THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ - THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ INDONESIA - Pdf 63

Thực trạng Quan hệ kinh tế - thơng mại giữa Việt
Nam và Indonesia
2.1 Lịch sử quan hệ ngoại giao Việt Nam - Indonesia
2.1.1 Quan hệ ngoại giao VIệt nam - Indonesia từ khi thiết lập
quan hệ ngoại giao chính thức đến nay
Indonesia và Việt Nam là hai nớc có nhiều điểm tơng đồng, láng giềng gần gũi.
Mối quan hệ giữa hai nớc có truyền thống lâu đời do cố chủ tịch Hồ Chí Minh và cố
Tổng thống Sukarno dày công vun đắp và đợc nhân dân hai nớc bảo vệ và phát triển.
Việt Nam và Indonesia thiết lập quan hệ ở cấp tổng lãnh sự từ năm 1955, chính thức
nâng lên hàng đại sứ - thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức ngày 15-08-1964. Từ đó
đến nay, quan hệ giữa hai nớc tuy có trải qua nhiều thăng trầm nhng nhìn chung tốt đẹp.
Từ năm 1990 cùng với vấn đề Campuchia đợc giải quyết quan hệ giữa Indonesia
và Việt Nam đã phát triển theo chiều hớng đi lên. Indonesia còn là nớc đầu tiên ở Đông
Nam á và Nam Thái Bình Dơng vợt qua vấn đề về Campuchia, đi đầu trong việc thúc
đẩy sự hợp tác của các nớc với Việt Nam. Từ mối quan hệ láng giềng hữu nghị, quan hệ
hợp tác giữa hai nớc đợc mở rộng trên nhiều lĩnh vực.
Sự kiện quan trọng là vào cuối tháng 10 đầu tháng 11 năm 1991, đoàn đại biểu
cấp cao của Việt Nam do Thủ tớng Võ Văn Kiệt đứng đầu lần đầu tiên thăm một số nớc
Đông Nam á trong đó có Indonesia. Chuyến thăm này đã chấm dứt một thời kì đối đầu,
mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ giữa hai nớc. Tổng thống Suharto đã nói: "con
đờng hợp tác đang mở rộng trớc mặt chúng ta bao gồm tất cả các nớc trong khu vực".
Xuất phát từ quan điểm đó Indonesia đã tích cực ủng hộ Việt Nam gia nhập ASEAN,
nhằm xây dựng sự ổn định về mặt chính trị, thịnh vợng về kinh tế trong khu vực Đông
Nam á.
Kể từ năm 1995, sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN,
quan hệ Việt Nam - Indonesia ngày càng đợc củng cố và phát triển cả về chiều rộng lẫn
chiều sâu, và không chỉ trên cơ sở song phơng mà cả đa phơng theo tinh thần ASEAN.
Mấy năm qua, quan hệ hai nớc không chỉ trong lĩnh vực chính trị, kinh tế thơng
mại, đầu t, văn hoá, giáo dục, mà còn mở rộng sang cả quan hệ giữa hai quốc hội, và
hai bộ quốc phòng. Hai nớc đã trao đổi nhiều đoàn cấp cao thuộc hầu hết các ngành các
cấp. Trong 6 tháng đầu năm 1997, hai nớc đã trao đổi nhiều đoàn cấp cao thuộc hầu hết

2.2 Các văn bản, thoả thuận về hợp tác kinh tế
giữa Việt Nam - Indonesia
Tính đến 1997, hai nớc đã kí đợc 7 hiệp định và 6 bản thoả thuận hợp tác. Đến
năm 2002 hai nớc đã kí các Hiệp định thơng mại, Hiệp định hợp tác kinh tế, Hiệp định
khuyến khích về bảo hộ đầu t, Hiệp định về vận tải biển, Hiệp định về hàng không dân
dụng, Hiệp định về hợp tác lâm nghiêp, Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần, các hiệp
định về bu điện, Hiệp định văn hoá, Hiệp định khoa học công nghệ v..v.. tạo cơ sở pháp
lí thúc đẩy đầu t thơng mại giữa hai nớc. Uỷ ban hỗn hợp về hợp tác kinh tế giữa hai
chính phủ đợc thành lập do hai bộ thơng mại đồng làm chủ tịch. Hai bên đã cam kết
thúc đẩy các thoả thuận trong Uỷ ban hỗn hợp.
Đến tháng 06-2003 vừa qua nhân chuyến thăm của Tổng thống Indonesia, bà
Megawati Sukarnoputri đến Việt Nam, hai bên đã kí một loạt các thoả thuận, hiệp định
và biên bản ghi nhớ hợp tác giữa các bộ-ngành hai nớc nh.
- Hiệp định về phân định thềm lục địa.
- Hiệp định về miễn thị thực cho công dân hai nớc mang hộ chiếu phổ thông.
- Biên bản thoả thuận hàng đổi hàng.
- Các biên bản ghi nhớ về hợp toàn diện trên các lĩnh vực: gạo, cà phê .
- Các tuyên bố chung: Tuyên bố chung Việt Nam - Indonesia; Tuyên bố về khuôn
khổ hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam và Indonesia bớc vào thế kỉ 21- một văn
kiện quan trọng và có ý nghĩa lịch sử trong quan hệ giữa hai nớc.
2.3. Thực trạng phát triển quan hệ thơng mại
Việt Nam - Indonesia trong thời gian qua
Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Indonesia có truyền thống từ lâu nhng quan hệ
thơng mại giữa hai nớc chỉ thực sự khởi sắc từ sau năm 1990, đặc biệt là sau khi Mĩ bỏ
cấm vận với Việt Nam và Việt Nam gia nhập ASEAN.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu song phơng đã tăng lên không ngừng từ sau năm
1990 khi hai nớc đẩy mạnh hơn nữa quan hệ ngoại giao. Kim ngạch xuất- nhập khẩu từ
70 triệu USD năm 1990 đến năm 1993 tăng lên 250 triệu USD, năm 1996 là 495 triệu
USD. Đến năm 2002 kim ngạch buôn bán hai chiều giữa hai nớc đã lên tới 700 triệu
USD vào năm 2002 và trong 6 tháng đầu năm 2003 đã đạt 572 triệu tăng 47% so với

vì một số lí do đã giảm đáng kế nhng đang có dấu hiệu phục hồi.
Kim ngạch xuất khẩu năm 2001 đã tăng trở lại dù còn thấp
So với giai đoạn trớc khủng hoảng, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu đạt cao, nh-
ng sau khủng hoảng tài chính 1997 tốc độ này giảm xuống đáng kể. Nguyên nhân của
tình hình này chủ yếu là do đồng tiền của Indonesia đã bị phá giá mạnh do khủng
hoảng trong khi đồng Việt Nam lại tơng đối ổn định do vậy đã làm cho giá cả hàng hoá
của Việt Nam trở nên đắt hơn một cách tơng đối, ảnh hởng đến hoạt động xuất khẩu.
2.3.1.2 Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu sang Indonesia trong tổng số các mặt hàng
xuất khẩu của Việt Nam .
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Indonesia là nông sản,
khoáng sản, bên cạnh đó là hàng may mặc, . kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng
chủ yếu đến năm 1997 nh sau:
Bảng: 7 Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng sang Indonesia
Đơn vị: 1000 USD
Tên sản phẩm Năm 1994 1995 1996 1997
Than 156 287
Hàng may sẵn 112 304
Gạo 12016 32494 9580 13700
Ngô 3118
Lạc Nhân 15629 13615 12868 6824
Cà Phê 2248 143 2218
Chè 111
Nguồn: Quan hệ thơng mại Việt Nam-ASEAN và chính sách xuất nhập
khẩu của Việt Nam; NXB Chính trị quốc gia -1999
Cùng với sự phát triển của quan hệ thơng mại giữa hai nớc các mặt hàng tham
gia trao đổi cũng phong phú hơn. Các doanh nghiệp Việt Nam đã khai thác thêm đợc
nhiều mặt hàng để xuất khẩu sang Indonesia. Đến năm 2001 danh mục các mặt hàng
xuất khẩu sang Indonesia đã phong phú hơn rất nhiều (Xem bảng 8: các mặt hàng xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status