Thảo luận luật lao động 5 THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI VÀ TIỀN LƯƠNG - Pdf 44

THỜI GIỜ LÀM VIỆC, THỜI GIỜ NGHỈ NGƠI VÀ TIỀN LƯƠNG
____________________
Tình huống 1
Quy định tại Điều x của Nội quy công ty:
* Thời gian làm việc theo ca:
- Đối với thời gian làm việc ca ngày:
Căn cứ vào Khoản 2, Điều 104, BLLĐ 2012 về Thời giờ làm việc bình thường:
“2. Người sử dụng lao động có quyền quy định làm việc theo giờ hoặc ngày hoặc
tuần; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong
01 ngày, nhưng không quá 48 giờ trong 01 tuần”.
Quy định tại Điều x của nội quy lao động thì thời gian làm việc của công ty là thời
gian làm việc theo tuần. Thời gian làm ca ngày từ 6h đến 18h, tức thời gian làm việc
ca ngày là 12 giờ trong một ngày, đã vượt quá 10 giờ trong một ngày đối với người lao
động làm việc trong điều kiện bình thường theo quy định của Khoản 2, Điều 104. Do
đó, quy định này của công ty là không hợp phù hợp nên Công ty phải giảm số giờ làm
việc ca ngày xuống dưới 10 giờ trong một ngày, tức từ 6h đến 16h (hoặc ít hơn) đối
với người lao động làm việc trong điều kiện bình thường.
Căn cứ vào Khoản 1 và Khoản 3, Điều 108, BLLĐ 2012 về Nghỉ trong giờ làm
việc:
“3. Ngoài thời gian nghỉ giữa giờ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người
sử dụng lao động quy định thời điểm các đợt nghỉ ngắn và ghi vào nội quy lao động”.
Theo Điều x của nội quy lao động, công ty chỉ đề cập đến thời gian nghỉ giải lao
mà không đề cập đến thời gian nghỉ giữa ca, điều này là không phù hợp với quy định
của pháp luật. Do vậy, công ty nên bổ sung thêm thời gian nghỉ giữa ca hoặc điều
chỉnh lại thời gian giải lao và thời gian nghỉ giữa ca cho phù hợp.
- Đối với thời gian làm việc ban đêm:
Theo Điều 105, BLLĐ 2012 về Giờ làm việc ban đêm:
“Giờ làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau”.
1





Căn cứ vào Điểm b, Khoản 2, Điều 106, BLLĐ về Làm thêm giờ:
“b) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc
bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng
số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày;
không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một
số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300
giờ trong 01 năm;”
Điều x + 1 cũng có quy định thêm: “Đối với công nhân làm việc theo ca, thời giờ
làm thêm giờ có thể bao gồm các ca làm thêm có độ dài lên đến 12 giờ với điều kiện
là công nhân sẽ không bị yêu cầu làm thêm quá 2 ca trong một tuần …”, quy định này
là bất hợp lí với quy định trên. Công ty quy định công nhân làm thêm không quá 2 ca
trong một tuần, do vậy một tháng công nhân không làm quá 8 ca mà một ca làm thêm
có độ dài đến 12 giờ nên trong một tháng công nhân phải làm thêm không quá 96 giờ.
Quy định như vậy không đáp ứng được điều kiện làm thêm không quá 30 giờ trong
một tháng của Điều 106.
Quy định tại Điều y của Nội quy lao động:
Tại Khoản 1, Điều y của Nội quy, lịch nghỉ hằng năm đối với “những lao động làm
việc có đủ 12 tháng làm việc trong một năm dương lịch”, việc quy định trên là không
thoả đáng cho những người lao động làm việc dưới 12 tháng. Do đó, công ty phải tính
thời gian nghỉ hằng năm của những người lao động dưới 12 tháng theo tỉ lệ tương ứng
với số thời gian làm việc theo quy định của Khoản 2, Điều 114, BLLĐ 2012 (hướng dẫn
tại Điều 7, NĐ 45/2013/NĐ-CP). Bên cạnh đó, công ty còn quy định thêm số ngày nghỉ
như sau:
Từ năm làm việc thứ nhất đến năm thứ ba
14 ngày làm việc
Từ năm làm việc thứ tư đến năm thứ bảy
16 ngày làm việc
Từ năm làm việc thứ tám trở lên

Khoản 1, Điều 104, BLLĐ 2012 về Thanh toán tiền lương những ngày chưa nghỉ:
“1. Người lao động do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác mà chưa
nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được thanh toán bằng
tiền những ngày chưa nghỉ”.
Như vậy, công ty phải thanh toán tiền đối với những ngày nghỉ hằng năm mà chưa
nghỉ của người lao động.
4


Tình huống 2
Theo anh/chị, Điều 4, 7, 9 của Nội quy lao động dưới dây có nội dung nào không
đúng với quy định pháp luật lao động hiện hành? Vì sao?
* Điều 4: Thời gian làm việc
Tại Điểm a, Khoản 1, Điều 4 của Nội quy lao động đã không quy định về thời gian
nghỉ trong giờ làm việc theo quy định của Khoản 1, Điều 108, BLLĐ:
“1. Người lao động làm việc liên tục 08 giờ hoặc 06 giờ theo quy định tại Điều 104
của Bộ luật này được nghỉ giữa giờ ít nhất 30 phút, tính vào thời giờ làm việc”.
Bên cạnh đó Điều 4 của Nội quy lao động có quy định thêm: “Riêng ngày thứ Bảy
làm việc theo khối lượng công việc đã được giao trong tuần chưa hoàn thành”. Quy
định này chưa hoàn toàn phù hợp với quy định tại Khoản 1, Điều 104, BLLĐ 2012 về
Thời giờ làm việc:
“1. Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và 48 giờ trong
01 tuần”.
Việc quy định thời gian làm việc vào ngày thứ bảy tuỳ thuộc vào khối lượng công
việc đã được giao trong tuần chưa hoàn thành là chưa hoàn toàn hợp lí theo quy định
trên. Do đó, công ty phải quy định thời gian làm việc của ngày thứ bảy là không được
quá 8 giờ đúng theo quy định tại Khoản 1, Điều 104 và theo Khoản 1, Điều 4, Nội quy
lao động của công ty.
Ngoài ra, công ty còn quy định thêm: “Công ty có quyền thay đổi giờ làm việc tuỳ
theo điều kiện hoạt động”. Quy định này là không phù hợp với pháp luật lao động.

thêm được hưởng ít nhất bằng 200% và làm thêm vào ngày nghỉ lễ, ngày nghỉ có
hưởng lương ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương
đối với người lao động hưởng lương ngày.
* Điều 9: Thời giờ nghỉ ngơi
Theo quy định tại Điều 112, BLLĐ 2012 về Ngày nghỉ hằng năm tăng thêm theo
thâm niên làm việc:

6


“Cứ 05 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm
của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 111 của Bộ luật này được tăng
thêm tương ứng 01 ngày”.
Quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 9 của Nội quy lao động thì Công ty đã gia hạn
số ngày được nghỉ phép hằng năm tăng theo thâm niên làm việc. Việc quy định này là
trái với quy định của pháp luật lao động, bởi theo Điều 112 thì không có quy định về
việc người sử dụng lao động gia hạn số ngày nghỉ phép hằng năm tăng theo thâm niên
làm việc của người lao động.
Tình huống 3
1. Anh/chị hãy đưa ra những lập luận, chứng cứ để bảo vệ quyền lợi cho nguyên
đơn/bị đơn.
* Bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn:
Qua lời khai của ông S và phía bên Cty, ta có thể thấy rằng so với hợp đồng ký vào
9/2014 thì việc công ty giao cho ông S công việc lái xe cho giám đốc đã làm thay đổi
thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của ông, từ đi làm 26 ngày/tháng, nghỉ 4 ngày
chủ nhật thì bây giờ ông không được nghỉ vào chủ nhật nữa. Đồng thời việc này cũng
làm giảm mức phụ cấp của ông từ 2.000.000/tháng xuống chỉ còn 1.500.000/tháng. Từ
đó cho thấy, so với hợp đồng lao động đã ký giữa hai bên thì thời giờ làm việc, thời
giờ nghỉ ngơi, mức phụ cấp thực tế đối với công việc lái xe cho giám đốc của ông S là
không phù hợp với hợp đồng.

Ngoài khoản tiền lương phải trả thì công ty còn phải trả thêm cho ông S một khoản
tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố
tại thời điểm trả lương.
Việc công ty không giao việc là nguyên nhân khiến ông S không làm việc được, tức
là bị ngừng công việc, nên theo khoản 1 Điều 98, BLLĐ 2012 về Tiền lương ngừng
việc thì ông S phải được trả đủ tiền lương:
“Trong trường hợp phải ngừng việc, người lao động được trả lương như sau:
1. Nếu do lỗi của người sử dụng lao động, thì người lao động được trả đủ tiền
lương;”
8


* Bảo vệ quyền lợi cho bị đơn:
Theo lời khai của nguyên đơn, nguyên đơn cho rằng mình có đi làm nhưng công ty
không giao việc, nhưng thực chất công ty đã giao việc cho ông với vị trí lái xe du lịch
nhưng ông chịu làm công việc này. Nên công ty không chấp nhận đồi thường cho ông
thắng hai tháng tiền lương nói trên.
Ngoài ra, công ty không có yêu cầu ông Thắng đi làm thêm vào 4 ngày chủ nhật và
ngày nghỉ lễ 10/3 ÂL như ông Thắng đã khai nên công ty không đồng ý trả tiền tăng
ca như yêu câu của ông. (làm thêm giờ là yêu cầu của người sử dụng lao động ở đây
việc tự ý làm thêm giờ xuất phát từ phía ông Thắng, công ty không có yêu cầu này).
2. Giả sử đến ngày 01/5/2015 hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động và
Công ty đồng ý thanh toán các khoản tiền theo yêu cầu của ông S. Anh/Chị hãy
xác định rõ mức tiền lương làm thêm giờ mà ông S có thể được hưởng theo đúng
quy định của pháp luật hiện hành?
Căn cứ vào Khoản 1, Điều 6 Thông tư số 23/2015/TT – BLĐTBXH về Tiền lương
làm thêm giờ:
“1. Đối với người lao động hưởng lương theo thời gian, được trả lương làm thêm
giờ khi làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường do người sử dụng lao động quy
định theo Điều 104 của Bộ luật lao động và được tính như sau:



Tình huống 4
Anh/chị hãy đưa ra những lập luận, chứng cứ để bảo vệ quyền lợi cho nguyên
đơn/bị đơn. Xác định cụ thể các khoản tiền lương mà ông B. có thể nhận được
theo quy định của pháp luật lao động.
* Bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn:
Hợp đồng giữa ông B và bệnh viện được xác lập vào ngày 14/5/2014, đây là loại hợp
đồng không xác định thời hạn, ông B giữ chức vụ là Phó Giám đốc Bệnh viện. Theo
như trong hợp đồng giữa 2 bên thời giờ làm việc bình thường của ông B được quy
định không quá 10 giờ trong 01 ngày (từ 7 giờ 30 đến 16 giờ 30), ông được nghỉ trưa
01 giờ (từ 11 giờ 30 đến 12 giờ 30).
Hợp đồng được ký kết từ ngày 14/05/2014 nên tiền lương của ông B thì công ty phải
tính từ ngày 14/05/2014.
Bệnh viện thừa nhận ông B chính thức đi làm vào ngày 01/6/2014 nhưng trong bản
báo cáo ngày công và nhật ký cán bộ - nhân viên của bộ phận bảo vệ khai ông B có đi
làm vào tháng 5/2014 (đi làm 5 tiếng 15 phút). Do đó bệnh viện phải trả lương làm
việc cho ông trong thời gian này.
Căn cứ vào Khoản 2, Điều 21, NĐ 05/2015/NĐ-CP về Tiền lương:
“2. Tiền lương trả cho người lao động được căn cứ theo tiền lương ghi trong hợp
đồng lao động, năng suất lao động, khối lượng và chất lượng công việc mà người lao
động đã thực hiện”.
Mức lương trong hợp đồng lúc đầu hai bên thoả thuận là 25.000.000 đồng/tháng. Do
vậy tiền lương trả cho ông B phải là tiền lương ghi trong hợp đồng lao động. Tuy
nhiên, sau khi bệnh viện chính thức đi vào hoạt động thì bệnh viện muốn giảm xuống
còn 20.000.000 đồng/tháng. Bên cạnh đó, đầu tháng 6/2014, Hội đồng quản trị và Ban
giám đốc bệnh viện đã họp và ra quyết định tả lương cho các bác sĩ là 30% lương theo
hợp đồng. Đây là một nội dung thay đổi trong hợp đồng đã kí trước đây nên theo
Khoản 3, Điều 35, BLLĐ 2012 về Sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động:
10



Thứ năm, Ông B đi làm không đủ 26 ngày/tháng theo quy định của công ty nên ông
B chỉ được nhận số tiền lương tương ứng với số ngày đã làm việc chứ không phải
được thanh toán tiền lương còn thiếu trong 5 tháng 15 ngày như ông đã yêu cầu
(137.500.000 đồng).
* Các khoản tiền lương mà ông B. có thể nhận được theo quy định của pháp
luật lao động:
- Ông B đi làm không đủ 26 ngày/tháng theo quy định của công ty nên ông B chỉ
được nhận số tiền lương tương ứng với số ngày đã làm việc chứ không phải được
thanh toán tiền lương còn thiếu trong 5 tháng 15 ngày như ông đã yêu cầu
(137.500.000 đồng).
- Theo khoản 2 Điều 97 BLLĐ 2012 về tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban
đêm: “2. Người lao động làm việc vào ban đêm, thì được trả thêm ít nhất bằng 30%
tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc của ngày làm
việc bình thường”.
Vào tháng 11/2014, ông B có đi làm ban đêm vào các ngày 03/11, 07/11, 11/11,
16/11, 22/11, 27/11/2014. Theo quy định trên thì ông B sẽ được nhận lương trả thêm ít
nhất 30% tiền lương của 6 ngày trực đêm tính theo công việc ngày làm việc bình
thường.
- Tiền lương làm thêm các buổi chiều các ngày thứ 7 trong tháng 11 và ngày thứ bảy
cuối tháng 10/2014.

12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status