Luận văn " Quan hệ mậu dịch biên giới giữa Việt Nam và các nớc giáp ranh " potx - Pdf 12

Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thanh Vân – A13-K38D 1 KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài: Quan hệ mậu dịch biên giới
giữa Việt Nam và các nớc giáp ranh Sinh viên thực hiện: Hoàng Thanh Vân – A13K38D
Giáo viên hớng dẫn: PGS. NGƯT. Vũ Hữu Tửu

Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thanh Vân – A13-K38D 2

MỤC LỤC
T
rang
Lời mở đầu 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN MẬU DỊCH BIÊN GIỚI GIỮA
VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC GIÁP RANH 4

2.2.1.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu 19
2.2.1.2. Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu 21
2.2.1.3. Các cửa khẩu chính biên giới Viêt – Trung 25
2.2.2. Giữa Việt Nam và Campuchia 32
2.2.2.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu 32
2.2.2.2. Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu 35
2.2.2.3. Các cửa khẩu chính 38
2.2.3. Giữa Việt Nam và Lào 41
2.2.3.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu 41
2.2.3.2. Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu 43
2.2.3.3. Các cửa khẩu chính 48
2.2.4. So sánh hiệu quả, quy mô hoạt động mậu dịch biên giới của ba thị
trường Trung Quốc, Lào, Campuchia với Việt Nam. 50
2.3. Đánh giá hiệu quả của mậu dịch biên giới 52
2.3.1. Những tác động tích cực của mậu dịch biên giới 52
2.3.1.1. Buôn bán qua biên giới có tác động tương hỗ, thúc đẩy các hoạt
động kinh tế trong nước phát triển. 52
2.3.1.2. Mậu dịch biên giới làm thay đổi bộ mặt kinh tế – xã hội – văn
hoá vùng biên 53
2.3.1.3. Góp phần tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, tạo
điều kiện giữ gìn an ninh biên giới. 58
2.3.2. Những mặt hạn chế cần khắc phục 59
2.3.2.1. Hạn chế về cơ chế chính sách 59
2.3.2.2. Hạn chế về vấn đề thanh toán 60
2.3.2.3. Hạn chế về vấn đề quản lý của Nhà nước đối với hoạt động
thương mại qua biên giới. 61
2.3.2.4. Những tiêu cực và tệ nạn xã hôi. 63
2.3.2.5. Ảnh hưởng đến môi trường sinh thái 64
2.3.2.6. Buôn lậu và gian lận thương mại. 66
2.3.2.7. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn nhiều yếu kém 67

nguồn nhân lực và xúc tiến thương mại. 86
3.3.2. Các giải pháp đối với doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác 87
3.3.2.1. Nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh 87
3.3.2.2. Xây dựng chiến lược chiến lược xuất khẩu và chiến lược mặt
hàng 88
3.3.2.3. Tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường và xúc tiến thương
mại 89
3.3.2.4. Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý doanh nghiệp 90
3.3.2.5. Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý doanh nghiệp 91
Kết luận 92
Danh mục tài liệu tham khảo

Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thanh Vân – A13-K38D 5

Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thanh Vân – A13-K38D 6
LỜI MỞ ĐẦU

I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế là
một yêu cầu tất yếu khách quan đối với tất cả các quốc gia trên thế giới. Nó đòi
hỏi các quốc gia muốn phát triển, lớn mạnh hơn phải không ngừng tăng cường
hợp tác và giao lưu kinh tế với nước ngoài. Những năm gần đây, Đảng ta đã chủ
trương “làm bạn với tất cả các nước”. Đặc biệt với những nước láng giềng có
chung đường biên giới với Việt Nam (Trung Quốc, Lào, Campuchia), Đảng
khẳng định quyết tâm thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, thực hiện
tự do hoá thương mại… coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với
các nước láng giềng.
Thực hiện chủ trương trên, những năm qua, quan hệ kinh tế thương mại

dịch biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, Lào, Campuchia.
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Phạm vi nghiên cứu của khoá luận chỉ tập trung vào lĩnh vực thương mại
hàng hoá (xuất, nhập khẩu hàng hoá). Các lĩnh vực khác như thương mại dịch
vụ, sở hữu trí tuệ đầu tư chỉ được đề cập tới dưới góc độ có liên quan và hỗ trợ
cho hoạt động mậu dịch biên giới.
Ngoài ra, khoá luận chỉ đề cập đến quan hệ thương mại hàng hoá giữa Việt
Nam với các nước có chung đường biên giới trên bộ là Trung Quốc, Lào,
Campuchia chứ không nói đến quan hệ mậu dịch với các nước có đường biên
giới trên biển như Thái Lan, Indonesia, Malaisia.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoá luận là phương pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, phương pháp cụ thể là phương pháp chuyên gia, tiếp cận
hệ thống, điều tra điển hình, phân tích, lượng hoá, so sánh cũng như biện luận
một cách logic các vấn đề nghiên cứu đề xuất.
V. BỐ CỤC CỦA KHOÁ LUẬN
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thanh Vân – A13-K38D 8
Nội dung cơ bản của khoá luận gồm ba chương
- Chương 1: Cơ sở lý luận của việc phát triển mậu dịch biên giới giữa Việt
Nam và các nước giáp ranh.
- Chương 2: Thực trạng mậu dịch biên giới giữa Việt Nam và các nước
giáp ranh.
- Chương 3: Triển vọng và một số giải pháp nhằm phát triển mậu dịch
biên giới giữa Việt Nam và các nước giáp ranh.
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thanh Vân – A13-K38D 9
CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN MẬU DỊCH BIÊN GIỚI

tính chất đặc thù, nó được hình thành sớm nhất từ nhu cầu tự nhiên về trao đổi
hàng hoá của dân cư các khu vực dọc biên giới tới các chợ biên giới, mậu dịch
biên giới dần dần phát triển thêm các hình thức trao đổi khác trên cơ sở phát
triển của kinh tế hàng hoá. So với mậu dịch quốc tế, mậu dịch biên giới có
những đặc trưng riêng về phạm vi, quy mô và phương thức hoạt động trao đổi
hàng hoá. Tuy nhiên cũng như mậu dịch quốc tế nói chung, mậu dịch biên giới
biểu hiện phân công lao động giữa hai nước.
Những năm gần đây, nhiều nước trên thế giới đã xây dựng những chính
sách khuyến khích mậu dịch biên giới. Sự hình thành các khu vực mậu dịch tự
do như NAFTA, EU với chính sách mở cửa biên giới, hình thành các khu vực
mậu dịch tự do dọc theo biên giới với các chính sách ưu đãi đã tạo điều kiện
hình thành các đặc khu kinh tế phát triển phồn thịnh ở các địa phương trên khu
vực biên giới. Xu hướng hình thành các khu kinh tế mở cũng phát triển nhanh
chóng ở các nước đang phát triển, phạm vi khu vực biên giới ngày càng mở rộng
, hình thức mậu dịch được đa dạng hoá, quy mô cũng ngày càng tăng nhanh.
Việt Nam và các nước láng giềng cũng không nằm ngoài xu thế chung đó.
Với mối quan hệ có truyền thống lâu đời, vị trí địa lý của khu vực biên giới
thuận lợi và những nét tương đồng trong phong tục tập quán, các hoạt động giao
lưu kinh tế, thương mại, văn hoá được hình thành từ lâu giữa Việt Nam và các
nước này như một tất yếu không thể thiếu trong lịch sử phát triển của các bên.
Đặc biệt là hiện nay, Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên của Diễn đàn
hợp tác Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Việt Nam, Lào, Campuchia đều là
thành viên của ASEAN, và mới đây, Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện
ASEAN – Trung Quốc sẽ dẫn đến việc thành lập khu vực thương mại tự do giữa
các thành viên ASEAN và Trung Quốc (ACFTA) vào năm 2010 và chậm hơn
đối với các thành viên ra nhập sau (Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanma). Như
vậy, việc tự do lưu chuyển hàng hoá giữa Việt Nam và các nước láng giềng qua
biên giới là một tất yếu không thể thiếu nhằm thực hiện tự do hoá thương mại và
đầu tư trong khoảng thời gian tới.
Khoá luận tốt nghiệp

Tóm lại, phát triển mậu dịch biên giới không chỉ phù hợp với xu thế phân
công lao động quốc tế mà còn là đòi hỏi bên trong của sự phát triển kinh tế ở
khu vực biên giới mỗi nước.
1.1.3. Đặc điểm của mậu dịch biên giới giữa Việt Nam và các nước
Hoạt động thương mại hàng hoá qua biên giới trên bộ là một bộ phận của
hoạt động thương mại quốc tế, cho nên nó mang đầy đủ các đặc điểm chung của
hoạt động thương mại quốc tế. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù nên mậu dịch
biên giới còn có những đặc điểm riêng, bao gồm những đặc điểm cơ bản như:
1.1.3.1. Cơ cấu, phẩm chất hàng hoá trao đổi tại khu vực biên giới đa dạng, phức
tạp và có tính linh hoạt cao.
Cơ cấu hàng hoá trao đổi qua biên giới Việt Nam thời gian qua rất phong
phú, bao gồm nhiều chủng loại khác nhau, từ hàng nông lâm thuỷ sản đến, hải
sản tươi sống đến các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp, từ hàng
nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất đến các sản phẩm cao cấp như máy móc
thiết bị điện tử. Điều này xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng của tầng lớp
dân cư dọc biên giới và các tỉnh sâu trong nội địa của từng nước.
Các loại hàng hoá này không phải chỉ được huy động từ dân cư sống dọc
biên giới mà được huy động và đầu tư sản xuất từ khắp các tỉnh, các vùng, miền
của mỗi nước. Vì vậy chất lượng của các loại hàng hoá cũng rất khác nhau, có
loại đạt tiêu chuẩn quốc gia và địa phương, nhưng cũng có loại chưa được đánh
giá về phẩm cấp, nhất là hàng hoá xuất nhập khẩu theo đường tiểu ngạch và trao
đổi ở chợ biên giới. Đặc biệt, hoạt động xuất nhập khẩu tại các cửa khẩu biên
giới có thể mua bán những mặt hàng có thời gian bảo quản ngắn, dễ hư hỏng
hoặc suy giảm chất lượng như hàng rau quả và thực phẩm tươi sống.
1.1.3.2. Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới được tiến hành thông
qua nhiều phương thức khác nhau.
Thương mại biên giới giữa Việt Nam và các nước thời gian qua chủ yếu
thông qua mấy hình thức sau đây:
- Mậu dịch chính ngạch
Khoá luận tốt nghiệp

Hoàng Thanh Vân – A13-K38D 14
Ngoài các hình thức nêu trên, ở khu vực biên giới Việt – Trung còn có các
hoạt động dịch vụ xuất nhập khẩu như: Tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, quá
cảnh,kho ngoại quan… trong đó phương thức tạm nhập tái xuất phát triển khá
nhanh.

1.1.3.3. Chủ thể tham gia hoạt động mậu dịch biên giới đa dạng, thuộc nhiều thành
phần kinh tế trong cả nước.
Chủ thể tham gia vào hoạt động buôn bán qua biên giới tương đối đa dạng,
bao gồm nhiều thành phần khác nhau như: Doanh nghiệp Nhà nước, doanh
nghiệp tư nhân, công ty cổ phần…thuộc nhiều ngành, nhiều địa phương trong cả
nước. Ngoài ra, tham gia trao đổi hàng hoá qua biên giới còn có các hộ buôn bán
nhỏ, tư thương trong và ngoài nước, các cư dân dọc biên giới hai nước mua bán
phục vụ tiêu dùng thực tế duới hình thức dân gian.
Đặc điểm nổi bật trong các đối tượng tham gia là kim ngạch xuất nhập khẩu
của các doanh nghiệp Nhà nước chỉ chiếm từ 25 – 40 % tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu qua biên giới, còn lại là của các doanh nghiệp tư nhân và tư thương.
Tuy nhiên, có nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia nhưng
thiếu sự tổ chức và phối hợp nên dễ bị rủi ro, làm giảm hiệu quả của mậu dịch
biên giới đồng thời gây khó khăn cho công tác quản lý.
1.1.3.4. Phương thức thanh toán trong mậu dịch biên giới khá linh hoạt.
Trong mua bán quốc tế, để hạn chế các rủi ro có thể xảy ra, các doanh
nghiệp thường tiến hành thanh toán thông qua hệ thống ngân hàng với các
phương thúc thanh toán như: Phương thức chuyển tiền, phương thức nhờ thu,
phương thức tín dụng chứng từ. Tuỳ vào quy mô và tính chất của thương vụ mà
người ta chọn phương thức thanh toán cho phù hợp để đảm bảo an toàn cho quá
trình thanh toán với chi phí thấp và thường chọn ngoại tệ mạnh để làm đồng tiền
thanh toán nhằm hạn chế rủi ro khi tỷ giá hối đoái thay đổi theo thời gian.
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thanh Vân – A13-K38D 15

chuẩn như các thị trường tiêu thụ khác.
- Hàng hoá đem ra trao đổi, mua bán rất phong phú về số lượng, chủng
loại và chất lượng. Thậm chí, nếu nhìn vào đó có thể thấy nó mang tính chất
“chợ” nhiều hơn là tính “ngoại thương”.
- Phương thức tiến hành thương mại bao gồm cả giao hàng, thanh toán,
vận chuyển…cũng rất linh hoạt và mang tính chất đặc thù, chưa tuân theo chuẩn
mực của thương mại quốc tế nên đã dẫn đến hiện tượng lừa gạt nhau, bắt giữ
hàng hoá của nhau.

1.2. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN MẬU DỊCH BIÊN GIỚI
Trong sự phát triển các hình thức buôn bán qua biên giới, thực tiễn đã ghi
nhận nhiều tác động tích cực của nó tới sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia,
nhưng cũng đồng thời nhắc đến các tệ nạn xã hội, cướp bóc, xung đột biên giới,
các dịch bệnh…Đó chính là bài học quý giá cho thế hệ sau phải biết khai thác
mặt tích cực, có cơ chế chính sách phù hợp nhằm phát huy hiệu quả của mậu
dịch biên giới đồng thời hạn chế những mầm mống tiêu cực có thể xuất hiện,
gây tác hại về mặt kinh tế xã hội đối với đất nước.
1.2.1. Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan được xem là một trong những quốc gia khai thác được nhiều lợi
thế trong trao đổi kinh tế – thương mại cửa khẩu biên giới. Có thể thấy rằng,
thông qua việc khai thác lợi thế thương mại cửa khẩu biên giới, hàng hoá của
Thái Lan đã xâm nhập rất mạnh sang các nước láng giềng.
Thương mại hàng hoá qua biên giới của Thái Lan được hiểu là hoạt động
mua bán, giao dịch hàng hoá tại các cửa khẩu biên giới của nước này cùng các
nước láng giềng với sự tham gia của các doanh nghiệp hoặc cư dân địa phương
dọc biên giới. Mậu dịch biên giới của Thái Lan tồn tại dưới hai hình thức chủ
yếu: Mậu dịch chính ngạch và mậu dịch tiểu ngạch trong đó rất ưu tiên phát
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thanh Vân – A13-K38D 17
triển xuất nhập khẩu tiểu ngạch. Hàng mậu dịch phi chính thức của Thái Lan

dài 2,2 vạn kilômét đường biên giới, Trung Quốc rất chú trọng việc phát triển
kinh tế biên mậu, coi mở cửa miền biên giới sau khi mở của miền duyên hải là
một bước quan trọng của việc mở rộng cửa đối với nước ngoài. Trên cơ sở đó,
các cửa khẩu biên giới trên bộ của Trung Quốc được khuyến khích phát triển
quan hệ kinh tế thương mại , lấy đa dạng hoá thương mại làm khởi điểm để tích
luỹ phát triển hạ tầng đô thị biên giới. Xây dựng và mở rộng phạm vi hoạt động
của một số xí nghiệp công nghiệp địa phương một cách năng động linh hoạt
hướng mạnh về lắp ráp , sơ chế, bảo quản …tạo ra nhiều chủng loại hàng hoá
phù hợp với nhu cầu trao đổi hàng hoá chính ngạch và tiểu ngạch qua biên giới,
qua đó nhằm thực hiện “tam khứ nhất bổ”, tức là xuất khẩu ba thứ: hàng hoá, lao
động và thiết bị kỹ thuật để lấy về một thứ bổ là mặt hàng thiếu và khan hiếm.
Với chính sách này, Trung Quốc đã thực hiện tương đối thành công việc phát
triển thành công kinh tế biên mậu.Sau đây là một số kinh nghiệm điển hình:
* Kinh nghiệm về chính sách biên mậu
- Mọi hoạt động mậu dịch biên giới được quản lý thống nhất từ trung ương
đến địa phương
- Khu vực biên giới có giới hạn không gian rõ ràng
- Khuyến khích xuất nhập khẩu tiểu ngạch bằng các chính sách ưu đãi
- Ưu tiên phát triển khu thương mại, du lịch, dịch vụ tại các vùng cửa khẩu
biên giới.
- Địa phương được hưởng một số khoản thu qua các hoạt động mậu dịch
biên giới để đầu tư phát triển.
- Mở rộng quyền tự chỉ cho các địa phương biên giới tự quyết định các
hạng mục đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phát triển kinh tế khu vực, chính sách
về quản lý biên mậu.
* Kinh nghiệm về quản lý xuất nhập khẩu
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thanh Vân – A13-K38D 19
- Trừ một số mặt hàng như thuốc lá, rượu, mỹ phẩm, đồ trang sức…, hàng
hoá nhập khẩu tiểu ngạch được giảm 50% thuế so với chính ngạch. Đặc biệt tại

giới hai nước, khai thác những điểm hạn chế về thuế quan để thu lợi cho mình.
Hơn nữa, Mỹ và Canada đã phối hợp xây dựng hàng loạt các xí nghiệp gia công,
chế tác theo hình thức liên doanh trên tuyến biên giới. Một số nước khác cũng
sử dụng hình thức này như quan hệ Mêhicô và Mỹ, với nhiều thị trường tự do
được xây dựng, trong đó có những ưu đãi về cơ chế chính sách, thuế và mậu
dịch, tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ kinh tế – thương mại qua cửa khẩu biên
giới.
Đối với các nước Tây Âu, có đặc điểm về lãnh thổ là các nước tiếp giáp
nhau có khoảng cách qua lại gần. Trên cơ sở những chính sách chung của khối
EEC, nhiều quốc gia đã xây dựng những chính sách nhằm phối hợp chặt chẽ hơn
về kinh tế và thương mại. Năm 1992, theo thống kê của Cộng đồng chung châu
Âu, kim ngạch buôn bán biên giới tăng 550 tỉ Mác Đức so với năm 1980. Nước
Pháp, một nền kinh tế phát triển mạnh ở châu Âu cũng chủ trương khai thác
những thế mạnh trên các tuyến biên giới trong trao đổi kinh tế – thương mại.
Pháp đã xây dựng nhiều khu kinh tế mở ở biên giới phía Đông, biến khu vực
này thành trung tâm kinh tế phát triển.
1.2.4. Một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Kinh nghiệm thành công của một số quốc gia, vùng, lãnh thổ về phát triển
các khu kinh tế cửa khẩu cho thấy:
- Sự thành công trước hết bắt nguồn từ sự nhạy cảm, đón trước xu hướng
phát triển kinh tế, xu hướng hội nhập với khu vực và quốc tế, từ đó đưa ra được
mô hình kinh tế cụ thể, năng động, không dập khuôn, máy móc.
- Quy mô của các mô hình kinh tế cụ thể tuỳ thuộc vào khả năng, các điều
kiện đảm bảo và các môi trường khác. Hơn nữa, trong quá trình hình thành và
phát triển các loại hình kinh tế này, cần phải đặt lợi ích về lâu dài, tổng thể lên
trên lợi ích trước mắt, lợi ích cục bộ để tránh tình trạng manh mún, chắp vá, lợi
Khoá luận tốt nghiệp
Hoàng Thanh Vân – A13-K38D 21
cho địa phương trước mắt nhưng hại cho nền kinh tế trước mắt và lâu dài.Các cơ
chế, chính sách thí điểm ở đây phải đảm bảo tính linh hoạt nhưng nhất quán

- Hiệp định Thương mại
- Hiệp định hợp tác kinh tế
- Hiệp định thanh toán và hợp tác giữa ngân hàng hai nước
- Hiệp định Hiệp định về quá cảnh hàng hoá
- Các Hiệp định về Bưu điện, Hàng hải, Hàng không, Đường sắt
- Hiệp định về về thành lập Uỷ ban hợp tác kinh tế thương mại Việt Nam –
Trung Quốc
- Hiệp định về đảm bảo chất lượng hàng hoá xuất nhập khẩu và công nhận
lẫn nhau
- Hiệp định về mua bán hàng hoá ở vùng biên giới v.v…
Ngoài các Hiệp định nêu trên, Chính phủ và và các Bộ, ngành liên quan
còn ban hành nhiều Nghị định, Quyết định, chỉ thị nhằm hướng dẫn, triển khai
và bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách đối với hoạt động mậu dịch biên giới
giữa hai nước.
Ngoài ra, Chính phủ còn cho phép Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai, Cao
Bằng được áp dụng chính sách đối với khu kinh tế cửa khẩu. Bộ Thương mại đã
ban hành quy chế tạm thời về việc tổ chức quản lý chợ biên giới Việt – Trung,
quy chế về cửa hàng kinh doanh miễn thuế.
2.1.2. Chính sách phát triển mậu dịch biên giới giữa Việt Nam và Lào
Việt Nam và Lào đã ký nhiều thoả thuận về hợp tác kinh tế thương mại giữa
hai nước: Hiệp định thương mại cho giai đoạn 1991 – 1995. Hiệp định về hợp
tác kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật, Hiệp định về hàng hoá của Lào quá
cảnh vào lãnh thổ Việt Nam, Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần, Hiệp định về
trao đổi hàng hoá của cư dân khu vực biên giới, Hiệp định thương mại, thoả
thuận Cửa Lò và nhiều thoả thuận song phương khác… tạo cơ sở pháp lý cho
hợp tác và giao lưu kinh tế, thương mại giữa hai nước phát triển mạnh. Bên cạnh
đó, các Bộ, Ngành chức năng cũng ban hành các văn bản pháp quy, hình thành
khuôn khổ pháp lý cho hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động xuất
nhập khẩu qua biên giới nói riêng.
Khoá luận tốt nghiệp

Hoàng Thanh Vân – A13-K38D 24
Chính phủ Việt Nam còn ban hành Nghị định về Quy chế biên giới trong đó
quy định các vấn đề liên quan đến việc cư trú và đi lại, ra vào của các cư dân
khu vực biên giới cũng như các đối tượng liên quan đến hoạt động trao đổi hàng
hoá qua biên giới.
Tiếp đó, Bộ thương mại đã ban hành quy chế tổ chức và quản lý chợ biên
giới nhưng chưa có các chính sách đầu tư phát triển chợ biên giới. Quy chế chợ
biên giới còn chung chung, chưa cụ thể và còn nhiều bất cập.
Để tạo điều kiện cho hoạt động mậu dịch biên giới tại các cửa khẩu, Thủ
tướng Chính phủ đã ra quyết định về việc áp dụng một số chính sách thí điểm tại
cửa khẩu Mộc Bài và Hà Tiên, quyết định này đã mang lại một số thành công tại
2 cửa khẩu trên và cần được nhân rộng ra các cửa khẩu khác.
2.2. TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ QUA BIÊN GIỚI GIỮA VIỆT
NAM VÀ CÁC NƯỚC GIÁP RANH.
2.2.1.Giữa Việt Nam và Trung Quốc
Việt Nam và Trung Quốc có chung đường biên giới trên bộ dài 1350 km
trải dài từ Đông sang Tây chạy qua 6 tỉnh của Việt Nam (Quảng Ninh, Lạng
Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu). Dân số của cả 6 tỉnh là 4, 07
triệu người, chiếm 2% dân số trên toàn quốc, tổng diện tích là 55.684 km
2
chiếm
16,8% diện tích toàn lãnh thổ. Mặc dù có địa hình phức tạp, với 80% là vùng núi
cao, rừng rậm… nhưng đây là khu vực có nhiều tài nguyên, khoáng sản, có khả
năng phát triển lâm, nông nghiệp, năng lượng và các ngành kinh tế khác.
Hai tỉnh của Trung Quốc giáp với Việt Nam là Quảng Tây và Vân Nam.
Dân số 2 tỉnh là 89,05 triệu người, chiếm 7% dân số toàn quốc, tổng diện tích là
620 nghìn km
2
, chiếm 6,5% diện tích toàn quốc.Trong đó, Quảng Tây là tỉnh
miền núi phía Nam của Trung Quốc tiếp giáp với 3 tỉnh của Việt Nam là Lạng

Tổng kim ngạch Xuất khẩu Nhập khẩu
Năm

Trị giá
Tốc độ
tăng(%)
Trị giá
Tốc độ
tăng(%)
Trị giá
Tốc độ
tăng(%)
Cán cân
thương mại
1991

37,7

-

19,3

-

18,4

-

0,9


50,3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status