TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
VŨ KIM ANH
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN
“CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” CỦA
NGUYỄN MINH CHÂU (NGỮ VĂN 12)
THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
ThS. VŨ NGỌC DOANH
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt
tình và chu đáo từ tất cả các thầy cô trong khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, sự hướng dẫn của các thầy cô trong tổ phương pháp dạy học Ngữ văn;
đặc biệt là sự ủng hộ, góp ý của ThS. Vũ Ngọc Doanh - người hướng dẫn trực tiếp.
Tác giả khóa luận xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và lời cảm ơn trân
trọng nhất đến tất cả các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, đặc biệt là ThS. Vũ Ngọc
Doanh, người trực tiếp giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Hà Nội, tháng 4 năm 2017
Tác giả khóa luận
HS:
Học sinh
SGK:
Sách giáo khoa
SGV:
Sách giáo viên
THPT:
Trung học phổ thông
NMC:
Nguyễn Minh Châu
NXB GD:
Nhà xuất bản Giáo dục
VHVN:
Văn học Việt Nam
PPDH:
1.4.3. Quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu
sau 1975.....................................................................................................................22
Chương 2. XÂY DỰNG QUY TRÌNH DẠY HỌC ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN MINH CHÂU Ở TRƯỜNG THPT THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP ..27
2.1. Dạy đọc hiểu văn bản văn học nói chung ..........................................................27
2.2. Dạy học đọc hiểu tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu theo
quan điểm tích hợp ....................................................................................................29
2.2.1. Tích hợp với kiến thức trong môn học ............................................................29
2.2.2. Tích hợp với kiến thức liên môn .....................................................................31
2.2.3. Tích hợp với kiến thức thực tế ngoài đời sống ..............................................36
Chương 3. GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM ...................................................................38
KẾT LUẬN ...............................................................................................................59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Xuất phát từ thực tiễn, các môn học nói chung đều có sự thay đổi lớn, riêng bộ
môn Văn học - Tiếng việt - Tập làm văn được hợp nhất thành môn học Ngữ văn
trong quyển sách Ngữ văn. Chương trình được xây dựng trên quan điểm tích hợp từ
3 phân môn.
Ngữ văn là một môn học có sự tích hợp nhiều: từ sự hợp lực của 3 phân môn,
từ kiến thức của các môn học khác, kiến thức cuộc sống xã hội, các tri thức kĩ năng,
phương pháp giảng dạy, kinh nghiệm thực tiễn...
Tích hợp là nội dung quan trọng không thể thiếu trong việc đổi mới phương
pháp giảng dạy trong nhà trường hiện nay. Vì vậy đòi hỏi người dạy phải linh hoạt
vận dụng các biện pháp, thao tác, kĩ năng để giảng dạy tốt.
Để làm rõ hơn phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp và giúp nhận
cho HS cách diễn đạt giản dị, trong sáng, chính xác, lập luận chặt chẽ, có suy nghĩ
độc lập. Đó cũng có thể là sự tích hợp những hiểu biết về lịch sử, văn hóa, xã hội,
đạo đức, lối sống để đánh giá, lý giải một hiện tượng văn học, một chi tiết nghệ
thuật hay để đề xuất một thái độ, một quan điểm sống... Như vậy có thể thấy, phạm
vi tích hợp trong giờ dạy Ngữ văn rất phong phú: Có thể tích hợp nội môn (giữa ba
phân môn Văn - Tiếng Việt - Làm văn hay giữa những bài học có cùng chủ đề). Có
thể tích hợp liên môn như: tích hợp Văn - Lịch sử (tích hợp mở rộng theo hướng
vận dụng những kiến thức về hoàn cảnh lịch sử của từng thời kỳ, về nhân vật lịch
sử... để lý giải và khai thác giá trị, thành công cũng như hạn chế của tác phẩm); tích
hợp Văn - Địa lý (tích hợp mở rộng theo hướng vận dụng kiến thức hiểu biết về các
địa danh để lý giải rõ một số chi tiết hình ảnh nghệ thuật ); tích hợp Văn - Âm nhạc
(hát, ngâm thơ, diễn kịch); tích hợp Văn - Mỹ thuật (khi dạy học một tác phẩm văn
chương GV có thể cho học sinh vẽ tranh minh họa).
3. Mục đích nghiên cứu
Bước đầu đề ra hướng đi mới trong dạy học nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới
và phù hợp với thực tiễn trong công cuộc cải cách xã hội.
Bước đầu đề xuất phương pháp vận dụng một cách hiệu quả quan điểm tích
hợp văn bản Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu những cơ sở lí luận của việc dạy học đọc hiểu tác phẩm văn chương
theo quan điểm tích hợp từ đó xây dựng quy trình đọc hiểu tác phẩm “Chiếc thuyền
ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu (SGK Ngữ Văn 12 tập 2, NXB GD).
4
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quan điểm tích hợp và tích hợp trong dạy họ Ngữ văn.
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào hoạt động đọc hiểu tác phẩm Chiếc thuyền
ngoài xa của Nguyễn Minh Châu trong chương trình Ngữ văn lớp 12.
ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho HS nhằm phục vụ cho quá trình học
trong tương lai, hoặc hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động”.
Trong lĩnh vực khoa học giáo dục: “Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ,
có hệ thống các kiến thức thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống
nhất, dựa trên cơ sở các mối quan hệ lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn
học đó”.
Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có
hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học
khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên
cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học
hoặc các hợp phần của bộ môn đó. Trong chương trình THPT, môn Ngữ văn, năm
2002 của Bộ GD&ĐT, khái niệm tích hợp cũng được hiểu là “sự phối hợp các tri
thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác
động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và
vững chắc".
6
Các định nghĩa trên đã nêu rõ được mục đích của việc dạy học tích hợp là phát
triển năng lưc của người học. Đồng thời cũng nêu rõ các thành phần tham gia tích
hợp là loại tri thức hoặc các thành tố của quá trình dạy học.
Như thế có thể định nghĩa dạy học tích hợp là “quá trình dạy học mà ở đó các
thành phần năng lực được tích hợp với nhau trên cơ sở các tình huống cụ thể trong
đời sống để hình thành năng lực của người học”.
1.2. Một số đặc trưng dạy học tích hợp
1.2.1. Mục tiêu của dạy học tích hợp
Đề ra hướng giải quyết các vấn đề gặp phải trong quá trình giáo dục nói
chung và trong dạy học môn Ngữ văn nói riêng. Góp phần giúp HS tích hợp các
kiến thức và kĩ năng đã lĩnh hội, xác lập mối liên hệ giữa các tri thức và kĩ năng
1.2.3. Thực tế vận dụng quan điểm dạy học tích hợp trong dạy học Ngữ văn
Dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các
phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn cũng như các bộ phận tri thức khác như
hiểu biết lịch sử, xã hội, văn hoá, nghệ thuật... mà còn xuất phát từ đòi hỏi thực tế là
cần phải khắc phục xoá bỏ lối dạy học theo kiểu khép kín, tách biệt thế giới nhà
trường và thế giới cuộc sống, cô lập giữa những kiến thức và kĩ năng vốn có liên hệ
bổ sung cho nhau, tách rời kiến thức với các tình huống có ý nghĩa những tình
huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này. Nói khác đi đó là lối dạy học khép kín “trong
nội bộ phân môn” biệt lập các bộ phận Văn học, Tiếng Việt và Làm văn vốn có
quan hệ gần gũi về bản chất nội dung và kĩ năng cũng như mục tiêu đủ cho phép
phối hợp liên kết nhằm tạo ra những đóng góp bổ sung cho nhau cả về lí luận và
thực tiễn đem lại kết quả tổng hợp và vững chắc trong việc giải quyết những tình
huống tích hợp hoặc những vấn đề thuộc từng phân môn.
Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn là cách thức để khắc
phục hạn chế lối dạy học đó nhằm nâng cao năng lực sử dụng những kiến thức và kĩ
năng mà HS lĩnh hội được bảo đảm cho mỗi HS khả năng huy động có hiệu quả
những kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết những tình huống có ý nghĩa
(cũng có khi là một tình huống khó khăn bất ngờ một tình huống chưa từng gặp).
Mặt khác tránh được những nội dung kiến thức và kĩ năng trùng lặp, đồng thời lĩnh
8
hội những nội dung tri thức và năng lực mà mỗi môn học hay phân môn riêng rẽ
không có được.
1.2.4. Các biện pháp vận dụng dạy học tích hợp
Trong quá trình lên lớp GV có thể dạy học tích hợp theo nhiều cách khác
nhau. Việc lưa chọn cách thức nào là tùy thuộc vào nội dung cụ thể của từng phân
môn và từng bài học. Chẳng hạn:
- Tích hợp thông qua việc kiểm tra bài cũ: Kiểm tra bài cũ là bước đầu tiên
- Tích hợp thông qua nội dung từng phần hay tổng kết giờ học: Đây là hình
thức tích hợp thông qua lời thuyết giảng của GV, vừa có ý nghĩa khái quát lại vấn
đề, vừa có ý nghĩa mở rộng, nâng cao kiến thức. GV có thể tích hợp dưới dạng liên
hệ, so sánh đối chiếu các văn bản cùng thể loại, chủ đề để rút ra nhận xét hoặc yêu
cầu học sinh tự rút ra nhận xét của bản thân về vấn đề đó (nét giống, khác, sự đóng
góp mới mẻ của nhà văn…).
- Tích hợp thông qua hệ thống bài tập: Đây là điều kiện thuận lợi nhất để GV
tiến hành phương pháp tích hợp sau khi kết thúc một bài học, giúp HS nắm chắc
kiến thức ấy để tích hợp trong việc rèn luyện kỹ năng : nghe, đọc, nói, viết.
- Tích hợp thông qua hình thức kiểm tra: Chương trình Ngữ văn được xây
dựng theo tinh thần tích hợp vì thế khi ôn tập và tiến hành kiểm tra GV cần giúp HS
nắm chắc các vấn đề. Các kiến thức về Văn, tiếng Việt, Tập làm văn đều cùng dựa
vào một văn bản chung (hoặc nhiều văn bản cùng thể loại) để khai thác và hình
thành. Vì thế, khi hướng dẫn học sinh ôn tập GV cần lưu ý HS không nên học tủ,
học lệch mà phải học toàn diện, đầy đủ. GV cần lưu ý xây dựng đề kiểm tra 15 phút,
1 tiết, học kỳ theo yêu cầu tích hợp. Hệ thống câu hỏi, đề kiểm tra phải hướng vào
việc phát triển năng lực người học theo bốn cấp độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng
thấp, vận dụng cao.
- Tích hợp gắn với đời sống xã hội, rèn kỹ năng sống cho HS: Đây là một hoạt
động không thể thiếu trong giờ đọc - hiểu văn bản bởi môn Văn trong nhà trường
vừa là một môn khoa học vừa là môn học mang tính xã hội nhân văn sâu sắc. Nếu
biết vận dụng một cách khéo léo, nhuần nhuyễn, tự nhiên kiến thức liên môn, giáo
viên không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức xã hội mà còn tác động mạnh mẽ
đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của học sinh. Từ đó, có thể định hướng thái độ
10
sống, rèn kỹ năng sống cho các em một cách hiệu quả, giúp các em biết ứng xử văn
minh, trở thành người công dân tốt.
trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người. Vì thế, trong truyện
ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp. Nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là
một thế giới thì mỗi nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới ấy. Có
nghĩa truyện ngắn thường không nhắm tới việc khắc họa những tính cách điển hình
đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh. Nhân vật của truyện ngắn
thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái
tồn tại của con người. Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời
gian, không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu
sắc về cuộc đời và tình người. Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều
tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên
tưởng. Bút pháp trần thuật của truyện ngắn thường là chấm phá. Yếu tố quan trọng
bậc nhất trong truyện ngắn là những chi tiết cô đọng, có dung lượng lớn và lối hành
văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết.
Ở phương Tây (Âu, Mỹ), thể loại truyện ngắn ra đời tương đối muộn so với
các thể loại khác, nó xuất hiện trên một tạp chí xuất bản đầu thế kỷ XIX, phát triển
lên đến đỉnh cao nhờ những sáng tác xuất sắc của văn hào E.T.A. Hoffmann và
Anton Chekhov, sau đó trở thành một hình thức nghệ thuật lớn của văn học thế kỷ
XX.
Ở Trung Quốc và Nhật Bản, trước đây người ta vẫn coi truyện ngắn thuộc thể
loại tiểu thuyết, được gọi là “tiểu thuyết đoản thiên” để phân biệt với loại tiểu thuyết
chương hồi dài tập hay “tiểu thuyết trường thiên”.
Ở Việt Nam, truyện ngắn đầu tiên xuất hiện trên văn đàn là “Sống chết mặc
bay!” của Phạm Duy Tốn (1881-1924), là nhà văn xã hội tiên phong của nền văn
học mới Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX. Trước khi trở thành một nhà văn, nhà báo,
ông từng là thông ngôn ở tòa Thống sứ Bắc Kỳ. Truyện ngắn “Sống chết mặc bay!”
của ông được coi là truyện ngắn đầu tiên theo lối Tây phương của văn học Việt
Nam.
12
và sâu sắc từ nhà văn đến công chúng, từ bản chất văn học đến tư cách nghệ sĩ, từ tư
13
tưởng đến thi pháp. Nhận diện những đổi mới ấy dưới góc độ thi pháp sẽ giúp giáo
viên dễ dàng hơn trong việc tiếp cận những văn bản mới trong chương trình. Tiếp
cận truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa dưới góc nhìn thi pháp sẽ giúp chúng ta hiểu
sâu hơn về văn học giai đoạn này.
1.3.3. Vấn đề dạy học truyện ngắn sau 1975 ở trường phổ thông
Ta biết rằng, sau 1975, văn học đã có bước chuyển mình quan trọng:
- Khuynh hướng sử thi, lãng mạn giảm dần, thay vào đó là cảm hứng thế sự.
Việc thay thế cảm hứng sử thi bằng cảm hứng thế sự là một sự đổi mới hết sức căn
bản trong văn học. Nó kéo theo sự thay đổi nhiều phương diện. Có thể thấy rõ điều
này qua truyện ngắn sau 1975 có mặt trong chương trình Ngữ văn 12 mà chúng ta
đang đề cập đến. Nếu ở Một người Hà Nội là những ngày tháng tiếp quản thủ đô
sau chiến thắng Điện Biên Phủ thì ở Chiếc thuyền ngoài xa, đó là sau năm 1975, đất
nước thống nhất, chấm dứt ba mươi năm chiến tranh tàn khốc. Trên cái nền thực tại
ấy, vấn đề được đặt ra không còn là số phận của dân tộc, của cộng đồng trong thử
thách máu lửa, trong đấu tranh sinh tử, mất còn, mà là thân phận con người trong
cuộc sống đời thường. Nó trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn, chi phối
mọi phương diện của tác phẩm. Nói cách khác, quan niệm của nhà văn về hiện thực
và cách miêu tả hiện thực trong văn học đã có những đổi khác.
Ví dụ: Đọc Chiếc thuyền ngoài xa, ta hoàn toàn có thể hình dung bối cảnh
cuộc sống được tác giả dựng lên để làm nền cho sự xuất hiện của các nhân vật.
Ngoài bối cảnh chung của lịch sử xã hội như đã nêu trên (hiện thực sau chiến tranh),
độc giả còn được tiếp xúc với các những mảnh đời cụ thể ở một vùng đất cụ thể. Đó
là một xóm chài ven biển miền Trung, nơi mỗi gia đình cư ngụ trên một chiếc
thuyền lưới vó. Không thể tìm thấy ở đây những bức tranh cuộc sống được vẽ lên
bởi niềm lạc quan, tin tưởng, bởi dự cảm về một tương lai tươi sáng như những
học trước 1975 thường có xu hướng đơn nhất, thống nhất về ý nghĩa, thì tính mơ hồ,
đa nghĩa lại là đặc điểm khá nổi bật của các tác phẩm văn học đổi mới. Ở đây, kiểu
cắt nghĩa giản đơn, một chiều, sự độc quyền chân lí không còn chỗ đứng. Ngược lại,
nó mời gọi nhiều lối tiếp cận, nhiều cách đọc, cách diễn dịch khác nhau. Tính chất
"mở" thể hiện trước hết ở những nghịch lí mà nhà văn miêu tả trong tác phẩm.
Những quan hệ nhân - quả hợp lí giữa các sự kiện như thường thấy trong văn học
15
trước đây đã bị thay thế bằng những quan hệ bất thường, thách đố sự biện giải lí
tính.
Ví dụ: Khi đọc Chiếc thuyền ngoài xa, thật khó hiểu được do đâu mà người
đàn ông làng chài lại có hành động tàn nhẫn đến mức kì quái như thế với vợ. Nó
không diễn ra theo kiểu bột phát, tức thì hoặc như một thứ phản xạ bản năng thường
thấy ở những kẻ vũ phu. Người chồng ở đây có những biểu hiện thật dị thường. Hắn
đủ kiên nhẫn đi theo vợ đến một quãng xa con thuyền rồi mới ra tay. Đánh vợ mà
như báo thù, như một kiểu "thi hành án". Đánh vợ mà cứ đều đặn "ba ngày một trận
nhẹ, năm ngày một trận nặng" như đã được lên lịch sẵn. Lạ hơn, đó là kiểu đánh mà
hắn đã "gia ơn" cho vợ khi chị ta xin hắn không phải chịu đòn trên thuyền, trước
mặt đàn con. Có một cái gì thật quái đản, rất khó lí giải, cũng như không thể biện
minh bằng bất cứ lí do gì.
Nếu sự hung hãn, vũ phu của người chồng là điều cực kì khó hiểu, thì sự cam
chịu, nhẫn nhục của người vợ cũng không dễ lí giải hơn. Dù bị chồng xúc phạm
nặng nề, đánh đập tàn nhẫn, người đàn bà ấy vẫn lặng lẽ chấp nhận như một kiểu
"chịu nạn". Hơn thế, khi tòa cho rằng, trường hợp này không thể hòa giải, chỉ có
một giải pháp "tối ưu" là chị phải từ bỏ người đàn ông độc ác ấy, những tưởng chị
sẽ cảm thấy nhẹ người, nào ngờ chị ta bỗng hốt hoảng. Chứng kiến những điều lạ
lùng ấy, Đẩu và Phùng đồng thanh thốt lên: "Không thể nào hiểu được!". Có lẽ đó
cũng là phản ứng, thái độ của số đông độc giả trước cảnh ngộ của người đàn bà làng
đúng.
- Kiểu nhân vật kể chuyện: Kiểu nhân vật kể chuyện dễ gây cảm giác về tính
xác thực, tính khả tín của câu chuyện.
Ví dụ: Ở trong Chiếc thuyền ngoài xa chuyện về gia đình làng chài được kể
bằng lời của Phùng - người chứng kiến gây cho ta cảm giác câu chuyện rất đáng tin,
là câu chuyện có thật mà Phùng đã chứng kiến và kể lại.
1.4. Đặc sắc truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
1.4.1. Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu sinh ngày 23 tháng 10 năm 1930 tại huyện Quỳnh Lưu,
tỉnh Nghệ An. Đầu năm 1950, khi đang là học sinh chuyên khoa trường Huỳnh
Thúc Kháng ở Nghệ An, Nguyễn Minh Châu tình nguyện vào quân đội. Năm 1959,
Nguyễn Minh Châu đi dự hội nghị bạn viết toàn quân. Năm 1960, ông được điều
17
động về cục Văn hóa quân đội, rồi về tạp chí Văn nghệ quân đội vừa làm biên tập
vừa làm phóng viên. Trong thời gian này, Nguyễn Minh Châu bắt đầu viết văn và
cho in những truyện ngắn đầu tay nhưng chưa được dư luận quan tâm. Sự nghiệp
văn học của Nguyễn Minh Châu chỉ được khẳng định trong thời kì kháng chiến
chống Mỹ với hai cuốn tiểu thuyết Cửa sông (1966), Dấu chân người lính (1972) và
tập truyện ngắn Những vùng trời khác nhau (1970). Nhà văn đã phản ánh kịp thời
những hình ảnh sinh động của cuộc chiến đấu và hình tượng cao đẹp của những con
người Việt Nam thuộc nhiều thế hệ, đồng thời, ông cũng có phát hiện và suy ngẫm
về nhiều vấn đề của đời sống xã hội và số phận con người trong chiến tranh. Ngay
sau năm 1975, Nguyễn Minh Châu đã sớm nhận ra những hạn chế của nền văn học
thời chiến tranh và dũng cảm tìm kiếm con đường đổi mới sáng tác của chính mình.
Hai cuốn tiểu thuyết xuất bản năm 1977: Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà đã đem
lại một sắc diện mới trong sáng tác của nhà văn. Những truyện ngắn của Nguyễn
Minh Châu ra mắt bạn đọc ở nửa đầu những năm 1980 thực sự là những tìm tòi
đang hối hả chuyển sang thời chiến” bởi như thế là ích kỉ, là coi trọng hạnh phúc cá
nhân. Những người lính trong Dấu chân người lính (1972) đã xác định được trách
nhiệm cao cả của thế hệ mình trước tiếng gọi thiêng liêng của non sông. Khuê chiến sĩ cần vụ của chính ủy trung đoàn 5, rất quen thuộc, gắn bó với những khu
rừng ngày đêm dội vang những trận bom, những cuộc chuyển quân trong tầm súng
của địch. Khung cảnh bề bộn, dựng lửa của chiến trường “trước đây vài tháng, khi
anh còn mài gót giày trên những chặng đường đi dài dằng dặc của núi Trường Sơn,
anh như đã trông thấy, hình như nó đang vẫy gọi, đang giục giã anh và đồng đội của
anh bằng tất cả sức mạnh quyến rũ không thể nào lường được”.
Không chỉ sống có lí tưởng và nhận thức được vai trò của mình trong cộng
đồng, con người của văn học kháng chiến chống Mĩ còn thể hiện lí tưởng và nhận
thức ấy thành hành động, ý chí. Các nhân vật của Nguyễn Minh Châu thường được
đặt trong những hoàn cảnh thử thách ngặt nghèo, trước những tình huống phải lựa
chọn giữa sống và chết để “càng làm kiên định ý chí cách mạng và bộc lộ sáng chói
chủ nghĩa anh hùng” (Nguyễn Văn Long). Nguyệt - cô gái đi nhờ xe trong Mảnh
trăng cuối rừng (1970), đã để cả quần áo nhanh nhẹn lội phăng sang bên kia bờ giúp
Lãm cột dây tời vào một gốc cây, đã nấp ở mé ngoài để che chở cho Lãm vì “Anh
19