm 51,9% số lao động cả
Ba là, tăng thu nhập gấp 2 - 3 lần hiện nay. Nâng cao đời sống tinh thần
cho cư dân nông thôn là việc làm lâu dài. Thực tế hiện nay, thu nhập của cư
dân nông thôn bình quân năm bằng 76,6% bình quân chung cả nước và chỉ
bằng 47,5% đô thị; có tới 84,5% hộ nghèo (trong tổng số hộ nghèo cả nước)
sống ở nông thôn (nếu tính theo chuẩn mới chắc còn cao hơn nữa). Mặt khác,
do sản xuất nông nghiệp mang tính rủi ro cao, nên nguy cơ các hộ từ cận
nghèo trở thành hộ nghèo rất cao, hoặc hộ đã thoát nghèo nhưng nếu chỉ gặp
rủi ro như trong năm có người ốm, lợn gà bị dịch bệnh,... lại trở về hộ nghèo.
Bình quân mỗi hộ nông dân Việt Nam chỉ có 1,61 ha đất canh tác/hộ;
trong đó đồng bằng sông Hồng 0,35 ha/hộ; trung du, miền núi phía bắc 2,98
ha/hộ; Bắc Trung bộ 1,76 ha/hộ, duyên hải miền Trung 2,13 ha/hộ; Tây
Nguyên 5,63 ha/hộ; Ðông Nam bộ 1,2 ha/hộ; đồng bằng sông Cửu Long 1,03
ha/hộ. Nếu không chuyển dịch được cơ cấu lao động, không đưa nhanh được
ngành nghề vào nông thôn thì dù có tăng năng suất, tổ chức lại sản xuất, dồn
điền đổi thửa kiểu gì cũng khó giàu, mà tất cả các công việc làm trên đều
không thể một sớm một chiều hoặc là theo kiểu “phong trào” được.
24