Thời gian nghệ thuật trong ca dao thề nguyền của người Việt - Pdf 43

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=====o0o=====

PHÙNG THỊ HIÊN

THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG
CA DAO THỀ NGUYỀN NGƯỜI VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI, 2017


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=====o0o=====

PHÙNG THỊ HIÊN

THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG
CA DAO THỀ NGUYỀN NGƯỜI VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TS. NGUYỄN THỊ NGỌC LAN

HÀ NỘI, 2017


6. Cấu trúc của khóa luận .................................................................................. 7
NỘI DUNG ....................................................................................................... 8
Chương 1. GIỚI THUYẾT VỀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG CA
DAO THỀ NGUYỀN ....................................................................................... 8
1.1. Khái niệm thời gian và thời gian nghệ thuật .............................................. 8
1.2. Biểu hiện của thời gian nghệ thuật trong ca dao thề nguyền ................... 14
1.2.1. Công thức miêu tả thời gian .................................................................. 15
1.2.2. Từ ngữ biểu thị thời gian....................................................................... 22
Chương 2. CÁC SẮC THÁI BIỂU ĐẠT CỦA THỜI GIAN NGHỆ THUẬT
TRONG CA DAO THỀ NGUYỀN NGƯỜI VIỆT ........................................ 30
2.1. Thời gian biểu đạt sự gắn kết tình yêu ..................................................... 30
2.2. Thời gian biểu đạt tình yêu vĩnh hằng, bất diệt ....................................... 33
2.3. Thời gian biểu đạt khát vọng tình yêu chung thủy .................................. 39
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ca dao Việt Nam được xem là tấm gương phản ánh trung thực hình ảnh
thiên nhiên, đất nước, con người Việt Nam. Đó là kho tài liệu phong phú về
phong tục, tập quán trong đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lao
động. Trong đó, những câu hát thề nguyền trong hệ thống ca dao giao duyên
chiếm vị trí quan trọng trong kho tàng ca dao của dân tộc. Tìm hiểu ca dao thề
nguyền, ta sẽ thấy những biểu hiện độc đáo và sâu sắc của đời sống tâm hồn
con người Việt Nam qua bao thế hệ. Thời gian được diễn tả trong những câu
hát thề nguyền là thời gian nghệ thuật. Mỗi thể loại văn học đều mang nét đặc
thù riêng về thời gian nghệ thuật. Nếu như trong sử thi là thời gian “khuyết
sử”, mang đậm chất thần thoại; thời gian trong cổ tích là thời gian của quá
khứ không xác định, mang tính hoang đường thì thời gian nghệ thuật trong ca

đoạn hạnh phúc với những niềm ước mơ…” [8]. Đây là những ý kiến chính
xác, song còn dừng lại ở những thông tin sơ lược.
Năm 1978 trong cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam (tái bản lần thứ
8) Vũ Ngọc Phan khi nói về tình yêu lứa đôi cũng đã khẳng định:“Có thể nói
ca dao đã ghi lại tất cả các chặng đường của tình yêu, các khía cạnh của tình
yêu, các trạng thái tình cảm của nam nữ thanh niên với những trắc trở khó
khăn do đời sống và chế độ phong kiến gây nên… trong cảnh lầm than, tình
yêu của nhân dân lao động Việt Nam vẫn thắm thiết, có khi còn gắn bó bằng
lời keo sơn, cho nên trong sinh hoạt khó khăn và gian khổ, họ vẫn hăng hái và
bền bỉ. Những câu biểu hiện ý chí sắt đá của những người bạn tình có rất
nhiều trong ca dao Việt Nam” [14]. Trong cuốn sách này, nhà nghiên cứu Vũ
Ngọc Phan mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu mang tính chất dẫn dắt, khơi gợi
mà chưa đặt ra vấn đề nghiên cứu, xem xét nội dung biểu hiện của câu hát thề
nguyền trong ca dao tình yêu một cách cụ thể.
Năm 1991, trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, tập 2, tác giả

2


Hoàng Tiến Tựu căn cứ vào chủ đề đã chia ca dao tình yêu thành bốn bộ phận
chính: ca dao tỏ tình, ca dao tương tư, ca dao thề nguyền và ca dao hận tình
[18]. Ở đây tác giả chỉ dừng lại ở việc phân loại mà chưa đi vào phân tích các
phương diện biểu hiện của ca dao thề nguyền.
Năm 1992, với chuyên luận Thi pháp ca dao, Nguyễn Xuân Kính đã có
những phân tích chuyên sâu về các vấn đề ngôn ngữ, hình tượng, kết cấu, thể
thơ, thời gian và không gian nghệ thuật của ca dao truyền thống. Theo tác giả:
“Thời gian và không gian là những mặt của hiện thực khách quan được phản
ánh trong tác phẩm tạo thành thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Thời gian
nghệ thuật, không gian nghệ thuật một mặt thuộc phương diện đề tài, mặt
khác thể hiện nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức tác phẩm của từng tác giả,

Đó là những kết quả nghiên cứu bước đầu, mang lại những gợi ý quan
trọng cho chúng tôi trong việc triển khai đề tài.
Năm 1998, trong Những thế giới nghệ thuật ca dao, tác giả Phạm Thu
Yến đề cập vấn đề “Thời gian và không gian nghệ thuật trong ca dao”. Viết về
vấn đề này tác giả khẳng định mỗi thể loại văn học mang nét đặc thù về thời
gian nghệ thuật, trong đó thời gian trong ca dao là phương tiện biểu đạt trạng
thái tâm hồn của con người. Khi khảo sát thời gian nghệ thuật, tác giả nhận
định thời gian nghệ thuật trong ca dao có thể phân thành hai mảng: thời gian
sự kiện và thời gian tâm lý. Đồng thời, đưa ra một số công thức miêu tả thời
gian: công thức chỉ thời điểm, thời gian để chỉ các trạng thái tình cảm thay
đổi thường được miêu tả đối lập quá khứ và hiện tại, thời gian là phương tiện
biểu hiện lời thể nguyền, ước hẹn hoặc ước mơ cháy bỏng của tình yêu hoặc
lời đùa vui đố hỏi...[23]
Năm 1998 trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam (sách Cao đẳng sư
phạm) tác giả Hoàng Tiến Tựu căn cứ vào đề tài và chủ đề chia ca dao tình
yêu thành bốn bộ phận chính: ca dao tỏ tình, ca dao tương tư, ca dao thề
nguyền và ca dao hận tình [20]. Nếu như ở cuốn dành cho đại học sư phạm

4


chỉ dừng lại ở việc phân loại thì cuốn dành cho cao đẳng sư phạm tác giả nói
rõ hơn về ca dao thề nguyền với nội dung chủ yếu: “Khác với ca dao tỏ tình
và tương tư, ở bộ phận ca dao thề nguyền lại toát lên sức mạnh phi thường
của nghị lực và ý chí. Ở đây các chàng trai, cô gái thể hiện rõ sự tỉnh táo,
sáng suốt, dám nhìn thẳng vào thực tế khó khăn, chấp nhận mọi thử thách
vượt qua mọi trở lực để thực hiện tình yêu”. Sau khi đưa ra nhận định, tác giả
đưa ra các dẫn chứng để làm rõ vấn đề này:
- Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo
Ngũ lục sông cũng lội, thất bát cửu thập đèo cũng qua.

Tuy nhiên tác giả mới chỉ dừng lại ở việc phát hiện, chưa đi sâu vào việc phân
tích, lí giải. Song đó vẫn là những gợi ý quan trọng để chúng tôi mở rộng vấn
đề nghiên cứu trong khóa luận của mình.
Qua việc khảo sát các công trình nghiên cứu trên, ta thấy các bài viết,
giáo trình cũng đã có sự quan tâm tới yếu tố thời gian trong ca dao trữ tình
song chưa đi vào khảo sát yếu tố này trong một nhóm bài ca dao cụ thể - ca dao
thề nguyền. Vì vậy, đây là một vấn đề có ý nghĩa khoa học, cần được nghiên
cứu một cách cụ thể, kỹ lưỡng hơn nữa.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
+ Mục đích: Làm rõ biểu hiện của các dạng thời gian, lớp từ ngữ chỉ thời
gian và nội dung biểu đạt của nó trong ca dao thề nguyền.
+ Nhiệm vụ: Khảo sát yếu tố thời gian nghệ thuật trong ca dao thề
nguyền và phân tích các biểu hiện của nó thông qua các công thức, từ ngữ chỉ
thời gian; thấy được các nội dung biểu đạt của thời gian nghệ thuật trong việc
diễn tả các sắc thái tình cảm của con người.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng: Thời gian nghệ thuật – một trong những yếu tố thi pháp
nổi bật trong bộ phận ca dao thề nguyền người Việt.
+ Phạm vi:
- Về tư liệu: Chúng tôi tiến hành khảo sát một số công trình sưu tầm,

6


tuyển chọn ca dao người Việt đã được xuất bản và thống kê được 241 lời ca
dao có nội dung thề nguyền, trong đó 168 bài xuất hiện yếu tố thời gian.
- Về nội dung: Tìm hiểu yếu tố thời gian trong bộ phận ca dao thề
nguyền với các biểu hiện cụ thể: dạng thức, công thức miêu tả thời gian và nội
dung, ý nghĩa biểu đạt của nó trong ca dao thề nguyền. Trong quá trình triển
khai các nội dung khóa luận, chúng tôi có sự so sánh với ca dao dân ca của

nghệ thuật. Thời gian gắn với những quan niệm về nghệ thuật, về con người,
về thế giới của chủ thể. Thời gian là sản phẩm của nghệ sĩ nhằm biểu hiện về
con người, về thế giới, đồng thời thể hiện quan niệm nhân sinh. Thời gian còn
là một yếu tố quan trọng làm nền cho tác phẩm, góp phần bộc lộ chủ đề tác
phẩm. Thời gian trong nghệ thuật có mô hình và ngôn ngữ riêng của mình vì
nó thể hiện quan niệm về trật tự thế giới, về sự lựa chọn của con người.
1.1. Khái niệm thời gian và thời gian nghệ thuật
Ngay từ thời xa xưa, con người đã hiểu rằng, bất kì khách thể vật chất
nào cũng chiếm một vị trí trong khoảng không gian, thời gian nhất định
A.JaGurevich trong cuốn Các phạm trù văn hóa trung cổ đã chỉ ra cách lý
giải của người trung cổ về khái niệm thời gian: “Thời gian và không gian có
tính chất khách quan, những phẩm chất của chúng độc lập với chất liệu được
chứa trong chúng” [4]. Chính vì vậy, thời gian đã trở thành đối tượng nghiên
cứu của nhiều ngành khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội, trong đó có
thi pháp học.

8


Trong lịch sử triết học, thời gian (cùng với không gian) là một phạm trù
xuất hiện sớm. Cùng với không gian, thời gian gắn liền với vật chất và là
phương thức tồn tại của vật chất. Không có một dạng vật chất nào tồn tại ở
bên ngoài thời gian và không gian. Ngược lại, cũng không thể có thời gian và
không gian ở bên ngoài vật chất. Lê nin cho rằng: “Trong thế giới khách
quan không có gì khác tồn tại ngoài vật chất chuyển động và vật chất không
thể chuyển động ở đâu khác ngoài không gian và thời gian”. Ăng ghen cũng
khẳng định: “Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời
gian. Tồn tại ngoài thời gian thì cũng hết sức vô lý như tồn tại ngoài không
gian”[17]. Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Duy vật, thời gian và
không gian tồn tại hoàn toàn khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con

khoảng thời gian dài trong chốc lát, lại có thể kéo dài cái chốc lát thành vô
tận. Thời gian nghệ thuật là hình tượng nghệ thuật, sản phẩm sáng tạo của tác
giả bằng phương tiện nghệ thuật nhằm làm cho người đọc thưởng thức, cảm
nhận được hoặc hồi hộp chờ đợi hoặc thanh thản vô tư, hoặc đắm chìm vào
quá khứ. Thiếu sự cảm thụ, tưởng tượng của người đọc thì thời gian nghệ
thuật là sáng tạo khách quan trong chất liệu. Nếu như mọi tác phẩm có thể
gây hiệu quả hồi hộp, đợi chờ thì đối với ai, lúc nào khi cảm thụ thời gian ấy
đều xuất hiện.
Như vậy, có thể thấy rằng thời gian nghệ thuật là một dạng tồn tại đặc
biệt, có quan hệ mật thiết với thời gian vật lý. Nếu như thời gian vật lý tồn tại
một cách khách quan bên ngoài ý thức của con người thì thời gian nghệ thuật
lại mang đậm dấu ấn chủ quan của chủ thể sáng tạo. Đó là thời gian tinh thần
của con người, là thời gian sống mà con người cảm nhận. Hay nói cách khác,
thời gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ, nó gợi lên trong trí tưởng
tượng của chúng ta qua các tín hiệu ngôn từ và mang tính vận động rõ nét.

10


Ví dụ:
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà...
Thời gian trong bài ca dao Tát nước đầu đình đều là thời gian mang tính
chất phiếm chỉ: hôm qua, đã lâu, mai, đến khi lấy chồng... mà tác giả dân gian
sử dụng làm phương tiện để giãi bày, thể hiện tình cảm của mình một cách ý
nhị, sâu sa, nhưng cũng vô cùng thông minh, dí dỏm. Để có dịp thổ lộ tình
yêu với cô gái, chàng trai mượn cớ quên áo, hỏi xin, nhân đó gợi chuyện làm
thân rồi lân la ngỏ ý cầu hôn. Câu chuyện bỏ quên áo trong bài ca dao Tát

nhìn toàn diện và sâu sắc về ca dao tình yêu nói chung và ca dao thề nguyền
nói riêng” [1].
Thời gian nghệ thuật là một phạm trù thi pháp ngày càng quan trọng bởi
vì con người muốn cảm nhận toàn bộ thế giới qua thời gian và trong thời gian.
Thời gian là đối tượng, là chủ thể, là công cụ miêu tả, là sự ý thức và cảm
giác về sự vận động và thay đổi của thế giới trong các hình thức đa dạng của
thời gian và xuyên suốt toàn bộ nền văn hóa. Sự thụ cảm thời gian gắn liền
với ý thức về ý nghĩa của cuộc đời, với quan niệm về thế giới và lịch sử, với
ước mơ, lí tưởng và năng lực hoạt động của con người. Một cuộc đời có thể
trôi nhanh như một giấc mộng, một phút chờ đợi có thể dài như trăm năm, có
kẻ say sưa quên năm tháng, có người mãi mãi thiếu thời gian, lịch sử có khi
hàng trăm năm giẫm chân tại chỗ, có khi vùn vụt một ngày bằng hai mươi
năm…, ý thức về thời gian là ý thức về sự tồn tại của con người, phát hiện về
thời gian giúp con người nhận thức sâu sắc hơn về cuộc đời, về con người.
Mỗi thời kì văn học, mỗi dòng văn học, mỗi thể loại văn học khác nhau
lại có những cách cảm nhận và biểu hiện thời gian khác nhau. Song về cơ bản
có thể thấy thời gian nghệ thuật bao giờ cũng gắn liền với hình thức tổ chức

12


bên trong của hình tượng nghệ thuật. Nếu như ngòi bút chạy theo diễn biến sự
kiện thì thời gian trôi nhanh, khi nào dừng lại miêu tả chi tiết thì thời gian
chậm lại
Cùng với không gian nghệ thuật thì thời gian nghệ thuật là phạm trù cơ
bản trong thi pháp và thi pháp học. Thời gian nghệ thuật không đồng nhất với
thời gian trong cuộc sống mặc dù xuất phát điểm của nó là từ đời sống. Thời
gian nghệ thuật là sự phản ánh thời gian thông qua lăng kính chủ quan của
người nghệ sĩ . Nó phụ thuộc vào điểm nhìn nghệ thuật, quan niệm, sở thích,
ý muốn chủ quan của tác giả.

ngắn, có quá khứ, hiện tại, tương lai nhưng đều là một phạm trù nghệ thuật.
Nó mang đầy tính ước lệ, chủ quan và thể hiện cách hiểu về thế giới con
người. Tìm hiểu thời gian nghệ thuật của một hiện tượng văn học chính là tìm
hiểu cách cảm nhận cuộc sống một cách nghệ thuật và thẩm mĩ trong đó.
Thực tế ấy cho thấy ở mỗi nền văn hóa, mỗi hiện tượng văn học đều có các
hình thức biểu hiện thời gian đặc trưng. Để thấy hết cái đặc sắc của ca dao
cũng như tiếng lòng của người bình dân xưa trong ca dao chúng ta không thể
không tìm hiểu về các hình thức biểu hiện thời gian.
Nếu như thời gian trong sử thi là thời gian “khuyết sử”, thời gian lịch sử
đã được hư cấu, nhào nặn trở thành thời gian mang tính khái quát hàng trăm,
hàng nghìn năm đậm chất thần thoại. Thời gian trong truyền thuyết là thời
gian quá khứ xác định (“Vào thời An Dương Vương, vào thời Hai Bà
Trưng”…) Thời gian trong truyện cổ tích là thời gian quá khứ phiếm định
(“Ngày xửa ngày xưa”, “đã lâu lắm rồi”...). Còn trong ca dao, thời gian là
phương tiện biểu đạt trạng thái tâm hồn của con người nên mang tính phiếm
chỉ và nói chung nó vừa là thời gian hiện thực khách quan vừa là thời gian của
sự tưởng tượng, hư cấu mang tính chủ quan của nhân vật trữ tình. Sự có mặt
của thời gian nghệ thuật trong nhóm ca dao thề nguyền không tách rời đặc
điểm chung của thể loại, song nó còn mang nét riêng khác với các bộ phận ca
dao trong hệ thống.

14


1.2.1. Công thức miêu tả thời gian
1.2.1.1. Thời gian hiện tại
Trong thơ ca dân gian, thời gian của tác giả và thời gian của người đọc
hòa lẫn với thời gian diễn xướng. Thời gian ở đây là thời gian hiện tại. Đó
thời điểm, hay một khoảng thời gian xác định mà trạng thái nhân vật trữ tình
được bộc lộ. Thời gian hiện tại có thể là thời điểm bắt đầu của trạng thái hoặc

tưởng, trong cảm xúc của con người). Thường thì trong ca dao cái gọi là thời
gian vật lý, thời gian sự kiện xuất hiện rất ít, sẽ là vô duyên nếu nó xuất hiện
chẳng để làm gì khác ngoài chức năng thông báo thời gian.
Ví dụ:
Hôm nay mười bốn mai rằm
Chín tháng cũng đợi, mười năm cũng chờ
Trăm năm quyết đợi, quyết chờ
Dẫu mà tóc bạc như tơ cũng đành.
Thời điểm gặp gỡ đầu tiên hay thời điểm bắt đầu một tình yêu thường
khó quên. Đó cũng là thời điểm của sự lựa chọn.
Từ khi gặp mặt giữa đàng
Thiếp quyết thương chàng cha mẹ nào hay
Tuy vậy “hôm nay” hay “từ khi” chỉ là những cụm từ mang tính chất
phiếm chỉ, diễn tả một quãng thời gian của hiện tại, của sự gặp gỡ và chia ly,
của những mối tình sống mãi với thời gian.
Cũng có khi thời điểm được liệt kê ra như một cái mốc của cuộc đời
những cái mốc của thời gian biểu thị sự chấp nhận:
Khi xưa gánh nặng anh chờ
Qua cầu em đợi, bây giờ quên nhau
Tuy nhiên, thời gian ở đây cũng không hoàn toàn là thời gian nào cụ thể
trong thực tại. Đó là do bản chất của tình yêu, tình yêu là cảm xúc mà cảm
xúc thì rất khó có thể nắm bắt được. Câu hát thề nguyền cất lên khi tình yêu

16


đã đạt đến độ chín muồi, vượt qua ranh giới của tình cảm nam nữ thông
thường, chính vì thế không thể có một giới hạn xác định nào về thời gian.
Như vậy có thể nói đặc điểm lớn nhất của thời gian nghệ thuật trong ca dao
tình yêu là ước lệ, nhằm diễn tả tâm lý và những diễn biến tình cảm nội tâm

trong tình yêu. Qua thời gian trăm năm những sự vật vốn rất khó thay đổi
cũng phải “nát”, phải “phai”. Vậy mà trải qua “nghìn năm” lòng người vẫn
chung thủy, vẹn nguyên. “Nghìn năm” là vô hạn, phải lấy đơn vị thời gian lâu
dài thăm thẳm ấy mới có thể đo được sự thủy chung của con người. Thời gian
và tình yêu giống nhau ở sự vĩnh hằng, vĩnh cửu. Sự vĩnh cửu của thời gian đã
trở thành minh chứng cho những mối tình thủy chung. Nó trở thành thước đo
của lòng người. Nếu bỏ đi yếu tố thời gian, bài ca dao sẽ không còn ý nghĩa,
nó sẽ không diễn đạt hết được tâm tư tình cảm của người bình dân xưa.
Đồng thời tác giả dân gian còn sử dụng yếu tố thời gian để thể hiện sự
gắn bó, ước hẹn của lứa đôi:
Hỏi thử anh biết tình nhân ngãi
Em đâu có ngại sự đợi chờ
Một lời hứa căn vặt tóc tơ
Trăm năm cũng chẳng hững hờ dạ riêng
Hay
Trăm năm giữ trọn lời nguyền
Sóng xô mược sóng, đảo thuyền mược ai
Tình em nghĩa rộng lâu dài
Lòng em nào phải hoa lài trôi sông.
Trong cách cảm, cách nghĩ và cách thể hiện của tác giả dân gian, những
cụm từ thời gian ngàn năm, trăm năm thường diễn đạt khái niệm trường cửu.
Vì vậy yếu tố thời gian vĩnh hằng xuất hiện tương đối phổ biến trong ca dao
thề nguyền.

18


- Trăm năm quyết đợi quyết chờ
Dẫu mà tóc bạc như tơ cũng đành.
Sông dài cá lội biệt tăm

vật như: muối mặn, gừng cay và khoảng thời gian được tính bằng độ dài đời
người được sử dụng như khẳng định chân lý về sự thủy chung, son sắc trong
tình cảm con người.
Tình yêu trong những câu ca thề nguyền dường như muốn vượt ra ngoài
sự hữu hạn của thời gian. Các chàng trai, cô gái thiết tha khẳng định tình cảm
son sắt không bao giờ thay lòng đổi dạ của mình. Họ khao khát trường tồn
hóa, bất tử hóa tình yêu của mình trong thời gian vĩnh cửu của vũ trụ. Tầm
vóc tư tưởng con người trong tình yêu bỗng trở nên lớn lao và đẹp vô cùng.
Những cụm từ khi đăng đối, luyến láy, khi tăng tiến tiếp nối không ngừng vừa
nhấn mạnh mức độ sâu sắc của tình cảm lứa đôi, vừa khẳng định sự bền vững
lâu dài của nó giữa sự dòng chảy vô cùng, vô tận của thời gian cuộc đời. Cũng
có khi thời gian ấy còn được đo bằng tuổi tác:
Trăm năm thề những bạc đầu
Chớ tham phú quý, chớ cầu trăng hoa
Dẫu cho tuổi già có đến với con người theo quy luật sinh - lão -bệnh – tử
không gì có thể cưỡng nổi, nhưng tình yêu sẽ mãi trong sự nồng nàn, đằm
thắm, thủy chung. Đó là sức sống vĩnh hằng của tình yêu, là giá trị sâu sắc mà
ca dao thề nguyền đã đem đến cho chúng ta.
Như vậy dù dùng khái niệm thời gian vĩnh hằng để thề nguyền và khẳng
định sự vĩnh cửu của tình yêu, dân gian đã lấy thời gian làm thước đo của tình
cảm. Khẳng định tình yêu và lòng chung thủy không chỉ là thề mà còn là nhu
cầu được giãi bày, được khẳng định và mong ước về sự thủy chung của những
đôi lứa yêu nhau.
1.2.1.3. Thời gian lặp lại
Thời gian lặp lại là thời gian biểu thị dòng chảy diễn ra liên tục và lặp lại
nhiều lần của những khoảng thời gian trong một ngày. Ví dụ như sáng, trưa,
chiều, tối, đêm. Nếu như khoảng thời gian ngày ngày thường gắn với những

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status