TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
======
ĐẶNG NGUYỄN NGỌC HƢƠNG
QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC
TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ, KINH TẾ
GIAI ĐOẠN 2011 – 2016
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. TRẦN THỊ THU HÀ
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Trần Thị Thu Hà –
giảng viên bộ môn Khoa Lịch Sử - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, người
đã dành rất nhiều thời gian và công sức tận tình chỉ bảo, định hướng và tháo
gỡ những vướng mắc trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, hỗ trợ tôi
có được những kỹ năng cần thiết để tôi có thể hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này.
Tôi xin dành lời cảm ơn tới các giảng viên trong Khoa Lịch Sử, trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy, đóng góp ý kiến và chỉnh sửa để bài
khóa luận của tôi có thể hoàn thiện hơn.
Tôi cũng xin được dành lời cảm ơn tới các thầy, cô đang công tác tại
Khối các nền kinh tế lớn mới nổi gồm: Nga,
Bzazil, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ARF
Diễn đàn khu vực ASEAN
AFTA
Khu vực thương mại tự do ASEAN
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
ASEM
Diễn đàn hợp tác Á – Âu
VBB
Vịnh Bắc Bộ
USD
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh
TPP
Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình
Dương
EU
Liên minh châu Âu
UNCLOS
Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. ý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. ịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 2
3. Mục đ ch, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ................................................. 3
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ................................................... 4
5. Đóng góp của khóa luận................................................................................ 5
6. ố cục của bài khóa luận .............................................................................. 6
Chương 17: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ VIỆT NAM TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 2011-2016 ........................................................ 7
1. 1 Khái quát quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trước năm 2011 .................... 7
1. 2 Bối cảnh quốc tế và khu vực ...................................................................... 9
1. 2. 1 Tình hình thế giới ................................................................................... 9
1. 2. 2 Bối cảnh khu vực .................................................................................. 11
MỞ ĐẦU
1. L do chọn
t i
Trung Quốc và Việt Nam là hai nước láng giềng núi sông liền một
dải,nhân dân hai nước vốn có tình hữu nghị truyền thống lâu đời,đã từng ủng
hộ và giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của mỗi
nước. Mối quan hệ Việt - Trung đã qua thử thách, đã được tôi luyện trong
cuộc đấu tranh cách mạng giành độc lập và giải phóng dân tộc của mỗi nước.
ịch sử đã chứng minh mối quan hệ hữu nghị truyền thống và tình cảm gắn
bó giữa hai dân tộc,như chủ tịch Hồ Ch Minh đã nói “Vừa là đồng ch ,vừa là
anh em”. ịch sử bang giao,cũng như lịch sử quan hệ quốc tế đã chứng minh
vai trò quan trọng của nước láng giềng cũng như vai trò chủ chốt của nước
lớn. Ta có thể hiểu được vì sao Trung Quốc có vị tr quan trọng trong ch nh
sách đối ngoại của Việt Nam: Trung Quốc mang cả hai đặc điểm quan
trọng,vừa là láng giềng vừa là nước lớn.
Trong lịch sử quan hệ Việt - Trung thời kì hiện đại, đã có giai đoạn Việt
Nam tỏ rõ thái độ rất cứng rắn,chống đối Trung Quốc công khai và khá gay
gắt,vì vậy đã gây cho chúng ta rất nhiều khó khăn và để lại ảnh hưởng lâu dài.
Nghiên cứu quan hệ Việt Trung dù ở giai đoạn nào cũng có thể đóng góp vào
việc đánh giá,rút ra những bài học kinh nghiệm để góp phần định ra ch nh
sách đối ngoại đúng đắn trong quan hệ với Trung Quốc. Giai đoạn từ khi hai
nước bình thường hóa quan hệ năm 1991 tới năm 1999 là giai đoạn chứng
kiến những biến chuyển mạnh mẽ nhất đưa quan hệ Việt Nam – Trung Quốc
chuyển từ đối đầu sang bình thường và hợp tác toàn diện. Quan hệ hai nước
Việt Nam – Trung Quốc đã được nâng lên tầm cao mới khi lãnh đạo hai nước
xác định khuôn khổ cho quan hệ Việt – Trung bằng phương châm 16 chữ:
“ áng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương
nghiệp Đại học.
2. Lịch sử nghiên cứu v n
Cho đến nay đã có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu đề cập đến
mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Tuy nhiên chưa có công trình nào đi
sâu nghiên cứu và phân t ch cụ thể mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trên
lĩnh vực kinh tế, ch nh trị giai đoạn từ 2011 - 2016.
Có thể kể ra một số công trình như:Cuốn “Ngoại giao Trung Quốc trong
quá trình trỗi dậy và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam” của TS ê Văn Mỹ,
Nxb Từ điển bách khoa, năm 2013 đã trình bày cái nhìn toàn diện và sâu sắc
hơn về bức tranh ngoại giao của Trung Quốc trong quá trình trỗi dậy. Đồng
thời tác giả cũng phân t ch những vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong quá trình
trỗi dậy của Trung Quốc.
Cuốn “Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc (1986 – 2006)” của TS. Phạm
Vĩnh Phúc, NX Đại học quốc gia Thành phố Hồ Ch Minh; Cuốn “Quan hệ
2
Việt – Trung Quốc: Thực trạng và những vấn đề đặt ra” là Kỷ yếu hội thảo
khoa học do Học viện ch nh trị quốc gia Hồ Ch Minh tổ chức, NX
luận
ch nh trị phát hành năm 2016. Hai cuốn sách trên đã trình bày khá rõ về mối
quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trên tất cả các lĩnh vực ch nh trị, kinh tế, văn
hóa, giáo dục, các thành tựu cũng như vấn đề thách thức đặt ra cho cả hai
nước.
iên quan đến chủ đề còn có các bài viết chuyên sâu đăng trên các tạp
ch nghiên cứu chuyên ngành như: “Nhìn lại 20 năm bình thường hóa quan
hệ Việt – Trung: Từ nhận thức chung đến thực tiễn” của Nguyễn Phương Hoa
năm 2016. Qua đó đánh giá được những đặc điểm tác động trong quan hệ hai
nước.
3.
ụ
- Chỉ ra những nhân tố tác động tới quan hệ Việt Nam – Trung Quốc
trong giai đoạn 2011-2016.
-
Đi sâu phân t ch, làm rõ mối quan hệ Việt nam – Trung Quốc trên lĩnh
kinh tế, ch nh trị giai đoạn 2011-2016.
- Phân t ch đặc điểm và t nh chất của mối quan hệ về kinh tế, ch nh trị
giữa hai nước.
3. 3
-Không gian: Mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trên lĩnh vực
chính trị (Các cuộc gặp gỡ của lãnh đạo cấp cao và vấn đề tranh chấp chủ
quyền) kinh tế (thương mại và đầu tư) trong bối cảnh có nhiều thay đổi của
thế giới và khu vực.
- Thời gian: 2011-2016
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng ph p nghi n cứu
4. 1 Nguồ
ư
u
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, chúng tôi khai thác các nguồn
tư liệu chủ yếu như sau:
Phương pháp luận: Trong khi nghiên cứu đề tài, tác giả đã dựa trên
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
enin, tư tưởng Hồ Ch Minh, chủ
nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu tác giả đã sử dụng hai phương pháp ch nh là
phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, trong đó phương pháp lịch sử là
chủ yếu.
Ngoài ra đề tài còn sử dụng các phương pháp sưu tầm, thu thập, xử lý tư
liệu, thống kê, phân t ch và đối chiếu các sự kiện.
5. Đ ng g p c a khóa luận
Tập hợp, hệ thống hóa các nguồn tư liệu về quá trình hợp tác kinh tế,
ch nh trị Việt – Trung trong giai đoạn 2011-2016.
àm rõ thực trạng, thành tựu đạt được giữa hai nước trên lĩnh vực kinh
tế, ch nh trị giai đoạn 2011-2016 và phân t ch đặc điểm, t nh chất của mối
quan hệ đó.
5
Rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình hợp tác với Trung
Quốc trên tất cả các lĩnh vực nói chung và lĩnh vực kinh tế, ch nh trị nói riêng.
à tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy, học tập học phần ịch sử Việt
Nam trong các trường Đại học, Cao đ ng.
6.
c cc a
i khóa luận
từng nói “Mối tình thắm thiết Việt Hoa. Vừa là đồng chí vừa là anh em”.[35]
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
vừa mới ra đời đã phải đối mặt với thực dân Pháp xâm lược. Trong những
năm tháng gian khổ ấy, quân dân Việt Nam đã ủng hộ nhiệt tình một bộ phận
quân đội Trung Quốc, phối hợp với quân giải phóng nhân dân Trung Quốc
mở rộng khu giải phóng tấn công quân Tưởng. Cuộc kháng chiến chống Pháp
trường kì của nhân dân Việt Nam cũng đã nhận được sự giúp đỡ to lớn của
Đảng, ch nh phủ và nhân dân Trung Quốc. Ngày 18/1/1950, nước cộng hòa
nhân dân Trung Hoa đã công nhận và đặt mối quan hệ ngoại giao với Việt
7
Nam dân chủ cộng hòa. Ngay sau đó, iên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
cũng công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước ta. Sự kiện này đã mở ra
một giai đoạn mới trong lịch sử kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta.
Tuy nhiên, bên cạnh những giúp đỡ về mặt vật chất và tinh thần trong
các cuộc kháng chiến, Trung Quốc cũng đã gây ra những trở ngại trong các
cuộc chiến tranh kháng Mỹ của quân và dân ta, gây sức ép cho quân dân ta,
phá hoại mặt trận đoàn kết giữa ba nước Đông Dương. Đặc biệt là ngày
19/1/1974 Trung Quốc đã sử dụng lực lượng hải quân và không quân tiến
đánh ngụy quyền Sài Gòn, chiếm quần đảo Hoàng Sa từ lâu vốn là lãnh thổ
của Việt Nam. Ngày 17/2/1979, giới cầm quyền Trung Quốc huy động 60 vạn
quân gồm nhiều quân đoàn, sư đoàn, xe tăng, máy bay… mở cuộc chiến tranh
biên giới ph a bắc từ Quảng Ninh tới Phong Thổ - Lai Châu. Cuộc chiến tranh
đã làm nhân dân hai nước đổ máu, mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam –
Trung Quốc bị tổn hại.
Sau thời kì chiến tranh ạnh, bối cảnh thế giới ngày càng nhiều biến đổi
và ngày càng phức tạp, để phù hợp với sự phát triển của hai nước, sau các
cuộc đàm phán diễn ra liên tục, đến đầu tháng 11/1991 lãnh đạo cấp cao hai
ước vào thế kỉ XXI, thế giới tiếp tục có nhiều thay đổi nhanh chóng,
sâu sắc, phức tạp, khó lường về mọi mặt trong đời sống ch nh trị, kinh tế, xã
hội, an ninh, đặt ra nhiều vấn đề mới về ch nh sách đối ngoại cho các nước,
tạo thành những xu thế tác động mạnh mẽ đến quan hệ Việt – Trung.
Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật – công
nghệ hiện đại. Cuộc cách mạng này tác động sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội của các quốc gia, các quan hệ xét cả về t nh chất, trình độ
cơ cấu… Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại tuy làm biến đổi sâu
sắc cơ cấu xã hội, cơ cấu giai cấp và buộc các quốc gia phải thay đổi cách
quản l kinh tế - xã hội, nhưng tự nó không trực tiếp giải quyết được nhiều
vấn đề của thời đại. Đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam,
Trung Quốc, cách mạng khoa học – công nghệ vừa tạo ra cơ hội rút ngắn quá
trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, vừa đặt ra nhiều thách thức lớn, nguy cơ
phụ thuộc vào bên ngoài, bởi không thể phủ nhận một thực tế là khoa học –
công nghệ, vốn, các khoản đầu tư…đều do các nước tư bản chi phối. Cách
mạng khoa học – công nghệ hiện đại cùng với quá trình toàn cầu hóa gắn
quyện và tác động lẫn nhau sẽ dẫn tới sự phát triển nhanh của nền kinh tế tri
thức toàn cầu. Mặc dù tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn… vẫn là những
yếu tố không thể thiếu cho phát triển, nhưng tri thức sẽ là nguồn lực ngày
càng có t nh quyết định nhất.
9
Toàn cầu hóa nói chung, toàn cầu hóa kinh tế nói riêng là một xu thế
khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia nhưng có t nh hai mặt:
thuận lợi và khó khăn, t ch cực và tiêu cực, thời cơ và thách thức. Toàn cầu
hóa vừa là sự phát triển lực lượng sản xuất, vừa tạo động lực thúc đ y lực
lượng sản xuất phát triển. Với tư cách là một quá trình khách quan, toàn cầu
hóa mang lại cho các quốc gia đang phát triển cơ hội tranh thủ những nguồn
tổng hợp và ảnh hưởng thực tế, các nước lớn như là Hoa Kì, Trung Quốc,
Nga, Nhật ản… hiện nay chiếm 1/3 lãnh thổ và ½ dân số, 70% GDP thế giới
[10, tr. 49]. Các nước lớn và quan hệ giữa các nước lớn có vai trò đặc biệt
quan trọng đối với sự phát triển của thế giới. Quan hệ giữa các nước lớn trong
những năm gần đây diễn ra với xu thế trái ngược nhau, nhưng không loại trừ
mà bổ sung cho nhau : xu thế tăng cường đối thoại, xu hướng cạnh tranh, đấu
tranh ngày càng quyết liệt hơn.
Mỹ vẫn là siêu cường duy nhất thực thi chiến lược thế giới đơn cực với
mục tiêu làm bá chủ thế giới; đa số các nước lớn còn lại đấu tranh nhằm thiết
lập một trật tự thế giới đa cực. Hiện nay và trong nhiều thập niên tới, Mỹ vẫn
là siêu cường duy nhất với ưu thế toàn diện về kinh tế, khoa học – công nghệ
và quân sự. Tuy nhiên, Mỹ cũng gặp không t những hạn chế phải đối mặt với
nhiều thách thức trong và ngoài nước. Trong khi đó nhóm nước
RIC đang
nổi lên rất nhanh, đặc biệt là sự trỗi dậy Trung Quốc với tốc độ phát triển kinh
tế thần kì, đang thách thức vị tr siêu cường của Mỹ.
Những biến đổi của tình hình thế giới trên đã và đang tác động đến sự
vận động phát triển của Việt Nam và Trung Quốc cũng như mối quan hệViệt
– Trung hiện nay.
1. 2. 2 B
ả
k
Trong thập niên đầu thế kỉ XXI, khu vực Châu Á – Thái ình Dương trở
thành một trong những khu vực năng động nhất thế giới về phát triển kinh tế.
quyết các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông giữa các nước trong khu vực trên
cơ sở Tuyên bố ứng xử giữa các bên ở Biển Đông (DOC), tiến tới xây dựng
Bộ quy tắc ứng xử giữa các bên ở Biển Đông (COC).
Chính vì vậy, đứng trước sự thay đổi, để đáp ứng được yêu cầu của tình
hình mới, tranh thủ cơ hội và đối phó với thách thức, Việt Nam và Trung
12
Quốc đã có những điều chỉnh trong ch nh sách đối nội đối ngoại nhằm thực
hiện mục tiêu chiến lược của mình.
1.3 Ch trƣơng c a Việt Nam – Trung Qu c trong m i quan hệ song
phƣơng
1. 3. 1 V phía Trung Qu c
Sau gần 40 năm tiến hành cải cách, mở cửa, xây dựng chủ nghĩa xã hội
bắt đầu từ tháng 12-1978, Trung Quốc đã giành được những thành tựu to lớn,
kh ng định sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc những năm cuối thế kỉ XX,
đầu thế kỉ XXI. Về chính trị, Trung Quốc đã khắc phục hậu quả chính trị của
cách mạng văn hóa, từng bước thực hiện dân chủ hóa đời sống chính trị, thu
được nhiềuthành tựu trong cải cách thể chế chính trị, xây dựng và hoàn thiện
nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa, giữ vững ổn định chính trị trong nước.
Về đối ngoại, để tạo môi trường hòa bình đáp ứng nhu cầu phát triển và
hiện đại hóa đất nước, đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu.
Về kinh tế, sau 40 năm cải cách, mở cửa kinh tế Trung Quốc đã phát
triển thần kì, vượt qua cả Nhật Bản đứng thứ hai thế giới về GDP. [28;tr. 53]
Lịch sử hàng nghìn năm của Trung Quốc cho thấy, họ luôn thực hiện
chính sách hướng về phương Nam. Trung Quốc coi châu Á – Thái Bình
Dương là khu vực trọng điểm chiến lược, trước hết là Đông Nam Á.
Trung Quốc theo đuổi chính sách láng giềng tốt và duy trì quan hệ hữu
nghị với tất cả các nước láng giềng. Quan hệ Việt – Trung sẽ là quan hệ nhà
1.3.2 V phía Vi t Nam
Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, nước ta đã mở rộng
được các quan hệ hợp tác quốc tế, đang chủ động và t ch cực hội nhập quốc
tế, giữ môi trường hòa bình, tạo thêm nhiều thuận lợi để đổi mới và phát triển
kinh tế - xã hội với nhịp độ nhanh hơn.
14
T nh đến năm 2016, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với gần 189 nước
trên thế giới, có quan hệ hợp tác kinh tế với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh
thổ, đưa các quan hệ trên vào xu thế ổn định lâu dài, dựa trên các thỏa thuận
đã được k kết.
Việt Nam cũng là thành viên t ch cực đóng góp vào các hoạt động của
các tổ chức quốc tế, khu vực như:
iên hợp quốc, WTO, ASEAN, APEC,
ASEM…, tham gia t ch cực và có trách nhiệm tại các diễn đàn khu vực và
quốc tế.
Ngày 28/7/1995 Việt Nam ch nh thức gia nhập ASEAN. Đây là một cột
mốc quan trọng trong lịch sử quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam dần
cải thiện quan hệ với các nước trên thế giới, trong đó có quan hệ với Trung
Quốc. Sau khi gia nhập ASEAN quan hệ Việt – Trung được nâng lên một
bình diện mới, phát triển hơn nữa trong khuôn khổ ASEAN, thúc đ y quan hệ
hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN với tư cách Việt Nam là thành viên của
ASEAN.
Mặc dù quan hệ Việt – Trung đã đạt được bước phát triển nhanh chóng,
giành được những thành tựu to lớn, song quan hệ hai nước còn nhiều phức tạp
nhất là việc Trung Quốc đangđ y mạnh các hoạt động xâm chiếm iển Đông
bạn láng giềng Trung Quốc, phương châm quan hệ được lãnh đạo 2 nhà nước
thống nhất là phương châm “4 tốt” và “16 chữ vàng” rất tốt đẹp. Trong quá
trình xây dựng củng cố mối quan hệ đó luôn có những khó khăn thách thức và
Việt Nam luôn thật tâm mong muốn và nỗ lực xây dựng những chữ vàng đó.
Sự quý giá của những chữ đó được so sánh với vàng. Nhưng thực tế còn
những thứ quý hơn vàng, như kim cương chẳng hạn. Có nhiều thứ quý hơn
vàng, hơn kim cương nhưng không có gì quý bằng độc lập tự do – 4 chữ Bác
Hồ đã dạy chúng ta”. [34]
Tuy còn tồn tại những trở ngại, nhưng với xu thế phát triển hòa bình, ổn
định của thế giới, khu vực và ch nh sách đối ngoại của hai nước hiện tại, quan
hệ Việt – Trung đang có những điều kiện thuận lợi để phát triển.
16
Tiểu kết chƣơng 1
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giếng, có quan hệ lâu đời.
Trải qua rất nhiều những thăng trầm của lịch sử, mối quan hệ này ngày càng
gắn bó thân thiết. ên cạnh đó, mối quan hệ giữa hai nước cũng không t lần
mâu thuẫn, thậm ch xảy ra chiến tranh.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới mối quan hệ Việt Nam và Trung
Quốc, cả yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong. Những năm gần đây, với sự
thay đổi của tình hình thế giới, sự canh tranh gay gắt giữa các cường quốc
mối quan hệ hai nước cũng bị ảnh hưởng nhất định. Hơn nữa, tình hình khu
vực cũng có nhiều biến động với sự ra đời của các tổ chức hợp tác, sự phát
triển của tổ chức ASEAN cũng là 1 yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới mối quan
hệ Việt – Trung.
Tuy nhiên, nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng và chi phối tới mối quan
hệ Việt Nam và Trung Quốc ch nh là tình hình của hai nước, những chủ
trương đường lối ch nh sách của Đảng, ch nh phủ Việt Nam và Trung Quốc
thư Đảng cộng sản Việt Nam ê Khả Phiêu, hai nước đã đưa ra
“Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc năm 1999”, xác định phương châm
xây dựng quan hệ Việt – Trung gồm 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác
toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. Mốc đánh dấu bước đột phá
trong quan hệ ch nh trị - ngoại giao Việt – Trung là việc k Hiệp định biên
giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc (Hà Nội, 30/12/1999). Tháng
12/2000 , hai bên đã ra Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới
giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa, ký Hiệp định phân định Vịnh ắc ộ và Hiệp định hợp tác nghề
cá.
Trong những năm đầu của thế kỉ XXI, quan hệ ch nh trị của Việt Nam –
Trung Quốc ngày càng được thúc đ y qua các chuyến thăm của lãnh đạo cấp
cao hai nước. Điều này đã góp phần tăng cường sự hiểu biết và tin cậy lẫn
nhau, thúc đ y quan hệ hai nước phát triển toàn diện và nhanh chóng. Kể từ
năm 2001, mở đầu cho thập niên đầu của thế kỉ XXI, hai nước đã có những
18
chuyến thăm cấp cao thường xuyên, liên tục giữa lãnh đạo hai nước. Tiêu
biểu là chuyến thăm Việt Nam của Tổng b thư Giang Trạch Dân năm 2002,
nhân dịp kỉ niệm 55 thiết lập quan hệ ngoại giao; Tổng b thư, Chủ tịch Trung
Quốc Hồ C m Đào đã thăm Việt Nam từ 31/10 đến 2/11/2005. Tháng
10/2008 ch nh phủ hai nước đã k Hiệp định thiết lập đường dây nóng giữa
lãnh đạo cấp cao hai nước.
Năm 2011 là “năm hữu nghị Việt – Trung”, tại mỗi nước diễn ra nhiều
hoạt động phong phú đa dạng nhằm tăng cường hiểu biết, tin cậy lẫn nhau và
thúc đ y hợp tác trong khuôn khổ “Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn
diện”, đây cũng là bước hai bên cùng cụ thể hóa những thỏa thuận cấp cao
ộ, Hiệp định này mới gia hạn