BUỔI THẢO LUẬN THỨ 5: QUAN HỆ GIỮA CHA MẸ VÀ CON CÁI.
------------------------------------I. Nhận định đúng/sai, giải thích trên cơ sở pháp lí:
1. Con có quyền định đoạt mọi loại tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.
Nhận định này là sai.
Căn cứ vào khoản 2, Điều 77, Luật Hôn nhân gia đình 2014 về Định đoạt tài sản riêng
của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự:
“2. Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp
tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài
sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ”.
Theo quy định trên nếu con từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi muốn định đoạt tài sản là bất
động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh
doanh thì phải có sự đồng ý băng văn bản của cha, mẹ hoặc người giám hộ. Tức là đối
với các loại tài sản nêu trên con không được tự ý định đoạt mà phải có sự đồng ý của bố,
mẹ hoặc người giám hộ.
2. Cha mẹ luôn là người đại diện theo pháp luật cho con chưa thành niên nếu cha mẹ có
năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
Nhận định này là sai.
Căn cứ vào khoản 1, Điều 73, Luật Hôn nhân gia đình 2014 về Đại diện cho con
“1. Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành
niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc
có người khác đại diện theo pháp luật”.
Theo quy định trên, ngoài cha mẹ là đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên thì
người đại diện theo pháp luật cho con còn là người khác làm giám hộ hoặc có người khác
đại diện theo pháp luật.
3. Cha, mẹ chỉ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi không chung sống cùng với con.
Nhận định này là đúng.
1
Căn cứ vào khoản 24, Điều 3, Luật Hôn nhân gia đình 2014:
“24. Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp
dượng, mẹ kế và con riêng của vợ hoặc của chồng:
“1. Cha dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
con riêng của bên kia cùng sống chung với mình theo quy định tại các điều 69, 71 và 72
của Luật này”.
Dựa vào quy định trên thì cha dượng, mẹ kế với con riêng của một bên chỉ phát sinh các
quyền và nghĩa vụ theo Điều 69, Điều 71, Điều 72. Cha dượng, mẹ kế không có nghĩa vụ
làm người đại diện cho con, bồi thường thiệt hại do con gây ra. Và cha dượng, mẹ kế
cũng không có quyền có tài sản riêng của con,… Vì vậy, cha dượng, mẹ kế với con riêng
của một bên chỉ phát sinh một số các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con nếu họ sống
chung với nhau theo Điều 69, Điều 71, Điều 72.
6. Vợ, chồng không thể tiến hành nhận nuôi con nuôi nếu bên còn lại không đồng ý.
Nhận định này là
7. Việc tiến hành nhận nuôi con nuôi có thể chỉ do một bên vợ, chồng thực hiện trong
thời kỳ hôn nhân.
Nhận định này là
8. Người không có khả năng kinh tế, sức khoẻ không được nhận nuôi con nuôi.
Nhận định này là đúng.
Căn cứ vào điểm c, khoản 1 và khoản 3, Điều 14, Luật Nuôi con nuôi 2010 về Điều
kiện đối với người nhận con nuôi:
“1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:
c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục con nuôi;”
3
3. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm
con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy
định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này”.
Điều kiện về sức khoẻ và điều kiện về kinh tế là điều kiện bắt buộc đối với người nhận
đó.
Tuy nhiên, đối với trẻ dưới 9 tuổi thì không cần sự đồng ý của trẻ em đó khi xác lập
quan hệ nhận nuôi con nuôi. Do đó, không phải mọi trường hợp, quan hệ nhận nuôi con
nuôi chỉ được xác lập khi có sự đồng ý của trẻ được nhận làm con nuôi.
II. Bài tập tình huống:
Bài tập 1:
Anh Nam và chị Nữ ly hôn vào ngày 10/10/2015. Sau đó, đến ngày 6/12/2015 thì chị
Nữ kết hôn với anh Trung và ngày 11/5/2016 thì chị Nữ sinh một bé trai.
Căn cứ vào khoản 1, Điều 88, Luật Hôn nhân gia đình 2014 về Xác định cha, mẹ:
“1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân
là con chung của vợ chồng.
Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi
là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ
chồng.
2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được
Tòa án xác định”.
Theo quy định tại khoản 1, con do chị Nữ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị với
anh Trung nên anh Trung sẽ là cha đứa bé, nhưng nếu anh Trung không thừa nhận đây là
con mình thì có bằng chứng chứng minh và phải được Toà án xác định (khoản 2). Nếu
anh Trung chứng minh được và được Toà án xác định đứa bé không là con mình thì đứa
bé sẽ được xác định là con của anh Nam. Bởi anh Nam và chị Nữ ly hôn ngày 10/10/2015
đến ngày 11/5/2016 thì chị Nữ sinh một bé trai nên đứa bé này được sinh ra trong thời
gian không quá 300 ngày kể từ ngày anh Nam và chị Nữ ly hôn. Vì vậy, đây được xác
5
định là trường hợp mang thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng sinh ra khi hôn nhân chấm
dứt, theo khoản 1, Điều 88 thì anh Nam sẽ là cha của đứa bé.
Bài tập 2:
Đối với quyền lợi của riêng chị A, do việc chung sống giữa chị và ông L khi ông L đang
có vợ đã vi phạm điểm c khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ 2014 nên không được pháp luật
công nhận → ông L và chị A không phát sinh quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và
chồng.
III. Tìm hiểu bản án:
1. Đọc bản án số (11) và xác định những chủ thể phản đối việc xác định quan hệ mẹ con, những chủ thể này có mối quan hệ gì với người được xác định là mẹ. Từ nội dung
bản án xác định thế nào là tranh chấp trong việc xác định quan hệ cha mẹ - con.
Những chủ thể phán đối việc xác định quan hệ mẹ con là ông Nguyến Văn Minh,
Nguyễn Văn Út và bà Nguyễn Thị Bé. Những chủ thể này là con của người được xác
định là mẹ.
Tranh chấp trong quan hệ xác định cha mẹ con ở đây là việc bà Bông yêu cầu xác định
bà là con của bà Thêm vì bị đơn là ông Minh, ông Út và bà Bé là con của bà Thêm không
thừa nhận.
Tranh chấp trong việc xác định quan hệ cha mẹ - con là: việc người cha, mẹ không chịu
thừa nhận con của mình, hoặc cũng có thể vì một lí do đặc biệt nào đó bị thất lạc nhau,
sau đó họ muốn nhận lại nhau hay do hoàn cảnh mà chưa làm giấy khai sinh nên họ muốn
làm lại, nhưng lại bị sự phản đối của các chủ thể có mối quan hệ với người được xác định
là cha, mẹ như các con của cha, mẹ,…
2. Đọc bản án số (9) và xác định nội dung của vụ việc (tranh chấp xác định cha cho con
hay xác định con cho cha). Việc xác định quan hệ cha – con được thực hiện dựa trên căn
cứ nào?
Nội dung của vụ việc: Tranh chấp xác định con cho cha.
(Vì ông Phu Phát có yêu cầu xác định ông là cha đẻ của trẻ Đoàn Phu Kỳ Duyên).
7
Việc xác định quan hệ cha-con được thực hiện dựa trên các căn cứ:
- Căn cứ kết quả xác minh tại Công văn số 5329/QLXNC-DD4 ngày 15/07/2015 của
Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh – Công an Thành phố Hồ Chí Minh, thì vào khoảng năm
2005 – 2006 ông Phu Phát có nhập cảnh Việt Nam điều này phù hợp với lời khai của ông
căn cứ chứng minh.
Việc Tòa án buộc anh phải đi giám định ADN, nếu anh cố tình không thực hiện thì mặc
nhiên công nhận nhằm tránh trường hợp anh Văn có thể là cha đứa bé nhưng trốn tránh
thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, đảm bảo quyền lợi cho đứa bé.
9