TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
======
BÙI LÝ HƢƠNG
VIỆC PHÂN ĐỊNH BIỂN TẠI
KHU VỰC NGOÀI CỬA VỊNH BẮC BỘ
GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
GIAI ĐOẠN 1991-2015
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Trần Thị Thu Hà –
giảng viên bộ môn Lịch Sử - Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2, ngƣời đã
dành rất nhiều thời gian và công sức tận tình chỉ bảo, định hƣớng và tháo gỡ
những vƣớng mắc trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, hỗ trợ tôi có
đƣợc những kỹ năng cần thiết để tôi có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
này.
Tôi xin dành lời cảm ơn tới các giảng viên trong Khoa Lịch Sử, trƣờng
Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy, đóng góp ý kiến và chỉnh sửa để bài
khóa luận của tôi có thể hoàn thiện hơn.
Tôi cũng xin đƣợc dành lời cảm ơn tới các thầy, cô đang công tác tại
Trung tâm Thƣ viện trƣờng Học viện Ngoại giao đã tạo điều kiện cho tôi có
thể tìm kiếm tài liệu để hoàn thành bài khóa luận này.
Tokin Gulf
Tên tiếng Việt
Hiệp hội các Quốc gia
Đông Nam Á
Vịnh Bắc Bộ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ......................................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề......................................................................................... 2
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu vấn đề .................................................... 3
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu .............................................................. 3
5. Đóng góp khóa luận ................................................................................................... 4
6. Bố cục khóa luận ........................................................................................................ 4
Chƣơng 1: NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN VIỆC PHÂN ĐỊNH
BIỂN TẠI KHU VỰC NGOÀI CỬA VỊNH BẮC BỘ GIỮA VIỆT NAM VÀ
TRUNG QUỐC ................................................................................................. 5
1.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ LỢI ÍCH KINH TẾ KHU VỰC NGOÀI CỬA
VỊNH BẮC BỘ .............................................................................................................. 5
1.1.1. Vị trí địa lí ............................................................................................... 5
1.1.2. Lợi ích của Việt Nam và Trung Quốc tại khu vực ngoài cửa VBB .........10
1.2. YẾU TỐ PHÁP LÝ ............................................................................................13
1.2.1. Công ƣớc Geneva về luật biển năm 1958 ............................................. 13
1.2.2. Công ƣớc Liên Hợp Quốc về luật biển quốc tế năm 1982 ................... 15
1.2.3. Tuyên bố của khu vực về Biển Đông ..............................................................23
1.3. LỊCH SỬ PHÂN ĐỊNH VỊNH BẮC BỘ GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG
QUỐC............................................................................................................................26
Phân định biển và quá trình hoạch định đƣờng ranh giới giữa hai hay
nhiều quốc gia có các vùng biển tiếp giáp hoặc đối diện nhau cũng nhƣ việc
xác định ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa luôn
là vấn đề cốt yếu của Luật biển quốc tế hiện đại. Sau khi Công ƣớc của Liên
Hợp Quốc về Luật biển 1982( Công ƣớc Luật biển 1982) có hiệu lực, vấn đề
phân định biển ngày càng trở nên bức thiết, bởi nó liên quan đến vấn đề chủ
quyền, các lợi ích kinh tế, an ninh- quốc phòng của các quốc gia cũng nhƣ
quyền tự do biển cả của các nƣớc giáp biển. Việc phân định biên giới biển,
ranh giới biển giữa các quốc gia là một quá trình phức tạp, lâu dài, đòi hỏi
nghiên cứu kỹ lƣỡng các tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế.
Trong bối cảnh tình hình Biển Đông tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp,
việc hai nƣớc Việt – Trung tiến hành đàm phán phân định biển tại khu vực
ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ (VBB) có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo cơ
sơ pháp lý cho quản lý và khai thác các vùng biển của hai nƣớc, đồng thời tạo
đà để hai bên tiếp tục sử dụng luật pháp quốc tế vào giải quyết những tranh
chấp tại Biển Đông.Tuy nhiên, việc đàm phán còn nhiều vấn đề cần giải quyết
và chƣa có bƣớc tiến triển do quan điểm của hai bên còn nhiều khác biệt, do
vậy, tiến trình đàm phán sẽ tiếp tục kéo dài và có nhiều diễn biến phức tạp.
Xuất phát từ những lý do trên, em đã chọn đề tài “Việc phân định biển
tại khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc giai
đoạn 1991-2015” làm khóa luận tốt nghiệp của mình. Qua đề tài này ,em
mong muốn sẽ hệ thống và tổng hợp đƣợc những nội dung cơ bản về việc
phân định biển, đánh giá đƣợc thực trạng đàm phán cũng nhƣ quan điểm mỗi
bên đƣa ra. Đồng thời đánh giá cũng nhƣ đƣa ra một số nhận xét về vấn đề
phân định biển tại khu vực ngoài cửa VBB giữa Việt Nam và Trung Quốc.
1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
thì chƣa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu sâu về vấn đề này, do
vậy đề tài góp một phần quan trọng vào việc nghiên cứu và giải quyết nhu
cầu bức thiết của nƣớc ta hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu vấn đề
- Mục đích:
Đề tài tập trung phân tích, đánh giá thực trạng việc phân định tại khu
vực ngoài cửa VBB giữa Việt Nam và Trung Quốc.
- Nhiệm vụ:
+Nêu lên những yếu tố tác động đến việc phân định biển tại khu vực
ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc, đặc biệt làm rõ đƣợc
việc phân định các vùng biển theo Công ƣớc Luật biển 1982.
+ Phân tích đƣợc tác động thực trạng qua các vòng đàm phán và quan
điểm của mỗi nƣớc về vấn đề phân định biển ngoài cửa VBB.
+ Rút ra những điểm tích cực và hạn chế của việc phân định khu vực
ngoài cửa VBB.
- Phạm vi
+ Về không gian: Đề tài nghiên cứu các vấn đề pháp lý dựa vào Công
ƣớc Luật biển 1982, các quan điểm của mỗi bên để áp dụng giải quyết cụ thể
tại khu vực ngoài cửa VBB giữa Việt Nam và Trung Quốc.
+ Về thời gian: Đề tài chủ yếu nghiên cứu từ năm 1991 đến 2015, đặc
biệt từ năm 2006 (năm 2006, thời điểm hai nƣớc Việt Nam và Trung Quốc
tiến hành cuộc họp vòng I Nhóm công tác liên hợp về phân định biển ngoài
cửa VBB). Ngoài ra còn một số phán quyết hoặc các sự kiện đã từng xảy ra
trƣớc năm 1991.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
- Nguồn tư liệu:
+ Các công trình nghiên cứu của các học giả về vấn đề Vịnh Bắc Bộ
nhƣ: Nguyễn Bá Diễn, Lê Quý Quỳnh, Lê Công Phụng, Lê Tuấn Thanh
Chƣơng 1:
NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN VIỆC PHÂN ĐỊNH BIỂN TẠI
KHU VỰC NGOÀI CỬA VỊNH BẮC BỘ GIỮA VIỆT NAM VÀ
TRUNG QUỐC
1.1.
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ LỢI ÍCH KINH TẾ KHU VỰC
NGOÀI CỬA VỊNH BẮC BỘ
1.1.1. Vị trí địa lí
Vùng biển Vịnh Bắc Bộ giới hạn từ vĩ độ 17o00 N đến 21o40 N và
105o40E đến 109o40E. Vùng biển ngoài cửa VBB đƣợc tính từ đƣờng cửa
vịnh ra đến khu vực quần đảo Hoàng Sa, nằm giữa bờ biển lục địa miền
Trung của Việt Nam và đảo Hải Nam của Trung Quốc. Diện tích toàn Vịnh
khoảng 126.250 km2(36.000 hải lý vuông). Nơi hẹp nhất của vùng biển ngoài
cửa VBB là đƣờng đóng cửa VBB (theo Hiệp định phân định VBB năm 2000
giữa Việt Nam và Trung Quốc), có chiều rộng khoảng 131 hải lý (243 km), là
đƣờng nối từ mũi Oanh Ca ( đảo Hải Nam ) đi qua đảo Cồn Cỏ đến bờ biển
lục địa Việt Nam. Nơi có khoảng cách rộng nhất của vùng biển ngoài cửa
VBB khoảng 222 hải lý (411 km) tính từ mũi Ba Làng An (Quảng Ngãi, Việt
Nam) đến mũi Mả Liu Thẩu (đảo Hải Nam, Trung Quốc). Phần Vịnh phía ta
có khoảng 1.300 hòn đảo ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất
liền nƣớc ta khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 130
km.Vùng biển vịnh Bắc Bộ phía Việt Nam là vùng biển nông, đáy biển tƣơng
đối bằng phẳng, có 2 vịnh kín là vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long. Độ sâu
vịnh Bắc Bộ không lớn, trung bình 38,5m, sâu nhất không quá 100m. Vịnh có
hai cửa: eo biển Quỳnh Châu nằm giữa bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam với
bề rộng khoảng 35,2 km2 (19 hải lý) và cửa chính của Vịnh từ đảo Cồn Cỏ
bàn quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội của hệ thống đảo, hải đảo và
6
vùng biển Việt Nam. Đảo Cồn Cỏ đƣợc hƣởng 50% hiệu lực theo Hiệp định
phân định VBB năm 2000 giữa hai nƣớc Việt Nam và Trung Quốc[22].
Bán đảo Sơn Trà: nằm trong địa bàn phƣờng Thọ Quang- quận Sơn
Trà- Đà Nẵng, trong đó Mũi Ghê của bán đảo Sơn Trà là điểm mà Đà Nẵng
vƣơn ra biển Đông xa nhất (mũi Đà Nẵng). Sơn Trà có diện tích 4439 ha đất
liền và biển, cách trung tâm thành phố 8km về phía Đông Bắc; có đỉnh cao nhất
là 696m so với mực nƣớc biển và nhiều đỉnh cao trên 500m. Bán đảo Sơn Trà
có chiều dài từ Đông sang Tây là 15km, chỗ rộng nhất là 6km, chỗ hẹp nhất là
2km. Với vị trí độc đáo của mình, Sơn Trà không chỉ giúp Đà Nẵng trở thành
một khu an toàn về hàng hải mà còn là đài khí tƣợng thủy văn cho cƣ dân trong
vùng [19].
Cù Lao Chàm: Là một cụm đảo trực thuộc xã đảo Tân Hiệp, thành phố
Hội An, tỉnh Quảng Nam, nằm cách bờ biển Cửa Đại khoảng 8 hải lý (15km)
và đã đƣợc Cù lao Chàm bao gồm 8 đảo: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn
Khô mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông. Dân số trên các hòn đảo
này gồm khoảng 3000 ngƣời tập trung tại hai bãi chính trên Hòn Lao đó là bãi
Làng và bãi Hƣơng, nơi đây còn gắn liền với di tích văn hóa Chăm pa cùng với
lịch sử hình thành thƣơng cảng Hội An nổi tiếng một thời. Với hệ động thực
vật phong phú và những di tích lịch sử hàng trăm năm trƣớc, ngày 29/5/2009,
Cù Lao Chàm đƣợc UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới
trong phiên họp thứ 21 của Ủy ban Điều phối quốc tế chƣơng trình con ngƣời
và sinh quyển diễn ra tại đảo Jeju, Hàn Quốc [20].
Đảo Lý Sơn:Đảo Lý Sơn là huyện đảo duy nhất của Quảng Ngãi, nằm
về phía Đông Bắc, cách đất liền 15 hải lý (tính từ cảng Sa Kỳ ra). Toàn huyện
có 2 đảo: Đảo Lớn (còn gọi là Cù Lao Ré) và Đảo Bé (Cù Lao Bờ Bãi) gồm 3
Nơi hẹp nhất vùng biển ngoài cửa VBB
(là đường đóng cửa vịnh, được nối từ mũi
Oanh Ca, thuộc đảo Hải Nam của Trung
243 km2
Quốc đi qua đảo Cồn Cỏ đến bờ biển
Quảng Trị của Việt Nam)
3.
Nơi rộng nhất vùng biển ngoài cửa VBB
(đường nối mũi Ba Làng An đến mũi Mả
411 km2
Liu Thẩu)
4.
Diện tích vùng biển ngoài cửa VBB tính
trong phạm vi giữa đƣờng cơ sở của hai
nƣớc (điểm nối từ Cồn Cỏ - Lý Sơn – Mả
Liu Thẩu – Oanh Ca)
5.
Chiều dài đƣờng bờ biển Việt Nam (tính
8
57.630 km2
107008’42” Đ thuộc mũi Ba Làng An, bờ
biển Quảng Ngãi – mũi Oanh Ca – mũi
Mả Liu Thầu của đảo Hải Nam )
9.
Diện tích vùng chống lấn giữa đƣờng
trung tuyến bờ - bờ và đƣờng trung tuyến
1.245 km2
giữa hai đƣờng cơ sở trong phạm vi của
mục (4) và (8)
10.
Khoảng cách mũi Đà Nẵng (Việt Nam ) –
mũi Tran Chinh (Đảo Hải Nam – Trung
262 km
Quốc)
11.
Chiều dài đƣờng bờ biển Việt Nam (tính
từ tọa 16057’40” B – 107008’42” Đ thuộc
bờ biển Quảng Trị đến mũi Đà Nẵng)
9
Diện tích vùng biển ngoài cửa VBB tính
trong phạm vi giữa đƣờng bờ biển của hai
nƣớc (điểm nối từ tọa độ 16057’40” B –
31.040 km2
107008’42” Đ thuộc bờ biển Quảng TRị mũi Đà Nẵng – mũi Tran Chinh- Oanh
Ca)
16.
Diện tích vùng chống lấn giữa đƣờng
trung tuyến bờ - bờ và đƣờng trung tuyến
1.100 km2
giữa hai đƣờng cơ sở trong phạm vi của
mục (14) và (15)
1.1.2. Lợi ích của Việt Nam và Trung Quốc tại khu vực ngoài cửa
VBB
Vịnh Bắc Bộ có vị trí chiến lƣợc quan trọng đối với Việt Nam và Trung
Quốc cả về kinh tế lẫn quốc phòng, an ninh. Vịnh cũng là nơi chứa đựng tài
nguyên thiên nhiên, đặc biệt là hải sản và dầu khí.
Về hải sản, đại bộ phận các ngƣ trƣờng chính là nằm gần bờ biển Việt
Nam và Tây Nam đảo Bạch long Vĩ. Vịnh Bắc Bộ là một trong những ngƣ
10
trƣờng và nguồn cung cấp hải quan quan trọng cho hai nƣớc Việt Nam và
Đối với Trung Quốc:
Hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí của Trung Quốc tại khu vực ngoài
cửa VBB (phần phía Đông bể Sông Hồng) đã đƣợc triển khai rất sớm (từ
những năm 1970), đƣợc triển khai liên tục và thƣờng xuyên vƣợt qua đƣờng
trung tuyến, xâm phạm các lô dầu khí của Việt Nam, điển hình là các hoạt
động:
-Năm 1997, Trung Quốc đã ký thỏa thuận phát triển mỏ Ledong ở khu
vực cửa VBB với Công ty ARCO của Mỹ. Cũng trong năm này, Trung Quốc
đã đƣa giàn khoan KANTAN – 03 vào hoạt động tại khu vực có tọa độ
17026’42” B, 108019’05” Đ, thuộc lô 113 của ta, cách Việt Nam 63 hải lý, hoàn
toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam theo Công
ƣớc Luật biển 1982.
-Năm 1998 mở thầu quốc tế 05 lô khu vực VBB, trong đó phạm vi hai lô
khu vực ngoài cửa vịnh lấn sang lô 111, 113 của ta.
-Năm 2004, Trung Quốc lại tiếp tục đƣa giàn khoan KANTAN – 03 vào
hoạt động tại lô 113 của Việt Nam.
- Năm 2006, Trung Quốc cũng đã tiến hành khảo sát địa chấn khu vực
Đông Bắc lô 113 + lô 111 Đông Nam bằng tàu Tân Hải và khảo sát 3D trên
diện tích khoảng 11.000 km2 tại lô 141 và 142 của Việt Nam (sơ đồ 3).
1.2.
YẾU TỐ PHÁP LÝ
1.2.1. Công ƣớc Geneva về luật biển năm 1958
Tại hội nghị quốc tế về luật biển đƣợc tổ chức ở Geneva (Thụy Sĩ) năm
1958, lần đầu tiên một hội nghị quốc tế đƣợc tổ chức với quy mô mở để bàn
luận về chế độ pháp lý của đại dƣơng và chi tiết hóa việc sử dụng các vùng
biển của đại dƣơng. Hội nghị đã nghiên cứu các dự thảo quy chế về biển mà
13
14
phát triển tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, các quốc gia mong
muốn thiết lập giới hạn mới về chiều rộng của thềm lục địa bằng các tiêu chí
mới cho phù hợp với luật quốc tế hiện đại và với vị thế của từng quốc gia (cần
nhấn mạnh, cho đến nay đang song tồn hai điều ƣớc quốc tế điều chỉnh quy
chế về thềm lục địa, đó là: Công ƣớc Geneva năm 1958 về thềm lục địa và
Công ƣớc Liên hợp quốc về luật biển 1982);
Hai là, Công ƣớc Geneva năm 1958 về vùng tiếp giáp cũng là một điểm
nhấn mới trong luật quốc tế vì đây là lần đầu tiên các quy phạm về khái niệm
và về quy chế pháp lý vùng tiếp giáp đƣợc ghi nhận trên cơ sở của một điều
ƣớc quốc tế đa phƣơng.
Công ƣớc Geneva năm 1958 về thềm lục địa định nghĩa thềm lục địa là
vùng đáy biển và lòng đất dƣới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia
ven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia này và
có ranh giới ngoài đƣợc xác định bởi hai tiêu chuẩn:
Tiêu chuẩn độ sâu: 200m – một tiêu chuẩn ấn định;
Tiêu chuẩn khả năng khai thác – một tiêu chuẩn động, mâu thuẫn với
tiêu chuẩn trên và chỉ phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật khai thác thềm lục địa
của quốc gia ven biển.
1.2.2. Công ƣớc Liên Hợp Quốc về luật biển quốc tế năm 1982
Công ƣớc về luật biển 1982 là điều ƣớc quốc tế tổng hợp (một bộ luật),
là mốc lịch sử quan trọng trong lĩnh vực pháp điển hóa vì sự phát triển tiến bộ
của các quy phạm pháp luật quốc tế, đồng thời quy định cụ thể hóa hơn so với
Công ƣớc Geneva về luật biển năm 1958. Công ƣớc về luật biển 1982 đã quy
định chế độ pháp lý của đại dƣơng và điều chỉnh các dạng hoạt động cơ bản
về sử dụng, nghiên cứu, khai thác và chinh phục đại dƣơng phục vụ cho các
điều kiện phát triển kinh tế – xã hội hiện đại. Cần nhấn mạnh rằng, lần đầu
tiên trong Công ƣớc về luật biển 1982 có những quy phạm rất đặc biệt (Điều
không quá 12 hải lý tính từ đƣờng cơ sở. Tuy nhiên, khi phân định ranh giới
16
lãnh hải có thể xuất hiện các “yếu tố” có thể ảnh hƣởng đến phân định ranh
giới lãnh hải. Ví dụ nhƣ sự hiện diện của các đảo và các công trình nhân tạo
trên biển v.v… Công ƣớc Geneva về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải năm
1958 (khoản 1, Điều 12) và Công ƣớc về luật biển 1982 (Điều 15) đã quy
định về việc hoạch định ranh giới lãnh hải giữa các quốc gia có bờ biển kề
nhau hoặc đối diện nhau: Khi hai quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện
nhau, không quốc gia nào đƣợc quyền mở rộng lãnh hải ra quá đƣờng trung
tuyến mà mọi điểm nằm trên đó cách đều các điểm gần nhất của đƣờng cơ sở
dùng để tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia, trừ khi có sự thỏa thuận
ngƣợc lại. Tuy nhiên, quy định này không áp dụng trong trƣờng hợp do có
những danh nghĩa lịch sử hoặc có các hoàn cảnh đặc biệt khác cần phải hoạch
định ranh giới lãnh hải của hai quốc gia một cách khác.
Quy định trên đã ghi nhận phƣơng pháp đƣờng trung tuyến cách đều,
cũng nhƣ mở ra khả năng để các quốc gia liên quan có thể thoả thuận về một
giải pháp phân định khác dựa trên cơ sở có tính đến các yếu tố nhƣ danh
nghĩa lịch sử hoặc hoàn cảnh đặc biệt. Tuy nhiên, việc quy định cụ thể về
danh nghĩa lịch sử hoặc hoàn cảnh đặc biệt chƣa đƣợc hai Công ƣớc nói trên
quy định cụ thể dẫn đến thiếu cơ sở pháp lý cụ thể để các quốc gia có liên
quan tiến hành đàm phán, thoả thuận về việc thừa nhận có sự hiện diện của
danh nghĩa lịch sử hay hoàn cảnh đặc biệt cũng nhƣ mức độ ảnh hƣởng của
các yếu tố này đến giải pháp phân định ranh giới lãnh hải. Thực tiễn quốc tế
về phân định lãnh hải và vùng tiếp giáp thƣờng gặp các “hoàn cảnh đặc biệt”
sau đây: Hình dạng bất thƣờng của bờ biển; sự hiện diện của các đảo; tuyến
đƣờng và luồng hàng hải…
Công ƣớc về luật biển 1982 không có qui định riêng biệt về phân định
Hai là, nếu không đi tới đƣợc một thỏa thuận trong một thời gian hợp lý
thì các quốc gia hữu quan sử dụng các thủ tục nêu ở phần XV (khoản 2);
18
Ba là, trong khi chờ ký kết thỏa thuận ở khoản 1, các quốc gia hữu quan,
trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các dàn xếp
tạm thời có tính chất thực tiễn và không phƣơng hại hay cản trở việc ký kết
các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dàn xếp tạm thời
không phƣơng hại đến hoạch định cuối cùng (khoản 3);
Bốn là, khi một điều ƣớc đang có hiệu lực giữa các quốc gia hữu quan,
các vấn đề liên quan đến việc hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế
đƣợc giải quyết theo đúng điều ƣớc đó (khoản 4).
Về phân định thềm lục địa
Phân định thềm lục địa đƣợc quy định trong Điều 83 của Công ƣớc về
luật biển 1982. Cụ thể nhƣ sau:
Một là, việc hoạch định ranh giới thềm lục địa giữa các quốc gia có bờ
biển tiếp liền hay đối diện nhau đƣợc thực hiện bằng con đƣờng thỏa thuận
theo đúng luật pháp quốc tế nhƣ đã đƣợc nêu ở Điều 38 Quy chế Tòa án quốc
tế để đi tới một giải pháp công bằng (khoản 1);
Hai là, nếu không đi tới một thỏa thuận trong một thời hạn hợp lý thì các
quốc gia hữu quan sử dụng các thủ tục nêu ở phần XV Công ƣớc (khoản 2);
Ba là, trong khi chờ đợi ký kết thỏa thuận nói ở khoản 1, các quốc gia
hữu quan trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, làm hết sức mình để đi đến các
giải pháp tạm thời có tính chất thực tiễn và không để phƣơng hại hay cản trở
việc ký kết các thỏa thuận dứt khoát trong giai đoạn quá độ này. Các dàn xếp
tạm thời không phƣơng hại đến việc hoạch định cuối cùng;
Bốn là, khi một điều ƣớc đang có hiệu lực giữa các quốc gia hữu quan,
các vấn đề liên quan đến việc hoạch định ranh giới thềm lục địa đƣợc thực