ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐÀO THỊ HỒNG DUYÊN QUAN HỆ THƢƠNG MẠI QUA BIÊN GIỚI
GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
- THỰC TẾ Ở LẠNG SƠN LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
HÀ NỘI – NĂM 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐÀO THỊ HỒNG DUYÊN QUAN HỆ THƢƠNG MẠI QUA BIÊN GIỚI
GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC
- THỰC TẾ Ở LẠNG SƠN
1.2. Vai trò của quan hệ thƣơng mại qua biên giới
12
1.2.1.Vai trò đối với Trung Quốc ……………………………… …….
13
1.2.2. Vai trò đối với Việt Nam ……………………… …… ………
14
1.3. Chính sách biên mậu của hai nƣớc Việt Nam và Trung Quốc
18
1.3.1. Chính sách biên mậu của Trung Quốc…………………….……
18
1.3.2. Chính sách của Việt Nam về quan hệ thương mại cửa khẩu biên giới
24
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƢƠNG MẠI QUA BIÊN
GIỚI VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC – THỰC TẾ Ở LẠNG SƠN…
28
2.1. Tổng quan về quan hệ thƣơng mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc
28
2.1.1. Quy mô, tốc độ, kim ngạch…………………… …….… ……
32
2.1.2. Cơ cấu trao đổi thương mại…………………………… ………
36
2.1.2.1. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc
36
2.1.2.2. Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc
42
2.1.2.3. Thực trạng buôn lậu và đấu tranh chống buôn lậu hàng
hóa qua biên giới Việt Trung………………… …………………
76
2.4.1. Điểm mạnh……… …………….……………………………….
76
2.4.2. Điểm yếu…………….…………………………………………
78
2.4.3. Cơ hội……………… ……………….………………………….
79
2.4.4.Thách thức…………… …………… …………………………
80
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG THƢƠNG MẠI
QUA BIÊN GIỚI GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC NÓI
CHUNG VÀ TỈNH LẠNG SƠN NÓI RIÊNG……………….…………
81
3.1. Quan hệ thƣơng mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc
trong bối cảnh quốc tế mới……….………………………………….…….
81
3.1.1. Những nhân tố thúc đẩy quan hệ thương mại qua biên giới……
81
3.1.2. Những vấn đề tồn tại…………………………… ……… ……
85
3.2. Định hƣớng và triển vọng thƣơng mại qua biên giới giữa Việt Nam
và Trung Quốc – Thực tế ở Lạng Sơn……………………………….……
88
3.2.1. Định hướng về thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc
88
3.2.2. Triển vọng về thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc
89
3.2.2.1. Triển vọng kim ngạch XNK hai nước đến năm 2015…….
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
3
GATT/WTO
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
4
ACFTA
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN -Trung Quốc
5
EHP
Chương trình thu hoạch sớm
6
USD
Đồng đô la Mỹ
7
NDT
Đồng nhân dân tệ
8
FTA
Hiệp định thương mại tự do
9
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
10
KN
Kim ngạch
11
XNK
Xuất nhập khẩu
12
35
4
Bảng 2.4
Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt
Nam sang Trung Quốc giai đoạn 1991 – 1995.
37
5
Bảng 2.5
Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt
Nam sang Trung Quốc giai đoạn 1996 – 2000
39
6
Bảng 2.6
Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt
Nam sang Trung Quốc giai đoạn 2001 – 2009
40
7
Bảng 2.7
Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt
Nam từ Trung Quốc giai đoạn 1996 – 2000.
44
8
Bảng 2.8
Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt
Nam từ Trung Quốc giai đoạn 2001 – 2009
45
9
Bảng 2.9
Kim ngạch XNK tỉnh Lạng Sơn với Trung
Quốc giai đoạn năm 1991-2000
Buôn bán qua biên giới có tác động tương hỗ, thúc đẩy các hoạt động kinh
tế phát triển cụ thể như là thúc đẩy phát triển nông nghiệp nông thôn, công
nghiệp và xây dựng, thúc đẩy cơ sở hạ tầng vùng biên giới, mở rộng các hoạt
động du lịch…
Quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc tác động
tới sự phát triển kinh tế văn hóa và xã hội khu vực phía Bắc, nó làm tăng ngân
sách nhà nước trên từng địa bàn, góp phần thúc đẩy nhịp độ phát triển kinh tế,
giảm bớt những khó khăn trong sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho các cặp
địa phương cải thiện tình hình kinh tế xã hội cơ bản, thúc đẩy sự ra đời của một
số trung tâm kinh tế quan trọng, đời sống nhân dân các tỉnh miền núi biên giới
phía Bắc được cải thiện rõ rệt, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho
nhân dân.
Sự giao lưu về kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc đã góp phần thúc
đẩy và tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, tạo điều kiện giữ gìn
an ninh biên giới. 2
Buôn bán giao lưu kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc thông qua các
tỉnh biên giới trong đó có Lạng Sơn có ý nghĩa hết sức quan trọng vì tính bổ sung
của hai bên có thể phát huy được những thế mạnh cũng như hạn chế được những
điểm yếu của nền kinh tế Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế tốt hơn.
Tuy nhiên quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc
chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của hai nước. Vấn đề đặt ra là tìm kiếm
những giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ thương mại qua biên giới
giữa Việt Nam và Trung Quốc nói chung và tại tỉnh Lạng Sơn nói riêng. Xuất phát
từ lý do trên tôi đã chọn đề tài “Quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam
và Trung Quốc – Thực tế ở Lạng Sơn” làm luận văn tốt nghiệp.
2.Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến
việc phát triển kinh tế hàng hóa ở các tỉnh vùng núi phía Bắc” do PTS. Phạm
Văn Linh chủ biên – Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội năm 1999. Tác giả đã làm
rõ vị trí, vai trò và tiềm năng kinh tế của các cửa khẩu biên giới Việt Trung, phân
tích sự tác động qua lại giữa các nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ thương mại ở
các cửa khẩu đối với việc phát triển kinh tế hàng hoá, tìm ra giải pháp thích hợp
nhằm mở rộng thị trường, tăng cường trao đổi hàng hoá qua các cửa khẩu biên
giới, tạo đà cho việc đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở khu
vực này.
6)“Thực trạng buôn bán hàng hoá và những giải pháp chống buôn lậu
hàng hoá qua biên giới phía Bắc từ thực tiễn Lạng Sơn” của Lương Đăng Ninh,
Ủy ban nhân dân Tỉnh Lạng Sơn, Bộ Thương mại năm 2001. Tác giả đã nghiên
cứu về hoạt động buôn bán hàng hoá nói chung và hoạt động buôn lậu hàng hoá
nói riêng giữa Việt Nam và Trung Quốc thông qua các cửa khẩu của các tỉnh
biên giới phía Bắc từ đó đưa ra các giải pháp để chống buôn lậu. 4
7)“Thương mại Việt Nam – Trung Quốc hiện trạng và triển vọng”, đề tài cấp
viện Lê Tuấn Thanh, Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn Quốc Gia, năm
2003. Tác giả đã nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế, thương mại trong nội bộ
của hai nước sau đó tác giả đưa ra cái nhìn tổng quan về triển vọng cho thương mại
Việt Nam – Trung Quốc trong tương lai.
8)“Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Trung Quốc từ khi bình thường
hóa quan hệ đến nay”, đề tài cấp Viện: của Lê Tuấn Thanh – Phòng Nghiên cứu
Quan hệ Việt – Trung, Hà Nội năm 2006. Tác giả đã tìm hiểu đặc điểm các giao
dịch của quan hệ kinh tế thương mại song phương. Trong thời gian từ khi bình
thường hóa đến năm 2005. Đồng thời, cũng phân tích những nhân tố gây trở ngại
tiến trình khai thác kinh tế, thương mại song phương và tìm hiểu mối quan hệ song
phương trong thời gian tới thông qua việc hai nước sẽ là thành viên của ACFTA.
9)“Đổi mới tổ chức quản lý các hoạt động xuất nhập khẩu và mua bán,
3.2. Nhiệm vụ của nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở khoa học của quan hệ thương mại qua biên giới.
- Phân tích thực trạng quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và
Trung Quốc.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại qua biên
giới giữa Việt Nam và Trung Quốc nói chung và tại tỉnh Lạng Sơn nói riêng.
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc thực tế
tại tỉnh Lạng Sơn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu 6
Luận văn nghiên cứu quan hệ thương mại hàng hoá qua biên giới giữa Việt
Nam và Trung Quốc từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ từ năm 1991 tới nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử, phương pháp tổng hợp, diễn dịch.
- Phương pháp thống kê sử dụng để phân tích số liệu.
- Khảo sát thực tế.
6. Những đóng góp của Luận văn:
- Hệ thống hoá một số lý luận về quan hệ thương mại qua biên giới, phân tích
sự cần thiết của quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc.
- Phân tích làm rõ thực trạng về quan hệ thương mại qua biên giới giữa
Việt Nam và Trung Quốc – Thực tế ở Lạng Sơn.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển về quan hệ thương mại qua
biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc nói chung và tại tỉnh Lạng Sơn nói riêng.
7. Bố cục của Luận văn: Gồm 3 chƣơng
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thương mại qua biên
hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các nước liền nhau có chung đường biên giới,
nó là hình thức mở đầu của buôn bán trao đổi quốc tế và là bộ phận quan trọng
của hoạt động ngoại thương của mỗi nước.
Thương mại qua biên giới bao gồm: Các hoạt động xuất, nhập khẩu hàng
hóa và các dịch vụ qua biên giới, trao đổi hàng hóa, dịch vụ của cư dân biên giới, 8
trao đổi hàng hóa, dịch vụ ở chợ biên giới, trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong khu
kinh tế cửa khẩu. Ở đây chỉ tập trung nghiên cứu về biên giới đất liền.
Khu vực biên giới đất liền (khu vực biên giới) là bao gồm các xã, thị trấn
có địa giới hành chính tiếp giáp với đường biên giới quốc gia trên đất liền với
nước láng giềng (được quy định tại Nghị định 34/NĐ-CP ngày 18/8/2000 của
Chính phủ về Quy chế khu vực biên giới đất liền). Phát sinh và phát triển thương
mại qua biên giới là hiện tượng tự nhiên của lịch sử, là hiện tượng khách quan,
không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người, con người vận dụng nó để
sắp xếp tổ chức các hoạt động quan hệ thương mại qua biên giới nhằm phục vụ
lợi ích chung của xã hội. Các hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ ở khu vực
biên giới đều được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước ban hành riêng
cho hoạt động thương mại qua biên giới
1.1.2. Lý thuyết về thƣơng mại quốc tế
* Lý thuyết cổ điển
Chủ nghĩa trọng thương: Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa trọng thương coi
vàng và các kim loại quý là đại biểu cho sự giàu có của các quốc gia. Để có sự
giàu có này các quốc gia phải tiến hành trao đổi với nhau các sản phẩm đặc thù
của mình. Lợi nhuận buôn bán là kết quả của sự trao đổi không ngang giá và
lường gạt giữa các quốc gia .
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith: Các quốc gia sẽ thu được lợi
khi tham gia vào thương mại quốc tế dựa trên lợi thế tuyệt đối của quốc gia đó.
Giả sử thế giới chỉ có hai quốc gia và mỗi quốc gia chỉ sản xuất hai mặt hàng
thương mại bởi vì đầu tư cho phép khai thác lợi thế đầy đủ và triệt để hơn, bao
gồm: Nguồn lực, công nghệ, thị trường, uy tín, danh tiếng, nhãn hiệu, kinh nghiệm
quản lý để thu lợi ích từ thị trường nước ngoài và vượt qua các hàng rào thuế quan.
Do đó có thể nói đầu tư quốc tế là sự thay thế tốt hơn cho thương mại quốc tế. 10
1.1.3. Đặc trƣng của quan hệ thƣơng mại qua biên giới
- Khu vực biên giới của hai nước đều cách xa trung tâm kinh tế - chính trị
nước mình, có nhiều khu hành chính phân cách, bất lợi cho vị trí kinh tế và cũng
trở ngại cho sự phát triển kinh tế khu vực biên giới. Như vậy, quá trình phát triển
kinh tế khu vực biên giới không có điều kiện và cơ hội thuận lợi, vì vậy cần
được hưởng các chính sách ưu đãi để phát triển quan hệ thương mại qua đường
biên, tạo cơ hội cho kinh tế khu vực biên giới phát triển.
- Khu vực biên giới các nước có hoàn cảnh văn hóa, xã hội và tương tự
nhau, nhân dân biên giới hai nước có ngôn ngữ văn hóa, tập quán sinh sống,
truyền thống, tôn giáo tín ngưỡng gần giống nhau hoặc tương tự nhau, có mối
quan hệ mật thiết với nhau.
Mặc dù cư dân biên giới hai nước chịu sự tác động của các chính sách
phát triển kinh tế - xã hội khác nhau, nhưng trên thực tế họ đã có mối quan hệ
giao lưu trong lịch sử lâu đời, với tiềm thức trong anh có tôi, trong tôi có anh,
cùng nhau tồn tại, hỗ trợ lẫn nhau.
- Tính khác biệt về phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực biên giới với các
nước láng giềng quyết định tính đa dạng, mô thức phát triển từng khu vực có
tính đặc thù, đây là một động lực kinh tế, thúc đẩy xu hướng dựa vào nhau, bổ
sung cho nhau để phát triển ở khu vực biên giới.
- Khu vực biên giới là phần đất liền giữa hai quốc gia. Nhu cầu khác nhau
giữa các địa phương, giữa các nước láng giềng được phản ánh trực tiếp ở khu
vực biên giới. Căn cứ vào nhu cầu thị trường nước láng giềng để sản xuất, cũng
như tổ chức các nguồn hàng nội địa nhằm phát triển quan hệ thương mại. Như
thời cũng là đặc trưng cơ bản của thương mại qua biên giới. 12
Rõ ràng quan hệ thương mại qua biên giới vừa mang tính chất chung của
thương mại quốc tế, và nó còn có đặc trưng khác so với thương mại quốc tế. Quan
hệ thương mại qua biên giới là hình thức đặc thù của thương mại quốc tế.
1.1.4. Hình thức của quan hệ thƣơng mại qua biên giới
Có hai hình thức thương mại qua biên giới:
Thứ nhất, thương mại tiểu ngạch biên giới (thường gọi là chợ biên giới),
chỉ thực hiện trong một phạm vi nhất định tại khu vực nối liền giữa hai nước, là
phương tiện để phát triển đời sống của cư dân hai bên biên giới. Cư dân hai bên
biên giới chỉ hoạt động ở thị trường đã chỉ định và địa điểm mở cửa mà Nhà
nước quy định, không được mua bán, giao lưu hàng hóa vượt quá hạn ngạch đã
quy định. Hai bên tiến hành hoạt động thương mại tiểu ngạch nói chung đều
hưởng ưu đãi về miễn giảm thuế và đơn giản hóa thủ tục hải quan. Hoạt động
trao đổi, buôn bán qua biên giới ở khu vực biên giới của mỗi nước đều được
Chính phủ nước đó duyệt và có phê quy chế riêng.
Thứ hai, địa phương khu vực biên giới hoạt động trao đổi, buôn bán hàng
hóa ở nơi nối liền giữa hai nước đã được Chính phủ phê chuẩn. Doanh nghiệp
địa phương được chỉ định tiến hành các hoạt động thương mại ở khu vực biên
giới, hàng hóa được sản xuất tại khu vực được trao đổi tại nơi nối liền hai nước.
Đây là một hình thái liên kết kinh tế thương mại giữa hai nước láng giềng nhằm
thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực biên giới, mở rộng lưu thông hàng hóa, phát
triển quan hệ với bên ngoài, giao lưu kinh tế kỹ thuật trong nước với nước ngoài,
biên giới và nội địa, mở ra con đường và thị trường phát triển ngoại thương mới.
1.2. Vai trò của quan hệ thƣơng mại qua biên giới
Về mặt lý thuyết, nhu cầu trao đổi hàng hóa xuất hiện từ thời cổ đại nhưng
chỉ từ khi ra đời nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa mới dẫn đến sự phá vỡ
tính chất khép kín của từng đơn vị kinh tế trong từng quốc gia. Ngoại thương hay
ngành bổ trợ cho lĩnh vực này cũng phát triển từ đó đem lại lợi ích kinh tế cao. 14
Phát triển quan hệ thương mại qua biên giới giữa Việt Nam và Trung
Quốc góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại
lao động xã hội, tạo thêm những ngành nghề mới, góp phần giải quyết việc làm
không chỉ ở các tỉnh biên giới mà cả ở các tỉnh kế cận.
1.2.2. Vai trò đối với Việt Nam
Trung Quốc là nước láng giềng “núi liền núi, sông liền sông” với Việt
Nam, có nền kinh tế quy mô lớn tăng trưởng mạnh. Sự phát triển kinh tế của
Trung Quốc có ảnh hưởng rất lớn tới Việt Nam thông qua hoạt động thương mại
qua biên giới hay còn gọi là biên mậu giữa hai nước. Cụ thể:
* Thúc đẩy nông nghiệp và nông thôn
Từ khi chính thức bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm
1991 đến nay, việc giao lưu kinh tế trong nông nghiệp đã phát triển và đạt một số
thành quả: tăng trao đổi hàng hóa nông lâm hải sản với Trung Quốc, vì đây là thị
trường tiêu thụ nhiều sản phẩm nông lâm hải sản… Giá cả trên thị trường này
tuy không ổn định nhưng nhiều khi và nhiều sản phẩm có giá cao hơn thị trường
quốc tế khác chẳng hạn như nguyên liệu cao su. Trung Quốc là thị trường khá dễ
tính, không đòi hỏi chất lượng quá cao nên có tác dụng quan trọng trong sản xuất
nông lâm nghiệp và xuất khẩu ở phía ta. Chúng ta đã nhập được nhiều thiết bị,
vật tư, giống cây trồng vật nuôi cần thiết cho nông nghiệp, một số sản phẩm có
hiệu quả và năng suất phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và trình độ sản xuất
nông nghiệp Việt Nam. Hơn thế nữa phần lớn việc trao đổi này không đòi hỏi
ngoại tệ mạnh, thời gian mua bán nhanh chóng, thuận tiện cho việc đưa sản
phẩm vào sử dụng.
* Thúc đẩy phát triển công nghiệp và xây dựng
Trong cơ cấu hàng hóa trao đổi với Trung Quốc thì sản phẩm về máy móc,
thiết bị, hóa chất, các phương tiện vận tải, công nghệ phục vụ cho một số lĩnh vực
đường ra cửa khẩu đến các xã biên giới tuy giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, 16
song đã được cải thiện một bước, góp phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế - xã
hội của các tỉnh biên giới phía Bắc.
Với sự nỗ lực của ngành đường sắt cả hai nước Việt Nam và Trung Quốc,
vận tải liên vận hàng hóa và hành khách bằng đường sắt, những năm qua đã
thông qua 2 tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh và Hà Nội – Đồng
Đăng – Bằng Tường. Năng lực vận tải đường sắt chưa được phát huy đáng kể do
vấn đề giá cả, thủ tục giao nhận hàng hóa, thủ tục xuất nhập cảnh chưa được cải
tiến cho phù hợp hơn và hấp dẫn hơn nhưng rõ ràng có thể khẳng định rằng nhu
cầu vận tải đường sắt liên vận quốc tế là rất lớn
Nếu khai thác được nhu cầu đó, lại xây dựng được các tuyến đường sắt
chạy từ các tỉnh phía Nam Trung Quốc, đến cảng Hải Phòng của Việt Nam thì cả
hai bên đều cùng có lợi về nhiều mặt. Đường bộ, đường biển do chúng ta đã thực
hiện được hiệp định về thủ tục qua lại, điểm đậu và thủ tục giao nhận hàng hóa
nên đã phát huy được tốt hơn các khả năng vận tải.
Về thông tin liên lạc, ngành bưu chính viễn thông đã phát triển nhanh nhờ
một phần tác động của mở rộng buôn bán biên giới và ngược lại, ngành bưu
chính viễn thông đã góp phần tích cực thúc đẩy giao lưu kinh tế và làm sôi động
thêm thị trường vùng biên giới phía Bắc.
* Về thu ngân sách trên địa bàn
Từ sau khi hai nước Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ,
lượng hàng hóa trao đổi giữa hai nước ngày càng phát triển về số lượng và chất
lượng. Giá trị thuế xuất nhập khẩu ngày càng tăng qua các năm, cụ thể như là
trong tổng số thu ngân sách các tỉnh biên giới phía Bắc, tỷ trọng của thuế xuất
nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao, điều này cho thấy vai trò quan trọng của việc mua
bán trao đổi hàng hóa giữa hai nước. Năm 1991 tỷ trọng thuế xuất nhập khẩu
chiếm 30,30% tổng thu ngân sách, năm 1994 đã lên 55,06% và những năm qua
phận nhân dân được cải thiện một cách rõ rệt. Nhiều tỉnh vùng biên giới đang 18
hình thành những thị trấn, trung tâm cụm xã như những điểm giao lưu kinh tế -
xã hội. Hệ thống chợ vùng biên phát triển phong phú, đa dạng, cơ sở hạ tầng
được nâng cấp sửa chữa, đời sống văn hóa, tinh thần được cải thiện, bộ mặt nông
thôn miền núi được đổi mới.
1.3.Chính sách biên mậu của hai nƣớc Việt Nam và Trung Quốc
Chính sách biên mậu của từng quốc gia là nhân tố trực tiếp ảnh hưởng tới
quan hệ biên mậu với các nước láng giềng.
1.3.1. Chính sách biên mậu của Trung Quốc
Chính sách quản lý thương mại biên giới của Trung Quốc đã được quy
định tại thông báo số 2 năm 1996 của Quốc vụ viện Trung Quốc về các vấn đề
liên quan đến thương mại biên giới, nội dung chủ yếu của chính sách:
- Tăng cường tính tự chủ cho các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp biên
mậu được khuyến khích mạnh buôn bán biên mậu.
- Tăng cường tự chủ cho các tỉnh biên giới thông qua quyền tự trị dân tộc.
Các tỉnh biên giới được khẳng định quyền độc lập buôn bán của mình.
Trừ các sản phẩm điện tử, thuốc lá, mỹ phẩm, rượu, chính sách thuế ưu
đãi đối với các công ty biên mậu áp dụng từ tháng 4/1991 giảm 50% thuế cho
các hàng hóa buôn bán qua biên giới. Ngoài ra, khi có hàng hóa nhập khẩu qua
biên giới, nếu đem bán lại cho các công ty nội địa được áp dụng chế độ khấu trừ
thuế. Việc buôn bán biên mậu được khuyến khích nhiều hơn thông qua Thông tư
02 của Quốc Vụ viện Trung Quốc ban hành ngày 03/01/1996.
- Với một hệ thống nhất quán, để thực hiện thành công chiến lược “biên
giới mềm”, mọi hoạt động thương mại biên giới được chỉ đạo tập trung, thống
nhất vào một cơ quan đầu mối là “Ban biên mậu” có đầy đủ quyền hạn để quản
lý, chỉ đạo toàn bộ các hoạt động có liên quan đến biên giới, buôn bán và qua lại
biên giới, kể cả với việc Marketing, sắp xếp đầu mối kinh doanh, thu thuế…Đối