đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện hoài đức thành phố hà nội - Pdf 35

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ MAI LIÊN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
THỰC HIỆN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015


HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------

-------

NGUYỄN THỊ MAI LIÊN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
THỰC HIỆN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ : 60.85.01.03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. NGUYỄN HỮU THÀNH

HÀ NỘI, 2015

Tài nguyên - Môi trường huyện Hoài Đức; các các xã trong huyện Hoài Đức
- Cán bộ và nhân dân huyện Hoài Đức, đặc biệt là 2 xã Yên Sở và Sơn
Đồng đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình điều tra, thu thập tài liệu.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các cá nhân, tập thể và cơ quan nêu trên
đã giúp đỡ, khích lệ và tạo những điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình
thực hiện đề tài này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Mai Liên

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page iii


MỤC LỤC
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii


2

Mục đích nghiên cứu

2

3

Yêu cầu của đề tài

2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3

1.1

Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới

3

1.1.1

Một số khái niệm cơ bản

3

1.1.2


Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của một số nước trên thế giới

10

1.3.1

Thái Lan

10

1.3.2

Đài Loan

12

1.3.3

Hàn Quốc

13

1.3.4

Nhật Bản

15

1.3.5

27

2.1

Đối tượng nghiên cứu

27

2.2

Nội dung nghiên cứu

27

2.2.1

Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Hoài Đức - TP.Hà Nội

27

2.2.2

Thực trạng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hoài Đức

27

2.2.3

Đánh giá tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới tại 2 xã điểm
và trên toàn huyện

Phương pháp đánh giá số liệu.

28

2.3.5

Phương pháp so sánh

29

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

30

3.1

Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Hoài Đức – TP.Hà Nội

30

3.1.1

Điều kiện tự nhiên

30

3.1.2

Điều kiện kinh tế - xã hội


52

3.2.4

Văn hóa, xã hội và môi trường

55

3.2.5

Hệ thống chính trị và An ninh, trật tự xã hội

59

3.3

Đánh giá tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới tại 2 xã điểm

3.3.1

và trên toàn huyện

63

Kết quả xây dựng nông thôn mới tại xã Yên Sở và Xã Sơn Đồng

63

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp


76

Một số giải pháp nhằm giải quyết những tồn tại khác trong thực hiện
xây dựng nông thôn mới

76

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

79

Kết luận

79

Kiến nghị

80

PHỤ LỤC

83

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page vi


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt


NNPTNT

Nông nghiệp và phát triển nông thôn

NTM

Nông thôn mới

THPT

Trung học phổ thông

THCS

Trung học cơ sở

TN-MT

Tài nguyên và môi trường

TTCN

Tiểu thủ công nghiệp

TTXH

Trật tự xã hội

UBND


37

3.4

Tiêu chí quy hoạch huyện Hoài Đức năm 2014

45

3.5

Thực trạng hạ tầng kinh tế - xã hội huyện Hoài Đức so với bộ tiêu chí

47

3.6

Thực trạng trường học trên địa bàn huyện Hoài Đức năm 2014

50

3.7

Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất so với tiêu chí

52

3.8

Thực trạng Văn hóa - Xã hội - Môi trường huyện Hoài Đức

Tên hình

Trang

3.1

Chuyển đổi cơ cấu kinh tế huyện Hoài Đức giai đoạn 2010 – 2014

34

3.2

UBND xã Yên Sở - Đội 5, xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội

65

3.3

Đường giao thông nội đồng Đội 3, Xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội.

65

3.4

Trường Tiểu học Sơn Đồng, xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, TP. Hà Nội

66

3.5


tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới” tại Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày
06/4/2010 nhằm thống nhất chỉ đạo việc xây dựng nông thôn mới trên cả nước.
Sau 4 năm hưởng ứng phong trào xây dựng nông thôn mới trên phạm vi toàn quốc,
nghị quyết “Tam nông” đã làm thay đổi một cách căn bản diện mạo nông thôn, nếp
sống, nếp nghĩ, cách làm của người nông dân ....làm cho đời sống vật chất và tinh
thần của người dân được nâng cao, bộ mặt làng xã cũng được thay đổi rõ rệt, cảnh
quan môi trường được bảo vệ.
Hoài Đức nằm cách trung tâm Hà Nội 16 km về phía Tây, có diện tích 82,4
km2, dân số 207.639 người. Sau khi Hoài Đức sát nhập vào Hà Nội, trở thành một
huyện ngoại thành của thủ đô Hà Nội thì nhu cầu xây dựng vùng nông thôn trên địa
bàn với cơ cấu hợp lý và phù hợp chiến lược chung của thành phố Hà Nội là rất cần
thiết. Theo đó, trong vài năm trở lại đây, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn
đã được các cấp, các ngành quan tâm, đời sống của người dân tại các xã nơi đây đã
được nâng lên một cách rõ rệt. Tuy nhiên, trên thực tế sau 4 năm triển khai Chương

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 1


trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hoài Đức
vẫn còn nhiều lúng túng, trình độ hiểu biết của người dân, năng lực quản lý, cơ chế,
phương pháp triển khai thực hiện, điều kiện cơ sở hạ tầng thấp kém, nguồn vốn đầu
tư còn hạn chế.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng
và đề xuất giải pháp thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hoài
Đức - Thành phố Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
Hoài Đức, TP.Hà Nội.

491/Q Đ-TTg về Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới gồm 19 tiêu chí: Quy hoạch
và thực hiện quy hoạch; giao thông; thủy lợi; điện; cơ sở vật chất trường học; cơ sở
vật chất văn hóa; chợ nông thôn; bưu điện; nhà ở dân cư; thu nhập; hộ nghèo; tỉ lệ
lao động có việc làm, hình thức tổ chức sản xuất; giáo dục; y tế; văn hóa; môi
trường; hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh; an ninh, trật tự xã hội.
Ngày 04 tháng 6 năm 2010 Thủ Tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
800/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới
giai đoạn 2010 - 2020. Theo đó ta có thể định nghĩa nông thôn mới là nông thôn có kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã
hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất, tinh thần được nâng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 3


cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững.
1.1.2. Chức năng của nông thôn mới
a. Chức năng sản xuất nông nghiệp hiện đại
Nông thôn là nơi diễn ra phần lớn các hoạt động sản xuất nông nghiệp của các
quốc gia. Có thể nói nông nghiệp là chức năng tự nhiên của nông thôn. Chức năng cơ
bản của nông thôn là sản xuất dồi dào các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao.
Khác với nông thôn truyền thống, sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới bao gồm
cơ cấu các nghành nghề mới, các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hoá, ứng
dụng phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến và xây dựng các tổ chức nông nghiệp hiện
đại (Cù Ngọc Hưởng, 2006).
Tại Việt Nam, ngành nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong mục tiêu
đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, xóa đói giảm nghèo, ổn định kinh tế xã hội
tại Việt Nam thông qua tạo việc làm cho người dân nông thôn (chiếm 70% dân số),
tạo nguồn cung lương thực thực phẩm đầy đủ, ổn định giá cả. Nông nghiệp cũng là

đoạn hội nhập đặc biệt là nghị quyết trung ương 7 khóa X về “nông nghiệp, nông
dân, nông thôn” nhằm phát triển nền kinh tế nông thôn nhưng vẫn giữ được nét
truyền thống của làng quê Việt.
c. Chức năng sinh thái
Nền văn minh công nghiệp đã phá vỡ mối quan hệ hài hoà vốn có giữa con
người với thiên nhiên, dẫn đến phá vỡ môi trường một cách nghiêm trọng. Quá trình
công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con người ngày càng xa rời tự nhiên, dẫn đến
những ô nhiễm trong môi trường nước và không khí.
Một hệ thống sinh thái nông nghiệp hợp lý, có khoa học vừa có thể đáp ứng
các nhu cầu về sản phẩm lương thực cho con người; vừa đáp ứng được các yêu cầu
về môi trường tự nhiên. Bên cạnh đó đất đai, hệ thống thuỷ lợi,…..trong hệ sinh thái
nông nghiệp sẽ phát huy các tác dụng sinh thái như điều hoà khí hậu, giảm ô nhiễm
tiếng ồn, cải thiện nguồn nước, phòng chống xâm thực đất đai, làm sạch đất.....
Thông qua sự tuần hoàn của tự nhiên và năng lượng, cuối cùng, thành thị cũng là
nơi thu được lợi ích từ chức năng sinh thái của nông thôn.
Nông thôn có thể bù đắp được những thiếu hụt sinh thái của thành thị, đây
cũng chính là nguyên nhân khiến cho các khu du lịch sinh thái xung quanh các khu
đô thị ngày càng phát triển. Do vậy, xây dựng nông thôn mới với các mô hình sản
xuất nông nghiệp tiên tiến, phù hợp với tiềm năng của từng vùng chính là đóng
góp tích cực cho môi trường sinh thái của toàn khu vực (Cù Ngọc Hưởng, 2006).
1.1.3. Mục tiêu xây dựng nông thôn mới
Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới đã nêu rõ mục tiêu xây
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 5


dựng nông thôn mới là:
- Xây dựng cộng đồng xã hội văn minh, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
ngày càng hoàn thiện;cơ cấu kinh tế hợp lý,các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến;

Page 6


TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương
trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 đã đề ra 6
nguyên tắc trong xây dựng nông thôn mới như sau:
Nguyên tắc 1: Các nội dung, hoạt động của Chương trình phải hướng tới mục
tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới ban hành tại
Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ.
Nguyên tắc 2: Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là
chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các chính sách, cơ chế hỗ trợ,
đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện; các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng
người dân ở nông thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện.
Nguyên tắc 3: Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia,
chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên
địa bàn nông thôn.
Nguyên tắc 4: Quá trình thực hiện Chương trình phải gắn kết với kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực
hiện đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Nguyên tắc 5: Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng
cường tính chủ động trong quá trình tổ chức thực hiện cho cấp xã; phát huy vai trò
làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở trong việc
lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá.
Nguyên tắc 6: Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị
và toàn xã hội; cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò chủ đạo, điều hành; Mặt trận
tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy
vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới. (Ban chỉ đạo trung ương chương trình
MTQG xây dựng nông thôn mới, 2012)

1.2. Cơ sở pháp lý về xây dựng nông thôn mới

nguyên và Môi trường;
- Thông tư liên tịch số 26/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/04/2011
hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/TTg ngày 4/6/2010 của
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông
thôn mới giai đoạn 2010-2020;
- Thông tư số 17/TT-BXD ngày 30/9/2010 của Bộ xây dựng hướng dẫn xác
định và quản lý chi phí quy hoạch xây dựng và quy hoạch đô thị;
- Thông tư số 07/2010/TT-BNNPTNT ngày 08/02/2010 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông
nghiệp cấp xã theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 8


- Thông tư liên tịch số 22/2007/TTLT-BVHTT-UBTDTT ngày 4/7/2007 của
Bộ Văn hóa thông tin và Ủy ban Thể dục Thể thao về việc hướng dẫn tổ chức và hoạt
động của trung tâm văn hóa thể thao xã phường thị trấn;
- Nghị quyết số 03/2010/NQ-HĐND ngày 21/04/2010 của UBND thành phố
Hà Nội về việc xây dựng nông thôn mới thành phố Hà Nội giai đoạn 2010- 2020,
định hướng 2030;
- Quyết định 47/2009/QĐ-UBND ngày 20/1/2009 của UBND thành phố Hà Nội.
về việc phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Huyện Hoài Đức -Hà Nội, tỷ lệ 1/10.000;
- Quyết định số 1259/QĐ-TTg ngày 26/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Điều chỉnh quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2030; tầm nhìn đến 2050;
- Quyết định số 2233/QĐ-UBND ngày 25/5/2010 của UBND thành phố Hà
Nội về việc phê duyệt đề án nông thôn mới Thành Phố Hà Nội giai đoạn 20102020. định hướng 2030;
- Quyết định số 1999/QĐ-TƯ ngày 15/08/2010 của thành ủy Hà Nội thành
lập ban chỉ đạo chương trình xây dựng nông thôn mới Thành phố Hà Nội giai đoạn
2010- 2020;

Sự trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn
chiếm khoảng 80% dân số cả nước. Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông
nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá
nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào
học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và
các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường
công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp;
giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân.
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh
tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh
công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và
hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời
phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn
có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh
học, phân bổ đất canh tác. Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến
lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho
nông nghiệp. Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn
quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 10


nông nghiệp. Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy
điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…
Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập
trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp
nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền
thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân

thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong
nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc mở cửa
cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh. Trong tiếp cận thị trường
xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các
nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm
chế biến. Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các
nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn
đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của Cục Xúc
tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng việc xúc tiến và phát triển công
nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều cơ quan cùng thực hiện. Chẳng
hạn, trong Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng với Cục Xúc tiến nông nghiệp, Cục
Hợp tác xã giúp nông dân xây dựng hợp tác xã để thực hiện các hoạt động, trong đó
có chế biến thực phẩm; Cục Thủy sản giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến
chế biến thủy sản. Cơ quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc Bộ Công
nghiệp xúc tiến tiêu chuẩn hoá và hệ thống chất lượng; Cơ quan Phát triển công
nghệ và khoa học quốc gia xúc tiến việc áp dụng khoa học và công nghệ cho chế
biến; Bộ Đầu tư xúc tiến đầu tư vào vùng nông thôn (Tuấn Anh, 2012).
1.3.2. Đài Loan

Từ “nông nghiệp bồi dưỡng công nghiệp” tới “công nghiệp bồi dưỡng
nông nghiệp”
Đến cuối những năm 50 của thế kỷ trước, Đài Loan đã cơ bản thực hiện tự
cung tự cấp lương thực và có dư. Sau khi giải quyết xong vấn đề lương thực, từ năm
1963 trở đi, Đài Loan bắt đầu dồn sức phát triển công nghiệp nhẹ. Điều đáng nói là
lúc này, một số quan chức chính quyền Đài Loan có dấu hiệu coi thường nông
nghiệp, bởi tới năm 1969, sản xuất nông nghiệp trở chạm phát triển, kéo theo cảnh
trì chệ trong sản xuất công nghiệp. Trong hoàn cảnh này, chính quyền Đài Loan
buộc phải điều chỉnh chính sách, tức chuyển từ phương châm “nông nghiệp bồi
dưỡng công nghiệp” sang “công nghiệp bồi dưỡng nông nghiệp”. Chính sách cụ thể

hương, di chuyển về đô thị.
Xuất phát từ tình hình trên, phong trào “Saemaul Undong” ra đời với mục
đích biến đổi cộng đồng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn theo tinh thần:
Mọi người làm việc và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng mình ngày một đẹp
hơn và giàu hơn. Cuối cùng là để xây dựng một quốc gia ngày một giàu mạnh hơn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 13


dựa trên nền tảng “khuyến khích người dân tự hợp tác để giúp đỡ nhau phát triển”,
theo quan điểm “viện trợ của Chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không
nghĩ cách tự giúp mình”. Tinh thần “Saemaul Undong” được xây dựng trên 3 trụ
cột: Chuyên cần – Tự giác – Hợp tác. Đó là những giá trị xuyên suốt quá trình phát
triển nông thôn nói riêng, xã hội Hàn Quốc nói chung, đóng góp lớn đưa GDP bình
quân của Hàn Quốc từ 85 USD lên 20.000 USD sau 30 năm phát triển.
Trong thập niên 70, chính phủ nhìn thấy tiềm lực của Saemaul undong nhưng
do ngân sách hạn hẹp nên không thể đưa các dự án về nông thôn. Những khoản vốn
nhỏ giọt từ ngân sách chỉ đủ gói gọn trong 10 nội dung thí điểm phát triển nông
thôn trong đó tập trung vào việc: Mở rộng và nâng cấp đường giao thông; cải tạo và
nâng cấp nhà ở; chỉnh sửa, làm lại bếp và hàng rào; xây dựng cầu; cải tạo và nâng
cấp hệ thống thủy lợi để cấp nước sinh hoạt và sản xuất; xây dựng các khu vực giặt
giũ công cộng; xây dựng giếng nước; xây dựng cầu; cải tạo và nâng cấp hệ thống
thủy lợi để cấp nước sinh hoạt và sản xuất; xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu...
Để thực hiện các nội dung đó, Hàn Quốc chia thành các giai đoạn sau:
Năm thứ nhất: Chính phủ cấp cho 32 ngàn xã, mỗi xã 355 bao xi măng và giao cho
chính quyền xã tổ chức thực hiện. Các hoạt động khác được lấy từ ngân sách địa phương
và lực lượng lao động sẵn có. Sau một năm, 16 ngàn xã (50%) đạt mục tiêu đề ra.
Năm thứ hai: Chính phủ tiếp tục cấp thêm cho những xã tự vươn lên bằng
chính sức mình 500 bao xi măng và 1 tấn thép. Kết quả là tranh vách đất được thay

cụ, bãi ươm giống, ruộng thí nghiệm... Nhưng thực tiễn đã chứng minh, con đường
hiện đại hóa nông nghiệp theo mô hình “tiết kiệm lao động” của Âu, Mỹ không phù
hợp với một Nhật Bản lạc hậu về kinh tế, đất chật người đông, quy mô nông điền
nhỏ. Xuất phát từ thực tế đó, Nhật Bản lựa chọn một phương thức kinh doanh theo
mô hình “tiết kiệm đất đai”, nhằm nhiều vào lao động và phân bón, cải thiện hệ
thống thủy lợi nội đồng, nhân rộng các giống cây trồng tốt, sử dụng nhiều phân bón
hóa học, phát triển kỹ thuật canh tác kinh doanh quy mô nhỏ kết hợp giữa tập trung
lao động và tập trung đất đai.
Đến giữa những năm 50 của thế kỷ XX, sự tăng tốc của công nghiệp hóa ở
Nhật Bản đã thu hút một lượng lớn sức lao động của nông nghiệp, lực lượng lao
động ở nông thôn trở nên thiếu hụt. Nhưng lúc này, Nhật Bản đã kịp chuẩn bị điều
kiện “tư bản thay thế lao động”. Công nghiệp hóa cung cấp cho nông nghiệp một
lượng lớn máy móc công cụ, bắt đầu thời kỳ cơ khí hóa nông nghiệp quy mô lớn. Máy
cày động lực và máy kéo dùng trong nông nghiệp ở Nhật Bản đã tăng từ 90 ngàn chiếc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status