Dạy học đọc hiểu văn bản Người lái đò sông Đà(Nguyễn Tuân) ở trường Trung học Phổ thông theo quan điểm tích hợp - Pdf 44

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA: NGỮ VĂN
*************

NGUYỄN THỊ DƯƠNG

DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
“NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ”
(NGUYỄN TUÂN) Ở TRƯỜNG THPT
THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ Văn

Người hướng dẫn khoa học

ThS. VŨ NGỌC DOANH

Hà Nội - 2017


LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập khóa luận tôi đã nhận được sự giúp đỡ của rất
nhiều thầy cô giáo và các bạn sinh viên khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo ThS Vũ Ngọc Doanh,
người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, đặc
biệt các thầy cô cùng tổ Phương pháp đã tạo điều kiện thuận lợi để khóa luận
của tôi được hoàn thành.
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Tác giả

Sách giáo khoa

NXB : Nhà xuất bản
THPT: Trung học phổ thông
GD
ĐT

:

Giáo dục
:

Đào tạo


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2.Lịch sử vấn đề ................................................................................................ 2
3.Mục đích nghiên cứu ...................................................................................... 3
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................... 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 4
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 4
7. Bố cục khóa luận ........................................................................................... 4
NỘI DUNG ....................................................................................................... 5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC THEO QUAN ĐIỂM
TÍCH HỢP......................................................................................................... 5
1.1 Dạy học theo quan điểm tích hợp ............................................................... 5
1.1.1 Quan điểm tích hợp .................................................................................. 5
1.1.2 Tích hợp trong dạy học Ngữ văn ............................................................. 8

trở thành đối tượng tùy bút của Nguyễn Tuân thì nó y như một hạt ngọc vậy.
Hạt ngọc này được một người nặng hồn với sông núi, nước non, cộng với sự
tài hoa, một người được mệnh danh là nhà kĩ thuật ngôn từ, những nhận xét
tinh tế, mài dũa, tỉa tót. Chúng trở thành những địa danh đáng tự hào của Tổ
quốc, đất nước Việt Nam. Tùy bút Sông Đà với “ Người lái đò sông Đà”
chính là một trong những hạt ngọc đó, một hạt ngọc Tây Bắc giàu có về tài
nguyên và sự bài trí tuyệt vời của cảnh vật: núi sông diễm lệ, hoa, trời, đá,
thác. Đặc biệt hơn với dòng sông Đà được ví tuôn dài như một áng tóc trữ
tình ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc, bung nở những cánh hoa ban, hoa gạo
với chất vàng mười của nó là vẻ đẹp của con người nơi đây. Những điều đó
đã thật sự để lại ấn tượng với Nguyễn Tuân và tao ra nhiều cảm xúc trong nhà
văn.
Rõ ràng, với sông Đà, Nguyễn Tuân đã chứng tỏ sự hội nhập của một
nhà văn đã từng “Vang bóng một thời” với cách mạng, với thời đại. Ở đó, vẫn
là một Nguyễn Tuân tài hoa, uyên bác có thiên hướng thể hiện những ấn
tượng đậm nét mãnh liệt, tô đậm cái phi thường nơi cái bình thường, những
con người bình dị nhưng ở họ có phẩm chất cao quý. Ở đó vẫn là dáng vẻ của
một nét bút cẩn thận đến chính xác từng từ, từng câu, từng chữ... Vẫn là một
Nguyễn Tuân với sức liên tưởng đa dạng, phong phú, sắc sảo.
Tùy bút “Người lái đò sông Đà” được đưa vào trong chương trình sách
giáo khoa Ngữ Văn lớp 12, tập 1- NXB Giáo dục. Khi đưa văn bản “Người lái
đò sông Đà” vào chương trình sách giáo khoa, học sinh sẽ hiểu thêm phần nào
về vẻ đẹp thiên nhiên của đất nước, mà cụ thể là vẻ đẹp vùng Tây Bắc và cả

1


con người ở đó. Tuy nhiên, đối với vấn đề giảng dạy và tìm hiểu văn bản
không phải là không gặp phải những khó khăn nhất định.
Dạy học đọc-hiểu văn bản “Người lái đò sông Đà” có rất nhiều cách

Ngữ Văn 10”( Nguyễn Thúy Hồng, Tạp chí Giáo dục, kỳ 2, 2006); “Tích hợp
trong dạy học Ngữ Văn”(Nguyễn Thanh Hùng, Tạp chí nghiên cứu khoa học
Giáo dục, số 6 (3/2006); “Tích hợp và liên hội hướng tới kết nối trong dạy
học Ngữ Văn” (Nguyễn Trọng Hoàn, Tạp chí Giáo duc số 22,2002); “Tìm
hiểu chương trình và SGK Ngữ văn THPT” – T.s Đỗ Ngọc Thống – NXB
Giáo dục 2006 đã đề cập đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo quan
điểm tích hợp; Tài liệu bồi dưỡng giáo viên – NXB Đại học Sư phạm đã đề
cập đến quan điểm tích hợp...Những tài liệu này đã cung cấp cho tôi kiến thức
lí luận, hững ví dụ minh họa, những giải pháo cụ thể trong dạy học tích hợp
trong môn Ngữ Văn và nó có vai trò định hướng, mở đường cho đề tài nghiên
cứu của chúng tôi.
3.Mục đích nghiên cứu
Vận dụng quan điểm đó vào việc đọc – hiểu văn bản ở trường THPT.
Đề xuất các biện pháp vận dụng một cách hiệu quả tích hợp trong văn
bản “Người lái đò sông Đà”. Để từ đó có cơ sở vận dụng vào các văn bản
khác trong chương trình Ngữ Văn Trung học Phổ thông. Phần nào giúp các
em thêm yêu thích, hứng thú với môn học hơn, và đây cũng là một hướng đổi
mới trong giảng dạy Ngữ Văn.
Bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học và vận dụng quan điểm
đó vào dạy học.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Lý thuyết về quan điểm dạy học tích hợp nói chung và trong dạy
học Ngữ văn nói riêng.
- Vận dụng quan điểmtích hợp vào dạy học đọc hiểu văn bản.

3


4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được quan
tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhiều trường ở nhiều nước trên thế giới. Ở
nước ta, từ thập niên 90 của thế kỉ XX trở lại đây, vấn đề xây dựng môn học
tích hợp với những mức độ khác nhau đang thực sự được tập trung nghiên
cứu, thử nghiệm và áp dụng vào nhà trường phổ thông.
Tích hợp là một phương pháp dạy học hiện đại nhằm giải quyết mâu
thuẫn giữa khối lượng kiến thức được cung cấp với năng lực thực tế của
người học, kiến thức hàn lâm với thực tế đời sống, trong khi thời gian học tập
có hạn. Quan điểm tích hợp được áp dụng với nhiều bộ môn khác nhau, với
những mức độ khác nhau như tích hợp đa môn, tích hợp liên môn, tích hợp
xuyên môn...
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về tích hợp. Có ý kiến cho rằng: tích
hợp là tổ hợp (conbi-nation) hay phối hợp (co-ordination) các môn học...
Theo Nguyễn Khắc Phi trong sách giáo viên Ngữ Văn lớp 6 đã đưa ra
quan điểm về tích hợp: “ Tích hợp là một phương hướng nhằm phối hợp một
cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ các môn học khác nhau theo các mô
hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và những
yêu cầu cụ thể khác nhau”[tr 6].
Theo quan điểm của Ts. Nguyễn Văn Đường trong bài “Những điểm
mới của chương trình và SGK Ngữ Văn”, Tạp chí Giáo dục, năm 2002 cho

5


rằng: “Tích hợp là sự tổng hợp ở mức độ cao, hài hòa, biện chứng ở các cấp
độ, phương diện khác nhau nhằm đạt hiệu quả, chất lượng mới và tốt”[tr 7].
Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoàn trong bài “Tích hợp và liên hội hướng tới
kết nối trong dạy học Ngữ Văn”, Tạp chí Giáo dục, số 22, năm 2002 quan
niệm: “Tích hợp là thuật ngữ mà nội hàm của nó chỉ hướng tiếp cận kiến thức
từ việc khai thác giá trị của các tri thức công cụ thuộc từng phân môn, trê cơ

chia cắt thành nhiều phần riêng lẻ. Do vậy để việc học tập phù hợp với yêu
cầu của cuộc sống chương trình các môn học phải phản ánh thế giới cho học
sinh có thể thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa cuộc sống và việc học tập trong nhà
trường.

1.1.1.2 Phân loại
- Tích hợp ngang là “Tích hợp trong từng thời điểm” (một tiết học, một
bài học) từ kiến thức bài học của phân môn này liên hệ đến các phân môn
khác (Văn - Tiếng Việt – Làm văn) hoặc giữa môn Ngữ Văn với các môn học
khác, với các lĩnh vực trong cuộc sống, để làm nổi bật, đào sâu kiến thức, phát
triển tư duy của học sinh. Theo quan điểm tích hợp, các phân môn trước đây ít
gắn bó với nhau nay được tập trung lại xoay quanh trục chủ điểm và các bài
học; các nhiệm vụ cung cấp kiến thức, kĩ năng cùng gắn bó chặt chẽ với nhau
hơn trước.
- Tích hợp dọc là tích hợp một đơn vị kiến thức và kĩ năng với đơn vị
kiến thức và kĩ năng đã học trước đó. Cụ thể là: kiến thức và kĩ năng của lớp
trên, bậc học trên bao hàm cả kiến thức kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới.
Đây là kiểu tích hợp khoa học. Xét riêng từng phân môn một thì khi tích hợp
ngang, ít nhiều phá vỡ tính tích hợp dọc của hệ thống tri thức thuộc ngành
khoa học. Với phân môn Văn học, vì coi trọng việc học văn theo thể loại nên
tính hệ thống của văn học sử bị lu mờ rõ rệt. Dẫu sao chúng ta vẫn thấy các

7


nhà biên soạn chương trình, sách giáo khoa, có dụng ý sắp xếp các văn bản
đọc – hiểu theo thể loại, vừa theo trình tự lịch sử nhằm tạo ra ít nhiều cơ sở
cho việc học chương trình văn học sử ở bậc THPT. Thông qua các giờ ôn tập
từng phần hay ôn tập cuối năm về kiến thức văn học, giáo viên giúp học sinh
bước đầu thấy được sự phát triển của lịch sử văn học từ tác phẩm đến thể loại,

Việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ Văn ở trường
THPT chẳng những dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được
đề cập trong các phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ
phận tri thức khác như hiểu biết lịch sử xã hội, văn hóa nghệ thuật... mà còn
xuất phát từ đòi hỏi thực tế là cần phải khắc phục, xóa bỏ lối dạy học theo
kiểu khép kín, tách biệt thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống, cô lập giữa
những kiến thức và kĩ năng vốn có liên hệ, bổ sung cho nhau, tách rời kiến
thức với các tình huống có ý nghĩa, những tình huống cụ thể mà học sinh sẽ
gặp sau này. Nói khác đi đó là lối dạy học khép kín “trong nội bộ phân môn” ,
biệt lập các bộ phận Văn học, Tiếng Việt và Làm văn vốn có quan hệ gần gũi
về bản chất, nội dung và kĩ năng cũng như mục tiêu đủ cho phép phối hợp,
liên kết nhằm tạo ra những đóng góp bổ sung cho nhau cả về lí luận và thực
tiễn, đem lại kết quả tổng hợp và vững chắc trong việc giải quyết những tình
huống tích hợp hoặc những vấn đề thuộc từng phân môn.
Tóm lại, tích hợp trong dạy học môn Ngữ Văn có thể hiểu là sự hợp
nhất của ba môn Văn – Tiếng Việt – Làm văn. Cả ba phân môn đều dựa vào
một văn bản chung để khai thác, hình thành kiến thức và rèn luyện kĩ năng
theo yêu cầu của mỗi phần trong hệ thống kiến thức của cả ba phần có mối
liên hệ chặt chẽ, phụ thuộc vào nhau, hỗ trợ nhau và cùng làm sáng tỏ cho
nhau, tránh chồng chéo và có tính chất thống nhất.

9


1.2Lí thuyết tiếp nhận tác phẩm
1.2.1 Vấn đề tiếp nhận tác phẩm
1.2.1.1 Khái niệm về tiếp nhận văn học
Theo “Từ điển Tiếng Việt”: tiếp nhận là đón nhận cái từ người khác, từ
nơi khác chuyển giao cho.[9,tr 1020].
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” quan niệm: tiếp nhận văn học là hoạt

khách quan của nó. Hơn nữa, một nhận thức đúng đắn là một nhận thức tiếp
cận được bản chất và quy luật của đối tượng. Nội dung của tác phẩm trước hết
là do những thuộc tính nội tại của nó tạo nên, là cái vốn có chứa đựng trong
bản thân tác phẩm. Việc người đọc khác nhau đã cắt nghĩa khác nhau khi
cùng đọc một tác phẩm là thuộc phương diện chủ quan của tiếp nhận. Có thể
nói tác phẩm nghệ thuật gồm hai phần: phần cứng và phần mềm. Phần cứng là
văn bản, là sự khái quát đời sống, là một hệ thống ý nghĩa, tiếp nhận phụ
thuộc vào các tương quan đời sống xã hội, phụ thuộc và lòng người đọc. Phần
cứng tạo ra cơ sở khách quan cho việc tiếp nhận. Phần mềm là nội dung và tư
tưởng của tác phẩm. Chính cơ sở khách quan của việc tiếp nhận tác phẩm đã
tạo ra ấn tượng chung đồng nhất ở mỗi người đọc. Phần cứng của tác phẩm
tạo ra nội dung tương đồng bất biến từ tác giả đến mọi người đọc. Rõ ràng là,
độc giả hay khán giả sau khi cùng xem xong một tác phẩm nghệ thuật nào đó
đều có một ấn tượng chung về một nhân vật trong tác phẩm. Trong văn học
những nhân vật có đặc điểm điển hình đã đi vào trong cuộc sống có ấn tượng
tương đồng với mọi người: Trương Phi (nóng như Trương Phi), Tào Tháo (đa
nghi như Tào Tháo), Sở Khanh (thường gắn với những kẻ chuyên đi lừa đảo,
bản chất xấu xa), Hoạn Thư (chỉ người phụ nữ hay ghen và ghen một cách
cay độc)...
Vậy chúng ta có thể hiểu: hoạt động tiếp nhận các văn bản Ngữ văn là
một hoạt động nhận thức nói chung đối với ai đọc và quan tâm đến văn bản

11


Ngữ văn, đồng thời nó cũng là một hoạt động nghệ thuật của người học, là
hoạt động mang tính mục đích nhằm chuyển nội dung các văn bản vốn tồn tại
khách quan vào bên trong ý thức của người tiếp nhận. Nó là một hoạt động
tiếp nhận mang tính đặc thù, bởi nó là một hoạt động tinh thần và kết quả của
hoạt động này phụ thuộc sâu sắc vào chủ thể tiếp nhận, vào tầm tiếp nhận của

sinh và tác giả thông qua văn bản văn chương nhằm giáo dục đạo đức, nhân
cách và mở rộng tri thức ở các em. Các định hướng tiếp nhận văn học như:
đọc văn bản văn chương định hướng cắt nghĩa, định hướng phân tích, định
hướng bình giá...
Để tiếp nhận văn bản một cách hiệu quả và giải nghĩa văn bản một cách
đúng nhất thì đối với người đọc trước hết cần nâng cao trình độ, tích lũy kinh
nghiệm, trân trọng tác phẩm, tìm cách hiểu tác phẩm một cách khách quan,
toàn vẹn. Tiếp nhận một cách chủ động, tích cực, sáng tạo hướng tới cái hay,
cái đẹp, cái đúng.
1.2.2 Vấn đề đọc – hiểu tác phẩm
1.2.2.1 Khái niệm đọc – hiểu
Mục tiêu trực tiếp, chủ yếu của môn Ngữ văn THPT là hình thành và
rèn luyện cho học sinh năng lực đọc – hiểu cũng như tạo lập các loại văn bản.
Vì thế chương trình được xây dựng theo hai trục tích hợp: Đọc văn và Làm
văn. Đó là hai hoạt động chính cần tập trung hình thành và rèn luyện cho học
sinh trong môn học này.
Đọc là một hoạt động văn hóa đặc trưng của con người để tiếp nhận và
truyền thông tin, làm giàu vốn hiểu biết của mỗi cá nhân để góp phần làm
hoàn thiện nhân cách và tạo ra các mối liên kết xã hội giữa cá nhân này với cá

13


nhân khác, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác. Nó góp phần thúc đẩy sự
phát triển của xã hội. Hướng tới văn minh và những điều tốt đẹp hơn.
Về mặt hình thức: tùy vào mục đích của người đọc mà ta phân chia ra
thành các hình thức đọc khác nhau. Có một số hình thức chủ yếu sau:
+ Chuyển các kí hiệu (chữ viết), bao gồm các hình thức khác nhau
(thành tín hiệu), có thể là tín hiệu âm thanh, các tín hiệu thần kinh
+ Chuyển các kí hiệu chữ viết thành các tín hiệu âm thanh để truyền đi

hàm ẩn cũng như thấy được vai trò tác dụng của các hình thức biện pháp nghệ
thuật ngôn từ, các giá trị của các hình tượng nghệ thuật. Đọc – hiểu là hoạt
động giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện. Học sinh tự khám phá cái hay
cái đẹp của văn bản theo ý mình, tập trung khai thác vẻ đẹp nội dung qua hình
thức văn bản.
1.2.2.2 Vai trò chức năng của đọc hiểu
Đọc là một hoạt động của con người dùng mắt để nhận biết các kí hiệu
và chữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc
được và sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người
nghe. Phải đọc đúng, đọc chuẩn về mặt chính âm, ngắt nghỉ đúng chỗ, đọc
đúng giọng điệu. Còn hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật,
hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó. Hiểu còn là sự
bao quát hết nội dung và có thể vận dụng và đời sống.
Trong dạy học Ngữ văn hiện nay, đọc – hiểu là một khâu quan trọng để
phát hiện ra cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn chương. Thông qua việc đọc
hiểu, học sinh sẽ được cung cấp các tri thức về con người, đời sống xã hội,
bởi thông tin trong các văn bản vô cùng phong phú và đa dạng. Nhận thức
được thế giới, cuộc sống của con người sẽ giúp học sinh nhận thức được bản
thân mình, các em sẽ hiểu và biết được mình cần phải làm gì và làm như thế
nào để sống tốt và khiến cuộc sống có ý nghĩa hơn. Như vậy đọc – hiểu là một

15


phương thức giáo dục đạo đức và thẩm mĩ góp phần hoàn thiện nhân cách học
sinh. Bên cạnh đó hoạt động đọc – hiểu còn rèn luyện tính chủ động, sáng tạo
và năng lực làm văn. Như vậy đọc – hiểu trở thành một yêu cầu bắt buộc để
tiếp nhận tác phẩm văn chương, đồng thời nó có vai trò vô cùng quan trọng
trong hoạt động dạy và học Ngữ văn theo tinh thần đổi mới.
1.3 Những đặc trưng của thể tùy bút

của cá nhân người nghệ sĩ, chứ không chỉ riêng tùy bút. Tuy nhiên, với thể
loại tùy bút người nghệ sĩ phải lưu trữ nguồn cảm xúc mãnh liệt thì mới có thể
thăng hoa trong quá trình sáng tác. Một cách hiểu không thỏa đáng về khái
niệm tùy bút sẽ dẫn đến lẫn lộn về lối viết tự do, phóng khoáng với lối viết lan
man, tản mạn, bịa đặt tùy tiện. Bởi vì: những sự việc, những con người trong
tùy bút tuy có thể không kết thành một hệ thống theo một cốt truyện, hay một
tư duy lí luận chặt chẽ, nhưng tất cả vẫn phải tuân thủ trật tự của dòng cảm
xúc, cái logic bên trong của cảm hứng tác giả. Và tất nhiên sự việc được kể
lọc qua cách nhìn của chủ thể thẩm mĩ vẫn phải chân thật.
Nét nổi bật của tùy bút là thông qua việc ghi chép những con người và
những việc cụ thể, những con người có thực, tác giả tùy bút chú ý việc bộc lộ
cảm xúc, suy tư và nhận thức, đánh giá của mình về con người và cuộc đời.
Được gọi là tùy bút, là những tác phẩm mà ở đó nổi lên trên bình diện thứ
nhất những phẩm chất riêng, cốt cách riêng của tác giả. Chỉ những người
muốn làm rõ cái giọng điệu riêng biệt của mình, những người thích tự phân
tích, đồng thời những bút pháp vừa giàu chất hình tượng, vừa có khả năng
viết chặt chẽ như châm ngôn.. Những người đó mới chọn thể loại tùy bút.
So với các thể loại khác, đội ngũ sáng tác tùy bút cực kì khiêm tốn.
Trong văn học Việt Nam trước Cách mạng đến nay, số lượng nhà văn thành
công ở thể tùy bút không nhiều. Nhưng rõ ràng, với tư cách là một thể loại
văn chương, tùy bút đã có quá trình hình thành và phát triển, kế thừa và cách
tân, với những đặc trưng nghệ thuật chịu ảnh hưởng sâu sắc của cả phương

17


Đông và phương Tây. Còn có thể hiểu tùy bút như là một bút pháp tự do,
phóng túng, tài hoa, không thuộc sở hữu riêng của sáng tác văn chương. Cách
hiểu này không phổ biến và chỉ có ý nghĩa gợi mở thêm hướng nghiên cứu.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status